Vũ Chính là một xã ngoại thành của thành phố Thái Bình tỉnh Thái Bình Việt Nam.

Đội ngũ cán bộ chủ chốt xã đang đương chứcSửa đổi

Bí thư Đảng ủy: Nguyễn Xuân Biên

Phó Bí thư Đảng ủy - Chủ tịch HDND: Vũ Đình Trứ

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã: Phan Văn Báu

Phó Chủ tịch UBND: Nguyễn Công Thành

Phó Chủ tịch HDND xã: Vũ Đình Dương

Chỉ huy trưởng Quân sự: Nguyễn Thế Ước

Trưởng Công an xã: Phạm Xuân Bền

Văn phòng Uỷ ban: Nguyễn Xuân Quý

Văn phòng Đảng ủy - Thống kê: Bùi Thị Lan Anh

Kế toán ngân sách xã: Nguyễn Thị Tuyết

Cán bộ địa chính xã: Vũ Đức Giáp

Cán bộ tư pháp xã: Nguyễn Đình Thích

Cán bộ Văn hóa xã: Trần Văn Tín

Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc: Vũ Đức Song

Bí thư Đoàn Thanh niên: Phan Văn Tiến

Chủ tịch Hội Phụ nữ: Nguyễn Thị Hạnh

Chủ tịch Hội Nông dân: Phan Văn Mạnh

Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh: Nguyễn Ngọc Oanh

Lược sử địa giới hành chínhSửa đổi

Đến khoảng thế kỷ XVI, XVII, với quá trình khai hoang, mở làng lập ấp, những đơn vị hành chính đầu tiên trên địa bàn Vũ Chính ngày nay mới chính thức thành lập gồm 2 làng: làng Tham Chính (tên dân gian là Xam, sau đổi thành Lạc Chính), tương ứng với thôn Lạc Chính hiện nay và làng Tông (sau đổi thành Tống Vũ)[1]. Làng Tông có diện tích khá rộng, gồm Tông trong (còn gọi là Tống Vũ Đông thôn) và Tông ngoài (còn gọi là Tống Vũ Nam thôn) tương ứng với các thôn Hòa Hải, Đông Hải, Tây Sơn, Tống Vũ, Tống Văn, Nam Hùng, Trấn Tây, Quyến, Trung Hòa ngày nay. Cho đến khoảng cuối thế kỷ XVIII, địa giới hành chính của làng Tống Vũ được mở rộng khi họ Vũ từ Lạc Đạo di cư lập ra Vũ ấp (tương đương với một phần thôn Vũ Trường và Tổ dân phố số 2 hiện nay). Đến cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX địa giới hành chính của Vũ Chính ngày nay đã được xác định tương đối chính xác bao gồm: làng Lạc Chính thuộc tổng Lạc Đạo và làng Tống Vũ[2] (gồm Tống Vũ đông thôn và Tống Vũ Nam thôn) thuộc tổng Hội Khê. Cả hai tổng Hội Khê và Lạc Đạo đều thuộc huyện Vũ Tiên, phủ Kiến Xương, trấn Sơn Nam hạ[3].

Sang thời Nguyễn (1802-1945), vào các năm 1830-1831, triều đình phong kiến cải cách hành chính, thiết lập hệ thống hành chính thống nhất ở địa phương gồm các cấp tỉnh, phủ, huyện, xã. Địa giới hành chính đơn vị Tống Vũ và Lạc Chính đổi thành xã. Xã Lạc Chính thuộc tổng Lạc Đạo, xã Tống Vũ thuộc tổng Hội Khê đều thuộc huyện Vũ Tiên, phủ Kiến Xương, tỉnh Nam Định cho đến năm 1890 thì thành lập tỉnh Thái Bình[4]. Đầu thế kỷ XX, tri huyện Vũ Tiên chia xã Tống Vũ thành 2 xã: Tống Vũ Đông thôn vẫn lấy tên cũ là xã Tống Vũ, Tống Vũ Nam thôn lấy tên mới là xã Tống Văn[5].

Sau thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến cuối năm 1945, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa ban hành sắc lệnh quy định hệ thống hành chính thống nhất, song trên thực tế, cấp tổng và phủ không còn tồn tại, ba xã Tống Văn, Tống Vũ, Lạc Chính trực thuộc huyện Vũ Tiên, tỉnh Thái Bình.

Tháng 3/1947, Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định thành lập các liên xã (xã lớn) trên cơ sở sáp nhập nhiều xã nhỏ. Các xã Tống Văn, Tống Vũ, Phúc Hạ, Phúc Nội, Phúc Thượng và Hội Khê hợp thành xã Tống Khê; xã Lạc Chính, Lạc Đạo, Kỳ Bá, Tam Lạc, An Chính[6], hợp nhất thành xã Trần Lãm. Lúc này Tống Văn, Tống Vũ, Lạc Chính đổi thành các thôn trực thuộc 2 xã Hội Khê và Trần Lãm.

Tháng 3/1949, Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Bình quyết định điều chỉnh địa giới hành chính các xã. Theo đó, xã Tống Khê giải thể, các thôn Tống Văn, Lạc Chính và các thôn Phúc Hạ, Phúc Nội, Phúc Thượng, Cự Phú, Thanh Miếu hợp nhất thành xã Hùng Thắng. Thôn Tống Vũ hợp nhất vào địa bàn xã Trần Lãm[7].

