Trận Caen (1944)

Trận Caen là một trận đánh trong trận Normandie lớn hơn giữa quân đội Vương quốc Anh mà ở đây cụ thể là Tập đoàn quân số 2Cụm Tập đoàn quân Tây (Tiếng Đức: Panzergruppe West - Tập đoàn quân số 5 cũ) của Đức Quốc xã nhằm giành quyền kiểm soát Caen và các vùng lân cận. Trận đánh là diễn tiến của chiến dịch Neptune, tức cuộc đổ bộ vào ngày 6 tháng 6 năm 1944 (D-Day) của quân Đồng Minh. Caen nằm sâu 14 km tính từ bờ biển Calvado, dọc theo sông Ornekênh Caen, nằm án ngữ giữa một số tuyến đường sắt và đường bộ trong vùng. Do có nằm trên các tuyến đường liên lạc quan trọng nên Caen sớm trở thành một mục tiêu chiến lược đối với cả hai bên. Caen và khu vực phía Nam thành phố có địa hình tương đối mở và bẳng phẳng, khác biệt so với các vùng hành quân khác của chiến dịch Overlord, và phía không quân Đồng Minh yêu cầu giải phóng khu vực càng sớm càng tốt để có chỗ đặt thêm máy bay trên đất Pháp.

Trận Caen (1944)
Một phần của Trận Normandie
Battleforceanmapenglish.PNG
Bản đồ trận đánh
Thời gian 6 tháng 6 – 6 tháng 8 năm 1944
Địa điểm Normandy, Pháp
Tọa độ 49°11′10″B 0°21′45″T / 49,18611°B 0,3625°T / 49.18611; -0.36250
Kết quả Đồng Minh chiến thắng
Tham chiến
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Vương quốc Anh
 Canada
 Đức
Chỉ huy và lãnh đạo
Lực lượng
3 sư đoàn thiết giáp
11 sư đoàn bộ binh
5 lữ đoàn thiết giáp
3 lữ đoàn tăng
7 sư đoàn bộ binh
8 sư đoàn thiết giáp
3 tiểu đoàn tăng hạng nặng

Sư đoàn Bộ binh số 3 của Anh quốc là một trong những lực lượng Anh đầu tiên đổ bộ vào vùng bờ biển Normandy. Sư đoàn Anh quốc này hành quân với mục đích, hoặc tiến đánh Caen hoặc giữ Caen (nếu quân Đức ngăn cản việc chiếm thành phố) nằm trong tầm ngắm của quân Đồng Minh và đồng thời ngăn không cho quân Đức phản công từ thành phố. Vào những ngày đầu tiên của cuộc đổ bộ ở Normandy, quân Đồng Minh tập trung liên kết giữa các bờ biển với nhau và do đó không chiếm giữ một số đô thị trong vùng như Caen, Baydeux hay Carentan. Sau đó, khi các bờ biển đã được quân Đồng Minh nối thông với nhau, việc tiến đánh Caen được tiếp tục bằng các chiến dịch Chairnwoods (8–9 tháng 7), chiến dịch Alantic (18–20 tháng 7). Quân Đức cố gắng tập trung các sư đoàn thiết giáp của mình để phòng thủ thành phố, và điều này ngăn không cho quân Đức chi viện cho sườn phía Tây của vùng Normandy.

Đồng thời với cuộc tiến công của quân Anh, quân đoàn số 1 của Mỹ thực hiện các trận đánh nhằm chia cắt bán đảo Cotentin, rồi chiếm Cherbourg, rồi tiếp tục hành quân xuống phía Nam tới thành phố Saint-Lô nằm cách Caen 60km về phía Tây và chiếm được thành phố (19 tháng 7). Sau đó gần một tuần thì người Mỹ tiến hành chiến dịch Cobra tại giao lộ Saint-Lô–Périers, đồng thời cùng với cuộc tiến quân của các lực lương Canada trong chiến dịch Mùa Xuân (Operation Spring) tại cầu Verrières. Chiến dịch Cobra thành công đánh dấu sự sụp đổ của các lực lượng Đức tại Normandy và dẫn đến cuộc bao vây tại Falaise (12–21 tháng 8), cơ bản đánh quỵ Cụm quân đoàn phía Tây của Đức Quốc xã (Panzergruppe West), mở đường cho việc đánh chiếm Seine và Paris không lâu sau đó. Các cuộc không kích của không quân Đồng Minh nhắm vào Caen gây tàn phá dữ dội cho cơ sở hạ tầng của thành phố, gây thương vong cho cả bộ binh Đồng Minh lẫn nhiều dân thường Pháp mắc kẹt trong thành phố. Các cơ sở hạ tầng còn nguyên vẹn của thành phố thì còn rất ít sau trận đánh và phải đến năm 1962 thì việc khôi phục hạ tầng cho thành phố mới hoàn tất.

Bối cảnhSửa đổi

Chiến lược của quân AnhSửa đổi

Người Anh tham chiến từ năm 1939 chống lại quân đội Đức Quốc Xã để duy trì cân bằng quyền lực ở châu Âu lục địa. Tuy vậy, với sự nổi lên từ các siêu cường là Mỹ và Liên Xô, việc người Anh thuộc phe thắng trận đơn giản là không đảm bảo các mục đích của người Anh trong cuộc chiến. Vai trò của người Anh sau Thế chiến thứ hai chắc chắn sẽ không nhiều bằng Mỹ và Liên Xô, nhưng với việc duy trì được Tập đoàn quân số 21 (Anh Quốc), Anh hy vọng có thế sử dụng sư đòan cho để duy trì vị thế của Anh thời hậu chiến sau này. Tập đoàn quân trên dự kiến cũng sẽ tham chiến trong chiến dịch Downfall mà Đồng Minh dự định triển khai chống lại Đế quốc Nhật Bản. Nền kinh tế Anh chuyển hoàn toàn sang nền kinh tế phục vụ cho nhu cầu chiến tranh vào năm 1942, khi quân đội Anh bắt đầu thiếu hụt quân nhu trầm trọng. Với việc tránh được thương vong quân sự thì người Anh, môt mặt có thể bảo toàn được các sĩ quan có kinh nghiệm thực chiến, mặt khác duy trì được cho tinh thần cho binh sĩ luôn luôn ổn định và duy trì được quân số cho đến khi Đức bị đánh bại hoàn toàn. Với việc quân Đồng Minh mở lại mặt trận Tây Âu năm 1944, Tập đoàn quân số 21 giờ đây đối mặt với việc thiếu hụt viện binh trầm trọng, tạo một sức ép đáng kể lên nhuệ khí chiến đấu của các binh sĩ trong quân đoàn. Theo nhiều sĩ quan Canada và Anh đã từng chiến đấu trong thế chiến thứ nhất[a], việc tiến hành chiến dịch dưa trên ưu thế về công nghệ và hỏa lực sẽ khiến binh sĩ tránh được một trận chiến đẫm máu và kéo dài. Tuy vậy, liên quân Anh-Canada vẫn phải tiến quân một cách thận trọng khi họ phải đối đầu với quân Đức có trong tay các sư đoàn kỳ cựu được chỉ huy bởi các sĩ quan có nhiều kinh nghiệm.[1]

UltraSửa đổi

Tin tình báo thu thập được từ các bức điện tín của người Đức được mã hóa bởi máy Enigma được gán mật danh Ultra bởi Trường Mật mã và Thuật toán Trung ương Anh (GC&SC) tại Công viên Bletchley; cho đến năm 1943, các tin tình báo do chiến dịch Ultra cung cấp thường xuyên được xem xét và sau đó chuyển tới cho các sĩ quan cấp cao của quân Đồng Minh, trong khi đó người Đức vẫn không hề hay biết tới sự tồn tại của chiến dịch.[2] Việc biết được những thông tin về các kế hoạch phản công của quân Đức cũng như thành công trong việc đánh lừa của quân đội Đồng Minh đối với quân Đức là những thước đo đánh giá chính xác cho Ultra cùng với các nguồn tin tình báo khác. [3] Tháng 3 năm 1944, các thông tin giải mã được cho thấy người Đức đang chờ đợi một cuộc đổ bộ của quân Đồng Minh ở bất kỳ đâu trong toàn bộ phần bờ biển từ Na Uy cho đến biên giới với Tây Ban Nha. Ngày 5 tháng 3, Hải quân Đức Quốc xã cho rằng sẽ có tới 6 quân đoàn Đồng Minh được ném vào Na Uy, trong khi Fremde Heere West (FHW, Quân Đoàn Lê Dương phía Tây (Đức Quốc Xã)), 1 trong những cơ quan thuộc hệ thống tình báo của Bộ Tổng Tham mưu Đức dự đoán vùng nguy hiểm, nơi mà quân Đồng Minh đổ bộ lên, nằm trong vùng bờ biển từ Pas de Calais cho đến thung lũng Loire. Rundstedt dự đoán rằng sẽ có khoảng 20 sư đoàn đổ bộ vào khoảng đầu tháng 5, với vị trí đổ bộ nằm đâu đó giữa Boulogne và Normandy. Tuy vậy ông xác định được quân lực Đồng Minh có khả năng tập trung giữa hai cảng nước Anh là SouthamptonPortsmouth. Một cuộc tập trận chống đổ bộ được quân Đức thực hiện ở vùng bờ biển từ Bruges cho đến sông Loire, một cuộc tập trận khác thì diễn ra trên khoảng bờ biển dài 50 km từ Ouistreham cho tới Isigny. Vào mùng 1 tháng 6, FHW dự đoán rằng sẽ có một cuộc đổ bộ vào ngày 12 tháng 6 ở đâu đó ở trên Địa Trung Hải hoặc là ở vùng bờ biển khu vực Balkan.[4][b]