Tháng 6/1956, sau khi hoàn thành cải cách ruộng đất, Đoàn ủy Đoàn cải cách ruộng đất và Ủy ban hành chính tỉnh Thái Bình đề xuất với Khu ủy Tả Ngạn tiến hành điều chỉnh địa giới và đổi tên các xã trong huyện Vũ Tiên[8]. Tất cả các xã cũ và các xã mới thành lập đều lấy chữ “Vũ”[9] làm đầu. Xã Hùng Thắng giải thể chia làm 2 xã Vũ Chính và Vũ Phúc. Ngày 19/8/1956 xã Vũ Chính được thành lập gồm 2 thôn Tống Văn và Lạc Chính.

Ngày 18/12/1976, theo đề nghị của Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Bình, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 1507 TC/CP sáp nhập một số xã tại các huyện của tỉnh Thái Bình. Theo đó, hai xã Vũ Chính và Vũ Lãm sáp nhập thành xã Chính Lãm. Chính Lãm lúc này là đơn vị hành chính cấp xã có diện tích và quy mô dân số lớn vào bậc nhất của tỉnh Thái Bình tương đương với địa bàn xã Vũ Chính ngày nay và vùng Lạc Đạo của phường Trần Lãm.

Trước yêu cầu mở rộng địa giới hành chính thị xã Thái Bình, trên cơ sở đề nghị của Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Bình, ngày 5/4/1982, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 63-HĐBT về việc thành lập và đổi tên một số xã trên địa bàn huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Theo đó, thôn Lạc Đạo tách khỏi xã Chính Lãm gộp cùng xóm Hòa Bình của xã Vũ Phúc và một phần diện tích của tiểu khu Kỳ Bá thành lập xã Trần Lãm thuộc thị xã Thái Bình, xã Chính Lãm đổi tên thành xã Vũ Chính thuộc huyện Vũ Thư với địa giới hành chính như ngày nay.

Thực hiện chủ trương xây dựng quy hoạch phát triển thị xã Thái Bình - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh, xét đề nghị của Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Bình, ngày 20/3/1986, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 24-HĐBT về việc mở rộng địa giới hành chính thị xã Thái Bình. Theo đó, xã Vũ Chính cùng các xã Vũ Phúc, Phú Xuân của huyện Vũ Thư, các xã Đông Hòa, Hoàng Diệu của huyện Đông Hưng được nhập vào thị xã Thái Bình, kể từ đây, xã Vũ Chính là đơn vị hành chính cấp cơ sở trực thuộc thị xã Thái Bình (từ năm 2004 thành lập thành phố Thái Bình).

Trải qua quá trình tách nhập địa giới hành chính qua nhiều thời kỳ với các tên gọi khác nhau, kể từ năm 1982 trở đi, địa giới hành chính xã Vũ Chính ổn định nằm ở phía đông nam của thành phố Thái Bình. Địa bàn xã Vũ Chính trải dài theo hướng đông - tây, từ điểm cực đông (thôn Vũ Trường), đến điểm cực tây (thuộc thôn Trấn Tây) kéo dài trên 7 km, hẹp theo hướng bắc - nam, tiếp giáp với 7 xã, phường của thành phố Thái Bình và hai huyện Kiến Xương, Vũ Thư: phía Đông giáp với xã Vũ Lạc (huyện Kiến Xương) ranh giới giữa Vũ Chính - Vũ Lạc là sông Cống Đậu đoạn qua Vũ Chính dài trên 3km, sông chảy vào Vũ Chính từ Cống Đậu rồi đổ ra Cầu Kìm nên sông này còn gọi là sông Kìm, nối liền 2 xã là cầu Kìm; phía Tây giáp Vũ Phúc (thành phố Thái  Bình), ranh giới 2 xã là sông Kiến Giang đoạn chảy qua xã dài trên 4 Km từ cầu Đen Phúc Thượng tới ngã 3 sông tại Phúc Hạ (có tên dân gian là song Xam), nối liền hai xã là cầu Xam; phía Nam tiếp giáp với xã Vũ Ninh (huyện Kiến Xương) và xã Vũ Hội (huyện Vũ Thư), ranh giới 2 xã Vũ Chính - Vũ Hội là hệ thống sông ngòi chạy dài từ Tây sang Đông; phía Bắc giáp các phường Kỳ Bá, Trần Lãm, Quang Trung (thành phố Thái Bình).


[1] Một số tư liệu gia phả các dòng họ khẳng định, làng Tống Vũ có khoảng trên 450 năm lịch sử, tổ tiên các dòng họ từ làng Tông Chàng, huyện Tống Sơn (nay là huyện Hà Trung, Thanh Hóa) đã về đây định cư và lập lên làng Tông, với ý nghĩa lấy lại tên cũ của quê hương Tông Chàng.

[2] Cũng trong khoảng thời gian này, một bộ phận dân cư từ các nơi đến định cư và lập ra trại Đống Nế thuộc làng Lạc Đạo.Trại Đống Nế đến năm 1951 đổi thành xóm Trường Chinh, năm 1953 sáp nhập với xóm Vũ Ấp thành xóm Vũ Trường, tương ứng với thôn Vũ Trường và 1 phần tổ dân phố số 2 hiện nay.

[3]. Thời vua Lê Hiển Tông, trấn Sơn Nam hạ tương ứng với địa bàn ba tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hà Nam ngày nay.

[4]. Đến năm 1926, cấp phủ không còn là cấp trung gian quản lý huyện, toàn tỉnh lúc này có 12 phủ, huyện và 1 thị xã.

[5]. Tống Văn và Tống Vũ đều thuộc tổng Hội Khê, huyện Vũ Tiên.

[6] An Chính sau này chia làm Cự Phú và Thanh Miếu

[7] Tháng 3/1951, Trần Lãm chuyển về Thị xã Thái Bình, tháng 8/1956, chuyển về thuộc huyện Vũ Tiên.

[8] Năm 1969, Vũ Tiên và Thư Trì hợp nhất thành huyện Vũ Thư.