Kế hoạch OvellordSửa đổi

Tập đoàn quân số 2Sửa đổi

Chiến lược của quân ĐứcSửa đổi

Bức tường Đại Tây DươngSửa đổi

Việc chỉ huy các lực lượng phòng thủ ở mặt trận phía Tây được Hitler thực hiện thông qua OKW (Bộ Chỉ huy Tối cao Quân lực Đức). Việc xây dựng các công sự phòng thủ nằm tại các cảng biển đã được hoàn tất trong năm 1940 và cuộc đổ bộ của quân Đồng Minh tại Dieppe vào tháng 8 năm 1942 đã sớm chứng minh được hiệu quả của các công trình phòng thủ này với chỉ 600 quân Đức thương vong, còn quân Đồng Minh phải rút lui chỉ sau vài giờ chiến đấu.[6]Vào tháng 3 năm 1940, Hitler ban hành chỉ thị số 40, trong đó nêu rõ rằng nếu có một cuộc đổ bộ do quân địch tiến hành thì phải khiến địch thất bại ngay khi đang còn ở trên biển hoặc chi ít là ở trên bờ biển; vào tháng 11 1 năm sau đó, Hitler ra thêm chỉ thị số 50 yêu cầu tăng cường phòng thủ khu vực phía Tây lục địa châu Âu.[7]Rommel thì được chuyển từ mặt trận Ý sang để kiểm tra các công sự bờ biển. Sau đó, đến lượt Cụm Tập đoàn quân B được chuyển sang cũng từ mặt trận Ý để chỉ huy các Tập đoàn quân số 15 từ Antwerp, Bỉ chuyển sang Orne, Pháp và Tập đoàn quân số 7 từ Orne sang sông Loire, nhưng tập đoàn quân này chỉ được đóng trên một vùng bờ biển có chiều sau khoảng 9,7km. Xa hơn về phía Nam, Cụm Tập đoàn quân G gồm các tập đoàn quân số 1số 19 phòng thủ phần bờ biển Pháp bên phía Đại Tây Dương và vùng Địa Trung Hải.[8]Các lực lượng sâu hơn trong đất liền thì vẫn do Rundstedt chỉ huy nhưng cuối cùng thì các sư đoàn thiết giáp và bộ binh cơ giới hóa của Đức Quốc Xã lại bị chia ra cho Bộ Chỉ huy Tối cao Quân lực Đức đồng chỉ huy cùng với hai Cụm Tập Đoàn quân, còn Rundstedt chỉ còn chỉ huy có 3 sư đoàn trong Cụm Tập đoàn quân G.[7] Các công nhân dân sự từ Tổ chức Todt và binh lính xây dựng các Perlenschnur (Tạm dịch: Chuỗi hạt ngọc trai) - là các công sự bằng thép và bê tông có các mạng lưới hỏa lực nằm chồng lên nhau dựa trên các mạng lưới chống cự (Widerstandsnester) gồm các hỏa điểm (Stüzpunkter) và các nhóm hỏa điểm mạnh (Stützpunktgruppe). Các chướng ngại vật và hào chống tăng được xây dựng, số lượng các mìn (cả thật lẫn giả) được đặt tăng lên rất nhiều, cụ thể là cao gấp 3 lần so với năm 1941.[7][9][c]Cho đến hết năm 1943, khoảng 8500 công sự được hoàn thành và từ đầu năm 1944 cho đến trước ngày quân Đồng Minh đổ bộ thì có thêm tới 12,247 công sự tiếp tục được hoàn tất chỉ riêng ở Bắc Pháp. Các trận địa pháo được di chuyển và nhiều vị trí giả được dựng lên để đánh lừa không quân Đồng Minh.[9]