[9]. Xã Trần Lãm đổi thành xã Vũ Lãm

[10]. Trừ thôn Tiên Sơn và tổ dân phố số 1

Quá trình hình thành cộng đồng dân cưSửa đổi

Với lịch sử hình thành vùng đất khoảng gần trên dưới 1.000 năm, cộng đồng cư dân xã Vũ Chính được hình thành từ quá trình chuyển cư liên tục từ  nhiều địa phương ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và một số tỉnh Bắc Trung Bộ, chủ yếu là các tỉnh Thanh Hóa, Nam Định, Hải Dương và một số địa bàn của tỉnh Thái Bình.

         Vào thế kỷ thứ X, khi Tiền Ngô vương Ngô Quyền mất (năm 944), các sứ quân nổi lên cát cứ, sử gọi là loạn 12 sứ quân. Trên địa bàn của tỉnh Thái Bình lúc này có sứ quân Trần Lãm chiếm cứ vùng Bố Hải Khẩu - là vùng đất rộng lớn với địa bàn trung tâm là khu vực phường Kỳ Bá ngày nay cách xã Vũ Chính khoảng gần 3km. Năm 971, vua Đinh Tiên Hoàng đã cho Trấn Đông Tiết độ sứ Bùi Quang Dũng về đóng ở thành Kỳ Bố đưa dân đến khai hoang. Mùa xuân năm 1038 (năm Mậu Dần) vua Lý Thái Tông “ngự ra cửa Bố Hải cày ruộng tịch điền”, các tư liệu lịch sử này khẳng định vùng đất Kỳ Bá trong thế kỷ thứ X, XI là vùng dân cư trù phú, kinh tế nông nghiệp phát triển. Căn cứ theo dân gian câu ca lưu truyền ca ngợi công lao của Trấn đông Tiết độ sứ Bùi Quang Dũng “Mừng nay trong cõi hải tần/ Giặc ma đã dẹp, cá thần cũng xuôi” thì rất có thể vùng đất các xã Vũ Chính, Vũ Phúc và một số xã ngoại vi của Thành phố Thái Bình trong khoảng 1.000 năm trước vẫn là vùng thường xuyên bị ngập nước, cư dân chỉ tiến hành các hoạt động mưu sinh chứ chưa định cư ổn định. Trong những năm 70, 80 của thế kỷ XX, tại địa bàn thôn Lạc Chính của xã Vũ Chính, nhân dân trong quá trình cải tạo ruộng đồng thu thập được một số hiện vật binh khí từ thời kỳ sứ quân Trần Lãm, có thể coi là những dấu tích đầu tiên của quá trình khai phá thiên nhiên của con người trên địa bàn Vũ Chính.

         Trong khoảng thế kỷ X đến thế kỷ XV, cùng với quá trình gia tăng dân số và chính sách khai hoang của các triều đại phong kiến Lý, Trần, Hồ, Hậu Lê, cư dân vùng Bố Hải khẩu cũ tiếp tục tiến dần về phía đông nam, mở rộng địa bàn cư trú. Vùng đất Vũ Chính ngày nay cho đến thế kỷ XIII, XIV có thể đã có cư dân định cư, cấy trồng ổn định. Tuy nhiên, có lẽ dân cư sinh sống thưa thớt nên chưa được lập thành làng ấp, địa bạ triều đình phong kiến không ghi chép lại.

Qúa trình hình thành cộng đồng cư dân trên mảnh đất Vũ Chính phải từ sau thế kỷ XVI, khi các dòng họ với gia phả ghi chép đầy đủ mới có thể khẳng định được sự tồn tại chính thức. Họ Vũ ở thôn Vũ Trường, họ Nguyễn Đình ở Hòa Hải, họ Phùng ở thôn Đông Hải, họ Phạm ở thôn Đông Hải và thôn Trấn Tây đều ghi chép nơi phát tích của dòng họ là từ Tông Chàng[1], Thanh Hóa, do tránh nạn giặc giã mà chuyển cư đến vùng đất này khai phá đất hoang, mở làng lập ấp. Về công lao khai phá đất đai ở khu vực phía tây đường 223, đến ngày nay vẫn lưu truyền câu tổng kết ngắn gọn: “Nhất Phạm, nhì Phan, tam Trần, tứ Nguyễn”. Họ Phạm ở Vũ Chính đến nay ước chừng gần 500 năm, được coi là dòng họ đầu tiên chính thức định cư lâu dài trên mảnh đất Tống Văn (Tống Vũ Nam Thôn). Tiếp đó là các họ Phan (1632), họ Trần (năm 1681), họ Nguyễn Xuân (1751) [2]. Buổi đầu mở làng, lập ấp, tổ tiên các dòng họ tại lấy tên làng là “Tông”, có ý nghĩa tưởng nhớ về cội nguồn quê hương Tông Chàng. Lạc Chính gắn liền công lao khai phá của dòng họ Tống, họ Trịnh, khoảng cuối thế kỷ XVII, cụ tổ của dòng họ Tống từ huyện Nam Ninh (tỉnh Nam Định) đã về mảnh đất này định cư và cùng với họ Trịnh lập nên làng Tham Chính (sau đổi thành Lạc Chính). Từ cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, trước những biến động của tình hình đất nước, cư dân từ nhiều địa phương tiếp tục di cư đến vùng đất này, hình thành lên cộng đồng cư dân có hàng chục dòng họ.