Bờ biển NormandySửa đổi

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ Gồm Crerar, chỉ huy Tập đoàn quân Canada số 1; Dempsey, chỉ huy Tập đoàn quân Anh số 2 hay Alan Brooke, cấp trên của Montgomery, Tổng tham mưu trưởng Quân đội Đế quốc Anh, là những sĩ quan pháo binh cấp cao kể từ năm 1918.
  2. ^ Việc người Mỹ thất bại trong việc mô phỏng một cuộc đổ bộ trong cuộc tập trận Con Hổ vào đầu tháng 2 năm 1945 ở bãi biển Slapton do có giao chiến với các tàu E-boat ám chỉ rằng một cuộc xâm lược đối với người Đức là không thể xảy ra được. [5]
  3. ^ Rommel muốn từ 50 cho đến 100 triệu quả mìn được đặt, nhưng trên thực tế ông chỉ có trong tay hơn 5 triệu quả. Các công trình hào và công sự phòng thủ được đào trong hai tháng đầu năm 1944, còn tiến độ đổ bê tông tăng lên gấp đôi (từ 355,000 lên 722,100 mét khối) mỗi tháng. [7][9]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Hart 2007, tr. 43.
  2. ^ Bennett 2009, tr. 21–22.
  3. ^ Bennett 2009, tr. 30, 48.
  4. ^ Bennett 2009, tr. 49–51.
  5. ^ Bennett 2009, tr. 50.
  6. ^ Wilmot 1997, tr. 186–187.
  7. ^ a ă â b Wood 2007, tr. 2.
  8. ^ Cooper 1978, tr. 496.
  9. ^ a ă â Stewart 2016, tr. 36.