Cho đến trước cách mạng tháng Tám năm 1945, địa bàn Vũ Chính ngày nay có khoảng 3.500 nhân khẩu. Hai xã Tống Văn và Tống Vũ có dân số lớn, diện tích rộng, nên dưới cấp xã có các xóm nhỏ theo ý thức phân định do nhân dân tự đặt ra. Xã Tống Văn có các xóm: Đông (nay là khu vực xóm 6 - thôn Tống Văn), xóm Giữa (nay là khu vực xóm 7 thôn Tống Văn và một phần của thôn Quyến), xóm Tây (tương ứng với các thôn Nam Hùng, Trấn Tây và khu vực chùa Chanh thuộc thôn Trung Hòa). Xã Tống Vũ có các xóm Vũ ấp (nay là thôn Vũ Trường và Tổ dân phố số 2), xóm Đông (nay là thôn Đông Hải), xóm Giữa[3] (nay là thôn Hòa Hải), xóm Tây (nay là thôn Tây Sơn và Tống Vũ). Do dân số đông, lại là những xã có mặt bằng kinh tế, văn hóa, giáo dục cao hơn mức trung bình toàn tỉnh, nên tại ba xã có một số gia đình rời quê hương đi làm ăn, buôn bán tại một số thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, đồng thời, dưới ách thống trị của thực dân phong kiến một số người bị áp bức, bóc lột cùng cực phải bỏ làng đi làm phu mỏ ở Quảng Ninh. Trong nạn đói năm Ất Dậu 1945, dân số 3 xã bị suy giảm nghiêm trọng, khoảng 1/3 dân số chết đói, một bộ phận nhân dân phiêu tán đi các nơi.

Trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1949), địa bàn Tống Văn, Tống Vũ, Lạc Chính chưa bị tiến công, chiếm đóng, do vậy, địa phương có thêm một số lượng cư dân là đồng bào các tỉnh tản cư chiến tranh, trong đó có nhiều gia đình con em địa phương đã rời làng từ trước và trong năm 1945. Cho đến khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, dân số Tống Văn, Tống Vũ, Lạc Chính đã phục hồi với mức trước năm 1945. Thôn Tống Văn lúc này gồm xóm: Đông A, Bắc Quyết, Nam Hùng, Trung Hòa, Trấn Tây. Thôn Tống Vũ gồm 4 xóm Vũ Trường, Đông, Giữa, Tây.

Từ sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Bắc (1954), đời sống kinh tế và y tế được cải thiện, dân số địa phương tăng nhanh. Bên cạnh việc tăng dân số cơ học, Vũ Chính là địa bàn gần trung tâm tỉnh lỵ, tiếp tục đón nhận một bộ phận dân cư từ các địa phương trong tỉnh, trong đó có nhiều người là cán bộ nhà nước được bố trí định cư trên địa bàn xã. Đồng thời trước sức ép lớn về dân số, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về bố trí lại dân cư và lao động trên địa bàn cả nước, Đảng ủy, chính quyền địa phương trong các năm 1965-1966, 1976-1978 đã nhiều lần tổ chức đưa một bộ phận nhân dân trong xã đi tham gia xây dựng kinh tế mới, xây dựng tiềm lực quốc phòng trên địa bàn các tỉnh Hà Bắc (nay là Bắc Giang), Bắc Thái (nay là Bắc Kạn), Đắc Lắc, Kiên Giang.... Cho đến năm 1982, khi địa giới hành chính được ổn định, dân số của xã có trên 7.000 người, lúc này được tổ chức thành 14 đội sản xuất - dân cư.

Sau khi có chỉ thị khoán 10 của Bộ Chính trị (năm 1988), hợp tác xã và các đội sản xuất không trực tiếp lãnh đạo sản xuất. Ngày 05/3/1990, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quyết định số 54/QĐ-UB về việc thành lập xóm với vai trò là cấp giúp việc cho xã. Thực hiện quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh, đội sản xuất được đổi thành xóm. Toàn xã năm 1990 có 15 xóm, trong đó các xóm 1, 2, 3, 4, 5 là các đội sản xuất cũ của hợp tác xã Tống Vũ, các xóm 6, 7, 8 9, 10, 11, 12, 13, 14 là các đội sản xuất cũ của hợp tác xã Thống nhất. Xóm 15 gồm cán bộ, công nhân viên chức của tỉnh, thị xã và một số hộ gia đình phi nông nghiệp của địa phương được bố trí định cư.

Năm 2002, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình ban hành Quyết định 65/2002/QĐ-UBND về việc tổ chức lại cấp giúp việc trực tiếp cho xã là thôn. Xã Vũ Chính là địa bàn thuộc thành phố, có nhiều tuyến đường giao thông quan trọng chạy qua khu dân cư, trong các năm 2003-2004, hệ thống khu dân cư của xã được tổ chức lại theo 2 mô hình: tổ dân phố (2 đơn vị) và thôn (12 đơn vị). Theo đó, toàn bộ xóm 15 được đổi thành tổ dân phố số 1; một bộ phận xóm 1 và xóm 2 (mặt đường Hoàng Văn Thái - 39 B) hình thành tổ dân phố số 2. Các xóm còn lại được đổi thành thôn, một số xóm không đủ quy mô 500 nhân khẩu phải sáp nhập cùng các xóm khác: Phần còn lại của xóm 1 đổi thành thôn Vũ Trường; Phần còn lại của xóm 2 đổi thành thôn Đông Hải; xóm 3 đổi thành thôn Hòa Hải; xóm 4 đổi thành thôn Tây Sơn; xóm 5 đổi thành thôn Tống Vũ; xóm 6 và xóm 7 sáp nhập thành thôn Tống Văn; xóm 8 đổi thành thôn Nam Hùng; xóm 9 và xóm 10 sáp nhập thành thôn Trấn Tây; xóm 11 đổi thành thôn Quyến; xóm 12 đổi thành thôn Trung Hòa; xóm 13 đổi thành thôn Lạc Chính; xóm 14 đổi thành thôn Tiên Sơn.

Đến năm 2015, dân số toàn xã Vũ Chính có 3.694 hộ với 12.894 nhân khẩu[4] là một trong những đơn vị hành chính cấp cơ sở có quy mô dân số lớn hàng đầu của tỉnh Thái Bình[5].


[1]. Tông Chàng thuộc huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, Thanh Hóa nội trấn, nay thuộc Thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa

[2]. Các dòng họ này đến nay đều có dân số đông, trong đó họ Nguyễn Xuân có quy mô lớn nhất, chiếm khoảng 10% dân số cả xã.

[3] Còn gọi là xóm Quai Võng

[4]. Dẫn theo hồ sơ đề nghị xét công nhận xã Vũ Chính đạt chuẩn nông thôn mới.

[5]. Quy mô dân số xã gấp 2 lần quy mô bình quân của tỉnh Thái Bình, mật độ dân số là 2.192 người/km2, gấp hơn 1,7 lần bình quân toàn tỉnh và gấp gần 8 lần bình quân cả nước.

Truyền thống cách mạngSửa đổi

Với lịch sử hàng ngàn năm dựng nước, giữ nước của dân tộc, nhân dân Vũ Chính luôn mang sẵn trong mình truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất. Nhiều dòng họ đến với mảnh đất này từ nguyên cớ chống lại thế lực phong kiến họ Trịnh lấn át quyền hành vua Lê. Dưới chế độ phong kiến nhà Nguyễn hà khắc, năm 1827, nhân dân đã tích cực tham gia khởi nghĩa nông dân Phan Bá Vành, tên gọi cánh đồng Mả Mái[1] là địa danh lịch sử, nơi diễn ra trận đánh của nghĩa quân Phan Bá Vành với quân triều đình phong kiến và là nơi nhân dân địa phương chôn cất những nghĩa quân hy sinh.

Năm 1873, khi thực dân Pháp đem quân xâm lược Bắc kỳ lần thứ nhất, nhân dân địa phương tích cực tham gia nghĩa quân chống Pháp của cụ Nguyễn Mậu Kiến ở Động Trung (nay là Vũ Trung - Kiến Xương). Năm 1884, sau khi thực dân Pháp hoàn thành xâm lược nước ta, nhân dân địa phương tiếp tục tích cực tham gia các phong trào chống Pháp, chống áp bức bóc lột: phong trào rước Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm năm 1887, phong trào Duy Tân đầu thế kỷ XX. Tuy các phong trào này lần lượt thất bại, song đã góp phần duy trì, bồi dưỡng tinh thần yêu nước, tinh thần đấu tranh chống áp bức của nhân dân.

Truyền thống yêu nước, tinh thần đấu tranh bất khuất của nhân dân Tống Văn, Tống Vũ, Lạc Chính được phát huy cao độ dưới ánh sáng con đường cách mạng vô sản theo Chủ nghĩa Mác-Lênin. Giữa những năm 1920, khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc truyền bá Chủ nghĩa Mác Lênin về Việt Nam, tại Lạc Chính đã có người thanh niên ưu tú Tống Văn Phổ là một trong những hội viên đầu tiên của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, Bí thư Tỉnh ủy đầu tiên của Đảng bộ tỉnh Thái Bình. Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, nhân dân Tống Văn, Tống Vũ, Lạc Chính đã sớm giác ngộ theo Đảng, tích cực tham gia các phong trào cách mạng do Đảng lãnh đạo, vừa đấu tranh vừa xây dựng lực lượng, góp phần làm nên thắng lợi của cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Qua 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp với muôn vàn khó khăn gian khổ và hy sinh nhưng vô cùng oanh liệt, quân và dân Tống Văn, Tống Vũ, Lạc Chính đã nêu cao tinh thần chiến đấu kiên cường và chiến thắng vẻ vang. Là địa phương có truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất, ngay sau ngày cách mạng tháng Tám thành công, nhân dân Tống Văn, Tống Vũ, Lạc Chính đã tích cực tham gia củng cố chính quyền cách mạng, xây dựng tiềm lực kinh tế, quân sự chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ. Những thành quả trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế và văn hóa trong những năm 1945-1950 là kết quả tổng hợp từ đường lối lãnh đạo của Đảng, tinh thần yêu nước và quyết tâm của toàn thể nhân dân Tống Văn, Tống Vũ, Lạc Chính. Cũng từ các phong trào cách mạng địa phương, nhiều con em ưu tú của nhân dân 3 thôn đã vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng, góp phần hình thành và phát triển các Chi bộ Hùng Thắng, Trần Lãm.

Từ năm 1950-1954, địa bàn Tống Văn, Tống Vũ, Lạc Chính thường xuyên là vùng chiếm đóng, càn quét của địch. Dưới sự lãnh đạo của Chi bộ, Hùng Thắng,Trần Lãm, quân dân Tống Văn, Tống Vũ, Lạc Chính đã đoàn kết một lòng với tinh thần “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”, trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu, phối hợp cùng bộ đội và dân quân du kích lập nên nhiều chiến công vang dội, điển hình như các trận đánh diệt đồn An Tập (ngày 30/3/1950), diệt đồn Tống Văn (ngày 14/2/1952), chặn đánh tàn quân địch (ngày 30/6/1954)... Tuy là địa bàn tề, bị đồn bốt địch kìm kẹp, song với truyền thống trung dũng, kiên cường, quân dân Tống Văn, Tống Vũ, Lạc Chính vẫn một lòng theo Đảng, tích cực nuôi giấu nhiều đồng chí cán bộ của Thị ủy như các đồng chí Vũ Ngọc Nhạ, Đặng Trịnh... chùa Chanh (Tống Văn), chùa Xam (Lạc Chính), chùa Tống Vũ, đình Tống Văn, đình Tống Vũ, đình Xam, từ đường họ Nguyễn Xuân, họ Phan... nhiều lần là nơi tập kết quân số, vũ khí của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích tiến công vào địa bàn thị xã... địa bàn thôn Tống Vũ và trại Đống Nế từ năm 1952 là vùng căn cứ an toàn để Chi bộ Trần Lãm tổ chức các hoạt động xây dựng cơ sở, đấu tranh chính trị, binh vận trên địa bàn Lạc Đạo, Đồng Lôi, Kỳ Bá.

Bên cạnh đó, quân dân Tống Văn, Tống Vũ, Lạc Chính tích cực tham gia ủng hộ, đóng góp sức người sức của cho kháng chiến. Tổng kết trong 9 năm 1945-1954, Tống Văn, Tống Vũ, Lạc Chính có 172 thanh niên nhập ngũ, 315 người tham gia dân công hỏa tuyến, nhân dân đóng góp đường hàng trăm tấn lương thực, hàng chục lượng vàng và nhiều tài sản của cải ủng hộ kháng chiến. Kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, 24 người con ưu tú của Tống Văn, Tống Vũ, Lạc Chính đã anh dũng hy sinh, góp phần tô thắm truyền thống trung dũng kiên cường của quê hương. Ghi nhận những đóng góp to lớn của quân và dân địa phương ngày 23/5/2005 Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ký quyết định số 497/QĐ-CTN phong tặng danh hiệu: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho nhân dân và lực lượng vũ trang xã Vũ Chính đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, trên mảnh đất giàu truyền thống đấu tranh kiên cường, Đảng bộ và nhân dân đã trải qua nhiều thời kì lịch sử với những nhiệm vụ cụ thể khác nhau nhưng đều nhất quán thực hiện hai mục tiêu cách mạng là: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong 21 năm đó, Chi bộ Đảng (từ 1960 là Đảng bộ) hai xã Vũ Chính, Vũ Lãm đã lãnh đạo nhân dân khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, tiếp tục hoàn thành cuộc cách mạng dân chủ đem lại ruộng đất cho nông dân, xây dựng quan hệ sản xuất mới dựa trên hai hình thức sở hữu: sở hữu toàn dân và tập thể; thực hiện kế hoạch nhà nước 5 năm lần thứ nhất, góp phần xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa trở thành căn cứ địa của cách mạng cả nước. Các hợp tác xã nông nghiệp được thành lập và củng cố, tạo cơ sở vững chắc để phát triển kinh tế và các lĩnh vực văn hóa - xã hội, an ninh quốc phòng, hoàn thành mọi nghĩa vụ đóng góp với Nhà nước.

Nhận thức rõ sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc, từ năm 1965-1975, Đảng bộ và nhân dân phát huy cao độ tinh thần “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “tất cả vì miền Nam ruột thịt”. Tổng kết chung trong 21 năm (1954-1975), xã Vũ Chính và thôn Tống Vũ đóng góp gần 6.000 tấn lương thực, gần 300 tấn thực phẩm, tỷ lệ huy động lương thực đóng góp và bán nghĩa vụ cho nhà nước luôn chiếm từ 30-35%. Với tinh thần “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, 652 thanh niên đã tham gia quân đội (chiếm 15% so với tỷ lệ dân số năm 1965), 126 thanh niên tham gia thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến. Dấu chân của con em quê hương in khắp chiến trường ba nước Đông Dương, có mặt trong những chiến dịch gian khổ, ác liệt nhưng đầy vẻ vang: tết Mậu Thân 1968, đường 9 Nam Lào 1971, Quảng Trị 1972, Đông Nam bộ 1972 và Đại thắng mùa xuân năm 1975. Toàn xã có 113 quân nhân anh dũng hy sinh cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Sau năm 1975, các thế lực thù địch liên tiếp gây thêm 2 cuộc chiến tranh ở biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc, quân và dân Vũ Chính một lần nữa hiến dâng máu xương cho sự toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc, cho nghĩa vụ quốc tế vẻ vang. Tổng kết 71 năm đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (1945-2016), toàn xã Vũ Chính có 1.869 thanh niên tham gia quân đội, hàng nghìn lượt người tham gia dân quân, du kích, hàng trăm người là thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, toàn xã có 159 liệt sỹ, 105 thương, bệnh binh, 14 mẹ Việt Nam anh hùng.


[1]. Nay là khu vực Công ty Cổ phần giống cây trồng Thái Bình seed

Giao thôngSửa đổi

Là cửa ngõ phía Đông Nam của thành phố Thái Bình, địa bàn xã có 3 tuyến đường Tỉnh lộ quan trọng chạy qua: Đường 39 b (Hoàng Văn Thái) từ huyện Tiền Hải qua huyện Kiến Xương lên thành phố Thái Bình, đoạn chạy qua xã Vũ Chính dài 1km trên địa bàn Tổ dân phố số 2; đường 223 (Lý Bôn) từ huyện Vũ Thư lên Thành phố, đoạn chạy qua xã Vũ Chính có chiều dài 1,25km trên địa bàn các thôn Tống Văn, Quyến; Đường vành đai tránh trung tâm thành phố chạy từ phường Hoàng Diệu qua xã Vũ Đông, Vũ Lạc, Vũ Chính, phường Quang Trung, đoạn qua xã Vũ Chính dài 5,4 km trên địa bàn 12 thôn, tổ[10]. Bên cạnh đó, còn có tuyến đường liên phường, xã Trần Lãm - Vũ Chính - Vũ Phúc nối liền Tỉnh lộ 39B và tỉnh lộ 454, đoạn chạy qua xã Vũ Chính qua tổ dân phố 1 và các thôn Tiên Sơn, Lạc Chính qua cầu Xam sang Vũ Phúc. Với đặc điểm vị trí trên, địa bàn xã Vũ Chính đóng vai trò quan trọng về kinh tế, văn hóa, quân sự đối với huyện Vũ Thư trước đây và Thành phố Thái Bình ngày nay, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân Vũ Chính mở rộng các hoạt động giao lưu, buôn bán, đầu tư phát triển kinh tế với các xã, phường bạn và với nhiều địa phương trong tỉnh Thái Bình.

Kinh tế và Văn hóaSửa đổi

Là một đơn vị ngoại thành, xã Vũ Chính có điều kiện phát triển tương đối toàn diện cả về nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Về nông nghiệp, Vũ Chính là một trong những nơi đầu tiên của cả nước xây dựng được cánh đồng 100 triệu/ha, nổi tiếng với rau màu và trồng hoa cung cấp cho thành phố Thái Bình. Về dịch vụ - tiẻu thủ công nghiệp, xã có hàng chục cơ sở tiểu thủ công nghiệp đan, may.... giải quyết công việc cho hàng trăm lao động. Ngoài ra, xã có khoảng 1.000 lao động đang làm việc tại các nhà máy ở thành phố Thái Bình.

Tính đến năm 2015, tổng thu nhập toàn xã một năm ước đạt 550 tỷ đồng, bình quân đầu người đạt 47riệu/người/năm, là xã có kinh tế mạnh hàng đầu trong khối xã thuộc thành phố và tỉnh. Vũ Chính là điểm sáng trong xây dựng nông thôn mới với hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến, hiện đại.

Địa bàn xã hiện nay cũng nằm trong quy hoạch xây dựng nhiều cơ quan, doanh nghiệp của tỉnh.

Đời sống văn hóa tâm linhSửa đổi

Nhân dân Vũ Chính có đời sống văn hóa cộng đồng, tôn giáo tín ngưỡng mang đậm nét cư dân nông nghiệp đồng bằng Bắc bộ.

         Yếu tố dòng họ đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống văn hóa cộng đồng dân cư Vũ Chính. Tôn ty, trật tự dòng họ được duy trì qua đời này đến đời khác. Hầu hết các dòng họ trong xã từ lâu đời đã xây dựng Từ đường làm nơi thờ tự tổ tiên và giáo dục con cháu về truyền thống dòng họ, lễ nghĩa, hiếu thuận và trách nhiệm đối với xã hội. Trong lịch sử đấu tranh cách mạng kiên cường, từ đường của nhiều dòng họ còn là nơi hội họp nhân dân, nuôi dấu cán bộ, nơi tập kết bộ đội, dân quân ghi dấu những chiến công trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong đó, tiêu biểu từ đường Chi 3 họ Phan (thôn Nam Hùng) và từ đường họ Tống (thôn Lạc Chính), từ đường họ Nguyễn Xuân (thôn Tống Văn), từ đường họ Lại (thôn Nam Hùng)... Trong đó, Từ đường họ Tống được Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp tỉnh theo Quyết định số 01/QĐUB, ngày  31/8/1995; Từ đường Chi 3 họ Phan được Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp tỉnh theo Quyết định số 302/QĐUB, ngày 04/02/2013.

Khác với nhiều địa phương, mối quan hệ giữa các dòng họ trên địa bàn xã tương đối hòa thuận. Trong thời kỳ khai hoang, mở làng, các dòng họ tích cực giúp nhau ổn định cuộc sống, cùng nhau xây dựng quê hương trù phú, tươi đẹp. Minh chứng về mối quan hệ tốt đẹp giữa các dòng họ được gia phả các dòng họ ghi chép cụ thể như họ Bùi (ở Lạc Đạo) ghi nhớ tôn vinh tình cảm với họ Vũ (thôn Vũ Trường), gia phả họ Phạm (thôn Trấn Tây) ghi chép về việc cụ tổ họ Phạm và họ Phan kết nghĩa huynh đệ, từ đường họ Phạm thôn Trấn Tây ghi lại đôi câu đối do họ Phan tặng bằng chữ Hán: “Tống Vũ tương tại tích Lê triều lai tích tự/ Dữ Phan công hữu vô tri Tống ấp lập điền trù” (dịch nghĩa : “Hai họ cùng về đất Tống Vũ này vào thời Lê. Từ tay không hai họ xây dựng đất này ngày càng thêm trù phú”). “Nghinh Xuân quán” (nay thuộc thôn Quyến) được họ Nguyễn Xuân xây dựng làm nơi nghỉ chân và đón khách phương xa của nhân dân làng Tống Văn. Các cụ già 80 trở lên khi ra đình hội họp ngồi cùng với những quan chức làng xã, không phân biệt xuất thân, dòng họ. Truyền thống tốt đẹp đó được các dòng họ giáo dục và truyền lại cho con cháu đến muôn đời sau.

Đại bộ phận nhân dân Vũ Chính có xu hướng tôn giáo hướng Phật. Từ thế kỷ XVII, XIII, nhân dân đã góp công, của xây nên ba ngôi chùa làng làm nơi tôn kính Phật. Chùa Tống Văn ban đầu được xây dựng tại khu đất cao phía đông làng gần đường 223 có tên chữ là “Thắng Quang Tự”, tên dân gian là chùa Chanh. Khi xã Tống Vũ tách thành Tống Vũ và Tống Văn, nhân dân Tống Văn di chuyển chùa về địa điểm mới ngày nay thuộc thôn Trung Hòa. Tống Vũ có chùa “Bảo Quang Tự” nay thuộc địa bàn thôn Tống Vũ, Lạc Chính có chùa “Trùng Quang Tự” (dân gian thường gọi là chùa Xam). Kiến trúc nhà chùa gồm Chính điện, nhà thờ Tổ, nhà thờ Mẫu, Đức Thánh Trần, gác chuông ....Cả 3 chùa đều có tăng ni tu hành ngày đêm đọc kinh niệm Phật cầu chúc cho dân làng được hưởng mưa thuận gió hoà, Quốc thái dân an. Các ngày tư rằm, mồng một Âm lịch, nhân dân lên chùa cầu phúc rất đông vui nhộn nhịp. Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, ba ngôi chùa là nơi nuôi giấu nhiều đồng chí cán bộ, đảng viên, bộ đội, dân quân, du kích.... đồng thời là nơi lực lượng dân quân, du kích tập trung huấn luyện, đặt trạm viễn tiêu quan sát, báo động khi có địch càn quét. Chùa Tống Văn được Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp tỉnh theo Quyết định số 381/QĐUB, ngày 09/10/2003; đình, chùa Tống Vũ  được Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp tỉnh theo Quyết định số 94/QĐUB, ngày 01/10/2004; chùa Lạc Chính được Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp tỉnh theo Quyết định số 62/QĐUB, ngày 12/10/2005.

Để có nơi cho chính quyền phong kiến hội họp và thờ thành hoàng làng, nhân dân Tống Văn, Tống Vũ, Lạc Chính đã xây dựng nên 3 ngôi đình làng với kiến trúc độc đáo. Đình làng Tống Vũ, Lạc Chính được xây dựng khoảng thế kỷ XIX và đình làng Tống Văn khoảng đầu thế kỷ XX. Đình Tống Văn là điển hình với thiết kế: năm gian ngoài hội họp; giữa đình là cung theo kiểu ống muống bày đồ tế khí sơn son thiếp vàng, súng gươm, giáo mộc, mác xã mâu, kiếm kích rất uy nghi. Hai dãy hành lang đông và tây để quan viên hàng xã ngồi trong những ngày hội họp và lễ hội, năm gian chính trải chiếu để dân đinh ngồi và dự lễ hội. Tống Vũ thờ thành hoàng là Nam Hải Đại Vương và Đông Hải Đại Vương[1]. Tống Văn thờ thất vị thành hoàng ở tứ giáp là giáp đông, giáp tây, giáp trung, giáp bắc và Đền Trần[2]. Tuy nhiên, theo năm tháng thăng trầm của lịch sử, đình làng Tống Văn và Lạc Chính không còn nữa. Đình Tống Vũ có thời gian bị phá hủy, đến nay được phục hồi lại trên nền đất cũ của đình.

Trước đây, vào các ngày mồng 6 tháng giêng hàng năm tại đình làng có hội rước thần, tế lễ cầu cho quốc thái dân an, rằm tháng tám mở hội Yến lão mừng thọ cho các cụ trên 60 tuổi. Ngoài ngày hội được tổ chức tại đình làng, tại Tống Văn trước đây vào tháng 6 còn có hội xuống đồng mang tên gọi “ông cấy bà té” nhằm nhắc nhở trách nhiệm của người đàn ông trong gia đình phải cùng vợ lao động sản xuất. Bên cạnh các nghi lễ trang trọng trong lễ hội, nhân dân còn tổ chức nhiều trò chơi dân gian: cờ người, đu bay, vật, đấu roi, bắt vịt, thi hát chèo.... Trò đấu roi còn phát triển thành những lò võ sau này huấn luyện cho thanh niên để bảo vệ quê hương. Hát chèo Tống Văn, Tống Vũ trước đây được xếp vào trong những địa phương mạnh của tỉnh, những năm 1940, gánh chèo ông bà Hoàng Tân ở thôn Tống Văn nổi tiếng khắp vùng Nam Thái Bình và có nhiều đóng góp tích cực đối với phong trào cách mạng địa phương. Tuy vậy, các lễ hội truyền thống đến nay đã mai một, chỉ còn hội xuân Tống Vũ được duy trì và tổ chức vào ngày mồng 2 tết Âm lịch. Các hội hát chèo hiện nay đang từng bước được phục hồi ở một số thôn, góp phần tích cực vào sự phát triển của phong trào văn hóa, văn nghệ địa phương.


[1] Đông Hải Đại vương Đoàn Thượng (thế kỷ XIII), Nam Hải Đại vương Phạm Tử Nghi (thế kỷ XVI)

[2]. Thần tích, sắc phong Thành hoàng làng đến nay đã thất lạc, tài liệu ghi truyền thuyết về Thành hoàng làng Tống Văn xưa bằng chữ Hán do đồng chí Phan Chẩm khảo cứu và lưu trữ cho biết: Chưa rõ thời kỳ nào, có một Thái Bà sinh ra bào thai có 3 thai nhi vào ngày 6 tháng giêng. Sau đấy Thái Bà lại sinh một bào thai 4 thai nhi vào rằm tháng 8 âm lịch. Sau này khi làng nhớ công ơn đã xây miếu thờ anh cả ở miếu Đông, anh 2 ở miếu Tây anh thứ 3 ở đền Nam (miếu Trung) còn 2 vị ở miếu Bắc (cổng Bắc), 2 vị ở Đền Trần. Có thể do đặc thù cộng đồng cư dân Vũ Chính đến từ nhiều vùng quê đem theo tín ngưỡng từ các vùng quê khác.

Chú thíchSửa đổi

Tham khảoSửa đổi