NguồnSửa đổi

SáchSửa đổi

  • Badsey, Stephen (1990). Normandy 1944 Allied Landings and Breakout. London: Osprey. ISBN 978-0-85045-921-0.
  • Badsey, S. (2006). “Chapter 4: Culture, Controversy, Caen and Cherbourg: The First Week of the Battle”. Trong Buckley, John (biên tập). The Normandy Campaign 1944: Sixty Years On. London: Routledge. tr. 48–63. ISBN 978-1-134-20304-8.
  • Baldoli, Claudia; Knapp, Andrew (2012). Forgotten Blitzes: France and Italy Under Allied Air Attack, 1940–1945. London: Continuum. ISBN 978-1-4411-8581-5.
  • Baverstock, K. (2002). Breaking the Panzers: The Bloody Battle for Rauray. Stroud: Sutton. ISBN 978-0-7509-2895-3.
  • Baxter, Colin (1999). Field Marshal Bernard Law Montgomery, 1887–1976: A Selected Bibliography. Greenwood Press. ISBN 978-0-313-29119-7.
  • Beevor, Antony (2014) [2009]. D-Day: The Battle for Normandy . Penguin Books. ISBN 978-0-241-96897-0.
  • Bennett, R. (2009) [1979]. Ultra in the West: The Normandy Campaign 1944–1945 . London: Hutchinson. ISBN 978-0-571-25374-6.
  • Bercuson, D. (2004) [1996]. Maple leaf Against the Axis. Markham, ONT: Red Deer Press. ISBN 978-0-88995-305-5.
  • Blumenson, M. (1961). Breakout and Pursuit. United States Army in World War II: European Theater of Operations. Washington, D.C.: US Government Printing Office. ISBN 978-0-16-001882-4. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2017.
  • Brooks, S. (2008). Montgomery and the Battle of Normandy. Publications of the Army Records Society. 27. Stroud: The History Press. ISBN 978-0-7509-5123-4.
  • Buckley, John biên tập (2004). British Armour in the Normandy Campaign. London: Routledge. ISBN 978-1-135-77401-1.
  • Buckley, John biên tập (2006) [2004]. British Armour in the Normandy Campaign 1944. Abingdon: Taylor & Francis. ISBN 978-0-415-40773-1.
  • Buckley, John (2006). The Normandy Campaign 1944: Sixty Years On. London: Routledge. ISBN 978-1-134-20304-8.
  • Buckley, J. (2014) [2013]. Monty's Men: The British Army and the Liberation of Europe . London: Yale University Press. ISBN 978-0-300-20534-3.
  • Carafano, James Joy (2008). After D-Day: Operation Cobra and the Normandy Breakout. Mechanicsburg, PA: Stackpole. ISBN 978-0-8117-3487-5.
  • Cawthorne, Nigel (2005). Victory in World War II. London: Capella (Acturus). ISBN 978-1-84193-351-1.
  • Clark, Lloyd (2004). Operation Epsom. Battle Zone Normandy. Stroud: The History Press. ISBN 978-0-7509-3008-6.
  • Clay, Major Ewart W. (1950). The path of the 50th: The Story of the 50th (Northumbrian) Division in the Second World War. Aldershot: Gale and Polden. OCLC 12049041.
  • Cooper, Matthew (1978). The German Army 1939–1945: Its Political and Military Failure. New York: Stein & Day. ISBN 978-0-8128-2468-1.
  • Copp, Terry; Vogel, Robert (1983). Maple Leaf Route: Caen. Alma, ONT: Maple Leaf Route. ISBN 978-0-919907-01-0.
  • Copp, Terry biên tập (2000). Montgomery's Scientists: Operational Research in Northwest Europe. The work of No.2 Operational Research Section with 21 Army Group June 1944 to July 1945. Waterloo, Ont: LCMSDS. ISBN 978-0-9697955-9-9.
  • Copp, Terry (2004) [2003]. Fields of Fire: The Canadians in Normandy. Toronto: University of Toronto Press. ISBN 978-0-8020-3780-0.
  • Copp, T. (2007). The Brigade: The Fifth Canadian Infantry Brigade in World War II. Stackpole Military History. Mechanicsburg, PA: Stackpole. ISBN 978-0-8117-3422-6.
  • Daglish, I. (2007). Operation Epsom. Over the Battlefield. Barnsley: Pen & Sword Military. ISBN 978-1-84415-562-0.
  • D'Este, Carlo (1994) [1983]. Decision in Normandy: The Real Story of Montgomery and the Allied Campaign. London: Penguin. ISBN 978-0-14-139056-7.
  • D'Este, Carlo (2004) [1983]. Decision in Normandy: The Real Story of Montgomery and the Allied Campaign . London: Collins. ISBN 978-0-14-101761-7.
  • D'Este, Carlo (2015). Eisenhower: A Soldier's Life. Henry Holt and Company. ISBN 978-1-62779-961-4.
  • Doherty, R. (2004). Normandy 1944: The Road to Victory. Staplehurst: Spellmount. ISBN 978-1-86227-224-8.
  • Eisenhower, Dwight David (1997) [1948]. Crusade in Europe. JHU Press. ISBN 978-0-801-85668-6.
  • Ellis, Major L. F.; Allen, Captain G. R. G.; Warhurst, Lieutenant-Colonel A. E. & Robb, Air Chief-Marshal Sir J. (2004) [1962]. Butler, J. R. M. (biên tập). Victory in the West: The Battle of Normandy. History of the Second World War United Kingdom Military Series. I . London: HMSO. ISBN 978-1-84574-058-0.
  • Fortin, Ludovic (2004). British Tanks in Normandy. Histoire & Collections. ISBN 978-2-915239-33-1.
  • Forty, George (2004). Villers Bocage. Battle Zone Normandy. Sutton. ISBN 978-0-7509-3012-3.
  • French, David (2001). Raising Churchill's Army: The British Army and the War against Germany, 1919–1945. London: Oxford University Press. ISBN 978-0-19-924630-4.
  • Gill, Ronald; Groves, John (2006) [1946]. Club Route in Europe: The History of 30 Corps from D-Day to May 1945. MLRS Books. ISBN 978-1-905696-24-6.
  • Gray, P. (2006) [2004]. “Caen – The Martyred City”. Trong Buckley, John (biên tập). British Armour in the Normandy Campaign 1944. Abingdon: Taylor & Francis. ISBN 978-0-415-40773-1.
  • Hart, R. A. (2004) [2000]. Clash of Arms: How the Allies Won in Normandy . Boulder, CO: L. Riener. ISBN 978-0-8061-3605-9.
  • Hart, Stephen Ashley (2007) [2000]. Colossal Cracks: Montgomery's 21st Army Group in Northwest Europe, 1944–45 . Westport, CT: Praeger. ISBN 9780811733830.
  • Hixon, Walter L. (2003). The American Experience in World War II: The United States in the European Theatre. The American Experience in World War II. V. Taylor & Francis. ISBN 978-0-415-94033-7.
  • Jackson, G. S. (2006) [1945]. 8 Corps: Normandy to the Baltic. Staff, 8 Corps. Smalldale: MLRS Books. ISBN 978-1-905696-25-3.
  • Jarymowycz, R. (2001). Tank Tactics, from Normandy to Lorraine. Boulder, CO: Lynne Rienner. ISBN 978-1-55587-950-1.
  • Keegan, John (2004) [1982]. Six Armies in Normandy: From D-Day to the Liberation at Paris. London: Pimlico. ISBN 978-1-84413-739-8.
  • Margolian, Howard (1998). Conduct Unbecoming: The Story of the Murder of Canadian Prisoners of War in Normandy. University of Toronto Press. ISBN 978-0-8020-8360-9.
  • McKee, A. (1972) [1964]. Caen: Anvil of Victory . London: Souvenir Press. ISBN 978-0-330-23368-2.
  • Meyer, Kurt (2005) [1994]. Grenadiers: The Story of Waffen SS General Kurt "Panzer" Meyer . Winnipeg, Man: J. J. Federowicz. ISBN 978-0-8117-3197-3.
  • Pogue, F. C. (1954) [1950]. “D-Day to the Breakout”. The Supreme Command. United States Army in World War II The European Theater of Operations. Washington: Office of the Chief of Military History, Department of the Army. OCLC 252766501. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2017.
  • Saunders, H. St G. (1975) [1954]. Royal Air Force 1939–45: The Fight is Won. III . London: HMSO. ISBN 978-0-11-771594-3.
  • Saunders, T. (2001). Hill 112: Battles of the Odon, 1944. Battleground Europe . Barnsley: Pen & Sword Books. ISBN 978-0-85052-737-7.
  • Scarfe, Norman (2006) [1947]. Assault Division: A History of the 3rd Division from the Invasion of Normandy to the Surrender of Germany. Stroud: Spellmount. ISBN 978-1-86227-338-2.
  • Shulman, Milton (2003) [1947]. Defeat in the West . London: Martin Secker & Warburg. ISBN 978-0-304-36603-3.
  • Stacey, Colonel Charles Perry; Bond, Major C. C. J. (1960). The Victory Campaign: The Operations in North-West Europe 1944–1945 (PDF). Official History of the Canadian Army in the Second World War. III. Ottawa: The Queen's Printer and Controller of Stationery. OCLC 58964926. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2014.
  • Stewart, A. (2016) [2014]. Caen Controversy: The Battle for Sword Beach 1944 . Solihull: Helion. ISBN 978-1-911096-17-7.
  • Taylor, Daniel (1999). Villers-Bocage Through the Lens. Old Harlow: Battle of Britain International. ISBN 978-1-870067-07-2.
  • Trew, Simon; Badsey, Stephen (2004). Battle for Caen. Battle Zone Normandy. Stroud: Sutton. ISBN 978-0-7509-3010-9.
  • Van der Vat, Dan (2003). D-Day; The Greatest Invasion, A People's History. Toronto: Madison Press. ISBN 978-1-55192-586-8.
  • Weigley, Russell F. (1981). Eisenhower's Lieutenants: The Campaigns of France and Germany, 1944–1945. Sidgwick & Jackson. ISBN 978-0-283-98801-1.
  • Williams, Andrew (2004). D-Day to Berlin. London: Hodder & Stoughton. ISBN 978-0-340-83397-1.
  • Wilmot, Chester; McDevitt, Christopher Daniel (1997) [1952]. The Struggle For Europe. Ware, Hertfordshire: Wordsworth Editions. ISBN 978-1-85326-677-5.
  • Winter, Paul (2014). D-Day Documents. London: Bloomsbury. ISBN 978-1-4729-0698-4.
  • Wood, James A. biên tập (2007). Army of the West: The Weekly Reports of German Army Group B from Normandy to the West Wall. Mechanicsburg, PA: Stackpole Books. ISBN 978-0-8117-3404-2.

Báo chíSửa đổi

Trang webSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi