Watanabe Mayu (渡辺 麻友, Độ Biên Ma Hữu) sinh ngày 26 tháng 3, 1994 (26 tuổi), là một nữ ca sĩ, diễn viên người Nhật Bản, cựu thành viên Team B AKB48. Trong các kì tổng tuyển cử của AKB48, cô luôn đạt thứ hạng cao và được xem như là một thành viên kì cựu của nhóm. Cô tốt nghiệp AKB48 vào ngày 26 tháng 12 năm 2017.

Mayu Watanabe
Thông tin nghệ sĩ
Tên bản ngữ渡辺 麻友
Nghệ danhMayuyu
Sinh26 tháng 3, 1994 (26 tuổi)
Saitama, Nhật Bản
Thể loạiJ-pop
Năm hoạt động8 tháng 4 năm 2007 - nay
Hãng đĩaAKS
You! Be Cool/King Records
Pony Canyon
Sony Music Records
Hợp tác vớiAKB48
Watarirouka Hashiritai
Websitewww.watanabemayu.jp

Khẩu hiệuSửa đổi

み〜んなの目線を、いただきまゆゆ~まゆゆこと渡辺麻友です (tiếng Nhật)

Minna no mesen o, itadaki Mayuyu. Mayuyu koto Watanabe Mayu desu

(Thu hút mọi ánh nhìn, Mayuyu, Mayuyu hay Watanabe Mayu)

Sự nghiệp âm nhạcSửa đổi

2007 - 2017: Thành viên AKB48Sửa đổi

Tháng 12 năm 2006, cô vượt qua buổi thử giọng và trở thành thành viên thế hệ thứ ba của AKB48. Cô được xếp vào Team B và được thành viên Rumi Yonezawa đặt cho nghệ danh Mayuyu.[1] Ngày 8 tháng 4, cùng với đội hình Team B lần đầu tiên ra mắt trong sân khấu "Seishun Girls". Ngày 18 tháng 7, Mayuyu góp mặt trong 4th single "BINGO!" cùng với Kashiwagi YukiHirashima Natsumi. Đây cũng là lần đầu có mặt trong dàn Senbastu của AKB48.

Năm 2009, Mayuyu được chọn vào sub-unit Watarirouka Hashiritai, sau đó đổi tên thành Watarirouka Hashiritai 7. Ngày 8 tháng 7 năm 2009, cô đã xếp hạng thứ tư với số phiếu là 2,625 trong cuộc tổng tuyển cử đầu tiên để xác định đội hình cho đĩa đơn thứ 13 của nhóm.[2]

Năm 2010, trong kì tổng tuyển cử cho đĩa đơn thứ 17 của nhóm, cô đứng thứ 5 với số phiếu là 20088.[3][4] Trong bài phát biểu, cô đã khóc và nói:"Tôi cảm thấy không hài lòng với bản thân mình hiện nay".

Cô xuất hiện trên trang bìa của tạp chí UP to boy tháng 12 năm 2010 cùng với Airi Suzuki từ nhóm Cute. Đó là lần hợp tác gravure đầu tiên giữa Hello! Project và AKB48.[5]

Vào ngày 13 tháng 5 năm 2011, cô đã phát hành photobook đầu tiên của mình "Mayuyu, Shueisha". Cô nhận xét rằng cuốn sách "chứa đựng rất nhiều cảm xúc mà tôi chưa từng bộc lộ cho đến bây giờ, tôi thực sự hài lòng với nó!" Về ảnh bìa của cô, cô nói, "Mặc dù bối rối, tôi đã cố gắng hết sức mình trên trang bìa, vì vậy tôi mong nhiều người có thể xem nó!"[6] Tổng số bản bán ra của cuốn sách được đứng thứ 3 trong bảng xếp hạng Oricon ngày 23 tháng 3.

Trong tổng tuyển cử cho đĩa đơn thứ 22 "Kotoshi mo Gachi Desu", Mayuyu đứng thứ 5 với số phiếu là 59118.[7] Khác với những năm trước, cô đã phát biểu với nụ cười trên môi: "Phiếu bầu chỉ là những con số, tôi không muốn bị phụ thuộc vào điều đó. Để có thể tiếp tục, tôi sẽ tin tưởng và chính bản thân mình, tin vào fans, tôi sẽ vững bước trên con đường đã xác định".

Năm 2012, Mayuyu có vai chính đầu tiên trong bộ phim truyền hình Nhật Bản Saba Doru phát sóng ban đêm từ ngày 13 tháng 1 trên TV Tokyo. Cô đóng vai một giáo viên trung học 38 tuổi, bị học sinh ghét, đồng thời có một cuộc sống ẩn là thần tượng rất nổi tiếng Mayu Watanabe, dựa về cuộc sống thực của cô. Vào ngày 29 tháng 2, Mayuyu đã phát hành đĩa đơn đầu tay của cô, "シンクロときめき Synchro Tokimeki", đây cũng là ca khúc chủ đề mở đầu cho bộ phim.[8]

Ngày 26 tháng 4 năm 2012, cô được chọn làm seiyuu cho nhân vật Chieri trong bộ anime AKB0048 - nhân vật chính của phim và là một thành viên của nhóm phụ AKB48 NO NAME, hát các ca khúc chủ đề mở đầu và kết thúc.[9][10] Bộ phim có một nhân vật phụ, Mayu Watanabe Mark 3, được mô phỏng theo ý thích của cô, và được lồng tiếng bởi Yukari Tamura. Cô đã thể hiện lại vai diễn Chieri Sono cho phần thứ hai của loạt phim được phát sóng vào năm 2013.

Trong kì tổng tuyển cử cho đĩa đơn thứ 27 "Fan ga Erabu 64 Giseki", Mayuyu đứng thứ 2 với số phiếu là 72574.[11][12] Trong bài phát biểu của cô: "Nếu năm sau (2013) còn có tổng tuyển cử, thì tôi muốn mình sẽ đứng thứ nhất. Hiện tại, tôi hãy còn non nớt, nhưng lần tới, tôi muốn hướng đến vị trí No.1"

Ngày 25 tháng 7 năm 2012, cô phát hành đĩa đơn solo thứ hai “大人ジェリービーンズOtona Jelly Beans".[13] Ca khúc đã đạt vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng Oricon.[14] Ngày 24 tháng 8, trong ngày đầu tiên của concert của AKB48 tại Tokyo Dome cô được thông báo chuyển từ Team B sang team A.[15] Ngày 21 tháng 11, cô ra mắt đĩa đơn solo thứ 3 "ヒカルものたち Hikaru Monotachi", và đạt hạng nhất trên bảng xếp hạng Oricon. Đĩa đơn bao gồm 5 phiên bản, bao gồm một cuốn sách minh họa. Ca khúc B-side "Sayonara no Hashi" cũng được chọn làm nhạc nền cho anime Nerawareta Gakuen, bộ phim mà cô lồng tiếng cho vai thứ chính. nhỏ|250x250px|Watanabe Mayu biểu diễn cùng AKB48 vào năm 2013 Ngày 20 tháng 2 năm 2013, Mayuyu được chọn làm trung tâm trong đĩa đơn thứ 30 của nhóm, "So Long!".[16] Ngày 19 tháng 4, cô phát hành photobook thứ hai Seifuku Zukan Saigo no Seifuku. Trong kì tổng tuyển cử cho đĩa đơn thứ 32 "Yume wa Hitori ja Mirarenai", cô đứng vị trí thứ 3 với số phiếu là 101210.[17] Cô phát biểu: "Tôi tự tin rằng cống hiến của tôi dành cho AKB48 không thua kém bất kì ai. Và vị trí thứ 3 này, tôi vẫn có thể đi xa hơn nữa. Với niềm hy vọng cất giữ trong tim, tôi sẽ đặt mục tiêu cao hơn và cố gắng hết sức có thể. Tổng tuyển cử năm sau, tôi muốn tên mình được xướng lên cuối cùng". Ngày 10 tháng 7 năm 2013, cô phát hành đĩa đơn solo thứ 4 “ラッパ練習中 Rappa Renshuu-Chuu" [18]

Năm 2014, Mayuyu tham gia chương trình truyền hình Utage!Renai Sosenkyo. Ngày 24 tháng 4, "AKB48 Group dai Sokaku Matsuri" được tổ chức ở Zepp Diver City, cô được chuyển giao từ Team A sang team B. Sau đó, vào ngày 28 tháng 4, cô xuất hiện trở lại trên sân khấu với team B "Pajama Drive". Ngày 21 tháng 5, cô được chọn làm trung tâm trong đĩa đơn thứ 36 "Labrador Retriever".

Ngày 7 tháng 6 năm 2014, trong tổng tuyển cử cho đĩa đơn thứ 37 "Yume no Genzaichi ~Rival wa Doko da~", Mayuyu đạt được số phiếu kỉ lục là 159.854 phiếu. Đánh bại quán quân năm ngoái là Sashihara Rino (HKT48), lần đầu tiên đứng trên đỉnh vinh quang của tổng tuyển cử và trở thành trung tâm của AKB48. Cô cũng là thành viên duy nhất luôn nằm trong TƠP 7 trong 6 mùa kì tổng tuyển cử được tổ chức từ trước tới nay. Ngoài ra theo báo Shinkyoho, các fan tại nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã đóng góp 35.000 phiếu bầu trong tổng số 159.854 phiếu đó. Cùng với đó, vào ngày 27 tháng 8, cô làm trung tâm trong AKB48 đĩa đơn "Kokoro no Placard". [19]

Ngày 3 tháng 9, Mayuyu được trao giải "Kiểu tóc dài quyến rũ" trong "The Beaty Week Award 2014 The Best of Beauty", và đây cũng là giải thưởng cá nhân đầu tiên của cô. Ngày 26 tháng 11, AKB48 phát hành đĩa đơn thứ 38 "Kibouteki Refrain" bao gồm 2 trung tâm là cô và Miyawaki Sakura.

Ngày 14 tháng 4 năm 2015, bộ phim truyền hình "Fight! Bookstore Girl" được phát sóng bởi Fuji TVKansai TV, do cô và Inamori Izumi đồng thủ vai chính.[20] Đây cũng là lần đầu tiên cô đảm nhiệm vai chính cho một drama vào "giờ vàng". Cùng với đó, Mayuyu cũng kiêm luôn ca khúc chủ đề cho drama "出逢いの続きDeai no Tsuzuki", đó cũng là đĩa đơn solo thứ 5 của cô.[21] Bộ phim kết thúc vào ngày 9 tháng 6, với cảnh cô xuất hiện trong một chiếc váy cưới lộng lẫy. Từ tháng 5 cho đến tháng 6 diễn ra tổng tuyển cử cho đĩa đơn thứ 46 "Juni Yoso Fukano, Oare no Ichiya" và Mayuyu đứng vị trí thứ ba với tổng 165.789 phiếu bầu.

Trong cuộc tổng tuyển cử cho đĩa đơn thứ 45 "Bokutachi wa Dare ni Tsuiteikeba ii" diễn ra ngày 18 tháng 6 năm 2016, cô đứng vị trí thứ 2 với 175,613 phiếu bầu. Tháng 10 năm 2016, Mayuyu phát hành photobook thứ 3.

Ngày 17 tháng 6 năm 2017, trong tổng tuyển cử lần thứ 9, Mayuyu đứng thứ 2 với 149,132 phiếu bầu. Đồng thời ngay tại sự kiện này, cô cũng thông báo sẽ tốt nghiệp khỏi nhóm vào cuối năm.[22] Showcase tốt nghiệp của cô được tổ chức vào ngày 31 tháng 10[23], sau đó cô có một buổi chia tay vào ngày 18 tháng 11. [24] Cô cũng biểu diễn lần cuối tại nhà hát AKB48 vào ngày 26 tháng 12[25] và trên sân khấu Kouhaku Uta Gassen của đài NHK vào ngày 27, đó cũng là buổi diễn cuối cùng của cô với tư cách thành viên AKB48.[26]

2018 - nay: Sau khi tốt nghiệpSửa đổi

Vào tháng 1 năm 2018, đã có thông báo rằng Watanabe Mayu sẽ đóng vai chính trong Amélie của Nhật Bản được chuyển thể từ bộ phim cùng tên. Việc sản xuất diễn ra từ ngày 18 tháng 5 đến ngày 3 tháng 6 tại Nhà hát Galaxy ở Shinagawa, Tokyo và ngày 7 tháng 610 tại Hội trường thí điểm Morinomiya ở Osaka.[27]

Vào tháng 4 năm 2018, cô đã có bộ phim truyền hình đầu tiên sau AKB48 mang tên Gan Shoumetsu no Wana ~ Kanzen Kankai no Nazo ~ ( ん 消滅 罠 ~ 完全 寛 解 の ) cô đóng vai một điều tra viên bảo hiểm.[28] Vào tháng 8 năm 2018, cô đóng vai chính trong bộ phim truyền hình đặc biệt Meibugyou! Tooyama no Kinshirou ( 名 奉行! 遠山 の 金 ) , một phần tiếp theo từ cùng một bộ trong năm 2017.[29] Sau hai bộ phim truyền hình đặc biệt, Watanabe sau đó đã có vai chính trong một bộ phim Itsuka Kono Ame ga Yamu Hi Made ( い つ か こ ま で ) vào tháng 8 năm 2018. Nhân vật của cô, Hikari, là một cô gái có ước mơ trở thành một nữ diễn viên nhạc kịch, nhưng giấc mơ của cô đã tan vỡ khi anh trai cô được cho là đã giết người.[30]

Watanabe Mayu cũng đã làm khách mời cho một số chương trình âm nhạc, cụ thể là Utacon và UTAGE. Ở Utacon, cô hát và hợp tác với một số diễn viên nhạc kịch nổi tiếng.[31]

Đến cuối năm 2018, Watanabe được bầu làm đại sứ cho JAL Honolulu Marathon.[32]

Một số thông tin khác về MayuSửa đổi

  • Là em út trong gia đình có ba chị em. Tên của cô là do bà cô đặt, với ý nghĩa mong cô sẽ "phát triển nhanh như cây gai dầu và mong cô có thật nhiều bạn bè". Mẹ của cô miêu tả cô là một "mutti". Phòng cô chật cứng anime và các đồ 2D nên cô thường xuyên ra ngủ ở phòng khách.[33]
  • Năm lớp 6 trường tiểu học tự đi mua một cái kính khung màu đỏ giống nhân vật Sarutobi Ayame, một cô nàng ninja trong tác phẩm manga Gintama
  • Từng vắng mặt trong các stage của Team B, khoảng thời gian từ 31 tháng 5 tới 10 tháng 7 năm 2007 vì lý do là chấn thương chân. Trong bài hát “Shonichi” có một câu hát về Mayu 
  • Bài hát dự tuyển vào AKB48: KISS or KISS 
  • Rất thích ăn Karaage, account Twitter cũng đặt là Karaage_Mayu
  • Từng nói qua dự tuyển vào AKB vì nghĩ là trong AKB ai cũng là otaku giống mình
  • Khá sợ chó, đặc biệt là chó to
  • Không thích ăn rau và dưa hấu cũng là một loại rau với Mayu
  • Cho tới hiện tại vẫn là thành viên duy nhất trụ trong dàn Kami7 từ lần tổng tuyển cử đầu tiên tới giờ.
  • Có khả năng vẽ khá tốt
  • Rất thân với Kashiwagi Yuki, hai người cùng thế hệ, cùng nhau trải qua gần 11 năm trong AKB. Mặc dù ngoài miệng vẫn hay nói mình là mẹ con nhưng luôn hành xử như tình nhân. Yukirin từng nói mình và Mayu "nhất thể đồng tâm" (cùng một thể xác, cùng một linh hồn), nên mối quan hệ giữa hai người ai cũng biết mờ ám như thế nào.
  • Là nhân vật được các thành viên trong 48 group bầu chọn có “mỹ mông” nhất. Từng nói là dường như mọi chất dinh dưỡng đều đổ dồn nuôi Oshiri hết. Nhờ Yukirin nên đã cùng với Oshima Yuko tạo thành “Oshiri sister”. 

Danh sách đĩa nhạcSửa đổi

AKB48Sửa đổi

Đĩa đơnSửa đổi

  • BINGO!
  • 僕の太陽 (Boku no Taiyou)
  • 夕陽を見ているか? (Yuuhi wo Miteiru ka?)
  • ロマンス、イラネ (Romance, Irane)
  • 桜の花びらたち 2008 (Sakura no Hanabiratachi 2008)
  • Baby! Baby! Baby!
  • 大声ダイヤモンド (Oogoe Diamond)
  • 10年桜 (10nen Zakura)
  • 涙サプライズ! (Namida Surprise!)
  • 言い訳Maybe (Iiwake Maybe)
  • RIVER
  • 桜の栞 (Sakura no Shiori)
    • マジスカロックンロール (Majisuka Rock'n'Roll)
  • ポニーテールとシュシュ (Ponytail to Shushu)
    • マジジョテッペンブルース (Majijo Teppen Blues)
  • ヘビーローテーション (Heavy Rotation)
    • ラッキーセブン (Lucky Seven)
    • 野菜シスターズ (Yasai Siters)
  • Beginner
  • チャンスの順番 (Chance no Junban)
    • 予約したクリスマス (Yoyaku Shita Christmas)
    • ラブ・ジャンプ (Love Jump)
  • 桜の木になろう (Sakura no Ki ni Narou)
  • 誰かのために -What can I do for someone?-(Dareka no Tame ni - What can I do for someone?)
  • Everyday、カチューシャ (Everyday, Katyusha)
  • フライングゲット (Flying Get)
    • 青春と気づかないまま (Seishun to Kizukanai Mama)
    • アイスのくちづけ (Ice no Kuchizuke)
    • 野菜占い (Yasai Uranai)
  • 風は吹いている (Wa Fuiteiru)
  • 上からマリコ (Ue Kara Mariko)
    • ノエルの夜 (Noel no Yoru)
    • 呼び捨てファンタジー (Yobisute Fantasy)
  • GIVE ME FIVE!
    • 羊飼いの旅 (Hitsujikai no Tabi)
  • 真夏のSounds good ! (Manatsu No Sounds Good)
    • ちょうだい、ダーリン! (Choudai, Darling!)
    • 君のために僕は… (Kimi no Tame ni Boku wa...)
  • ギンガムチェック (Gingham Check)
    • 夢の河 (Yume no Kawa)
  • UZA
    • 孤独な星空 (Kodoku na Hoshizora)
  • 永遠プレッシャー (Eien Pressure)
    • とっておきクリスマス (Totteoki Christmas)
    • 永遠より続くように (Eien Yori Tsuzuku You ni)
  • So Long
    • Ruby
  • さよならクロール (Sayonara Crawl)
    • イキルコト (Ikiru koto)
  • 恋するフォーチュンクッキー (Koisuru Fortune Cookie)
    • 涙のせいじゃない (Namida no Sei Janai)
    • 西郷のドア (Saigo no Door)
  • ハート・エレキ (Heart Ereki)
    • キスまでカウントダウン (Heart Ereki)
  • 君の微笑みを夢に見る (Kimi no Hohoemi wo Yume ni Miru)
    • Mosh&Dive
    • Party is over
  • 前しか向かねえ (Maeshika Mukanee)
  • ラブラドール・レトリバー (Labrador Retriever)
    • 今日までのメロディー (Kyou Made no Melody)
    • Bガーデン - (B Garden)
  • 心のプラカード (Kokoro no Placard)
    • セーラーゾンビ - (Sailor Zombie)
    • 教えてMommy (Oshiete Mommy)
  • 希望的リフレイン (Kibouteki Refrain)
    • ロンリネスクラブ (Loneliness Club)
  • Green Flash
    • 春の光 近づいた夏 (Haru no Hikari Chikadzuita Natsu)
    • 履物と傘の物語 (Hakimono to Kasa no Monogatari)
  • 僕たちは戦わない (Bokutachi wa Tatakawanai)
    • バレバレ節 (Barebare Bushi)
    • 君の第二章 (Kimi no Dai-ni shou)
  • ハロウィン・ナイト (Halloween Night)
  • 唇にBe My Baby (Kuchibiru ni Be my Baby)
  • 君はメロディー (Kimi wa Melody)
  • 翼はいらない (Tsubasa wa Iranai)
  • LOVE TRIP
    • しあわせを分けなさい (Shiawase wo Wakenasai)
  • ハイテンション (High Tension)
  • Shoot Sign
    • 悲しい歌を聴きたくなった (Kanashii uta wo kikitaku natta)
  • 願いごとの持ち腐れ (Negaigoto no Mochigusare)
    • 前触れ (Maebure)
  • #好きなんだ (#Sukinanda)
  • 11月のアンクレット (11gatsu no Anklet)
    • サヨナラで終わるわけじゃない (Sayonara de owaru wake ja nai) - Bài hát tốt nghiệp

AlbumSửa đổi

  • 神曲たち (Kamikyokutachi)
    • Baby! Baby! Baby! Baby!
    • 自分らしさ (Jibun rashisa)
    • 君と虹と太陽と (Kimi to Niji to Taiyo to)
  • ここにいたこと (Koko ni Ita koto)
    • 少女たちよ (Shojotachi yo)
    • 恋愛サーカス (Renai Circus)
    • わがままコレクション (Wagamama Collection)
    • ここにいたこと (Koko ni Ita koto)
  • 1830m
    • ファースト・ラビット (First Rabbit)
    • ノーカン (No Can)
    • アボガドじゃね〜し… (Avocado Janeshi)
    • 大事な時間 (Daiji na Jikan)
    • いつか見た海の底 (Itsuka Mita Umi no Soko)
    • 行ってらっしゃい (Itterasshai)
    • 青空よ 寂しくないか? (Aozora yo Sabishikunai ka?)
  • 次の足跡 (Tsugi no Ashiato)
    • After Rain
    • 確信がもてるもの (Kakushin ga Moterumono)
    • 僕は頑張る (Boku wa Ganbaru)
    • Stoicな美学 (Stoic na Bigaku)
  • ここがロドスだ、ここで跳べ!(Koko ga Rhodes da, Koko de tobe!)
    • 愛の存在 (Ai no Sonzai)
    • 純情ソーダ水 (Junsui Soda Mizu)
    • To goで (To go de)
  • Single CD "Kokoro no Hane" (Team Drangon từ AKB48)
    • Kokoro no Hane
    • Sekaiju no Ame
  • So long
    • Sugar Rush (ca khúc chủ đề kết thúc cho bộ phim cu aDisney "Wreck-It Ralph"

Sân khấuSửa đổi

Team B 1st Stage "Seishun Girls"Sửa đổi

  • 雨の動物園 (Ame no Doubutsuen)
  • ふしだらな夏 (Fushidara nã Natsu)
  • シンデレラは騙されない (Cinderella wa Damasarenai)

Team B 2nd Stage "Aitakatta"Sửa đổi

  • 嘆きのフィギュア (Nageki no Figure)
  • 渚のCHERRY (Nagisa no CHERRY)
  • 背中から抱きしめて (Senaka Kara Dakishimete)
  • リオの革命 (Rio no Kakumei)

Team B 3rd Stage "Pajama Drive"Sửa đổi

  • パジャマドライブ (Pajama Drive)

Team B 4th Stage "Idol no Yoake"Sửa đổi

  • 残念少女 (Zannen Shoujo)

AKB48 in Theater G Rosso "Yume wo Shinaseru Wake ni Ikanai"Sửa đổi

  • 初めてのジェリービーンズ (Hajimete no Jelly Beans)

Team B 5th Stage "Theatre no Megami"Sửa đổi

  • 初恋よ こんにちは (Hatsukoi yo, Konnichiwa)

Shinoda Team A Waiting StageSửa đổi

  • スカート、ひらり (Skirt, Hirary) (Team A 1st Stage "Party ga Hajimeru yo")
  • ガラスのI LOVE YOU (Glass no I LOVE YOU) (Team A 2nd Stage "Aitakatta")

Yokoyama Team A Waiting StageSửa đổi

  • キャンディー (Candy) (Team B 5th Stage "Theater no Magami")

Team B 6th Stage "Pajama Drive"Sửa đổi

  • てもでもの涙 (Temodemo no Namida)

Ca khúc soloSửa đổi

Năm STT Tựa đề Ngày phát hành Xếp hạng Doanh số

(Oricon)[34]

OriconWeekly

Singles Chart [34]

BillboardJapanHot100*

[35]

RIAJDigitalTrackChart*

[36]

TWN

Combo

[37]

Tuần đầu tiên Tổng
2012 1 "Synchro Tokimeki" (シンクロときめき?) 29 tháng 2, 2012 (2012-02-29) 2 2 9 123,237 158,884
2 "Otona Jellybeans" (大人ジェリービーンズ?) 25 tháng 7, 2012 (2012-07-25) 3 3 9 14 87,993 109,309
3 "Hikaru Monotachi" (ヒカルものたち?) 21 tháng 11, 2012 (2012-11-21) 1 3 91,907 122,381
2013 4 "Rappa Renshūchū" (ラッパ練習中?) 10 tháng 7, 2013 (2013-07-10) 3 5 67,329 95,379
2015 5 "Deai no Tsuzuki" (出逢いの続き?) 10 tháng 6, 2015 (2015-06-10) 2 3 48,240 -

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ AKBingo!. Tập 138 (bằng tiếng Nhật). 8 tháng 6 năm 2011. 
  2. ^ "AKB48選抜総選挙"開票! トップ当選の前田敦子「AKBに人生捧げる!」” (bằng tiếng Nhật). Oricon Inc. 9 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2011. 
  3. ^ “「AKB48総選挙」で大波乱 大島優子が初戴冠で前田のV2阻止! ニュース-ダイエット・エステ・美容のオリコンランキング” (bằng tiếng Nhật). 
  4. ^ AKB48、女性グループ史上初の2作連続初週売上50万枚超え ニュース-ORICON STYLE
  5. ^ “AKB48×ハロプロがグラビア初コラボ! 渡辺麻友×鈴木愛理が網タイツ姿で表紙飾る”. Oricon Inc. 27 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2011. 
  6. ^ “AKB48's Watanabe Mayu to release her first photobook "Mayuyu" in May”. Tokyohive. 18 tháng 4 năm 2011. 
  7. ^ “AKB48『第3回選抜総選挙!選抜メンバーフォト&完全レポート』”. Oricon. 9 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2011. 
  8. ^ “さばドル:テレビ東京”. www.tv-tokyo.co.jp. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2018. 
  9. ^ “Watanabe Mayu To Play A Teacher And Idol In New Drama”. Japanverse. 4 tháng 1 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  10. ^ “AKB48's AKB0048 Anime Cast Roles Revealed – Interest”. Anime News Network. 18 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2013. 
  11. ^ “AKB48第4回総選挙、大島優子が2年ぶり2回目のトップに” (bằng tiếng Nhật). Natalie. 6 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2012. 
  12. ^ “AKB48第4回総選挙、トップ16メンバーのコメント全紹介” (bằng tiếng Nhật). Natalie. 7 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2012. 
  13. ^ “2nd single "Otona Jelly Beans". 19 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2012. 
  14. ^ “2012年07月23日〜2012年07月29日のCDシングル週間ランキング(2012年08月06日付)” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2013. 
  15. ^ 組閣後新体制 (bằng tiếng Nhật). AKB48 official site. 24 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2012. 
  16. ^ “AKB48 performs their upcoming single "So long!". Tokyohive.com. 22 tháng 1 năm 2013. 
  17. ^ “AKB48 32ndシングル 選抜総選挙” [32nd single selection elections]. AKB48 Official Site (bằng tiếng Nhật). 8 tháng 6 năm 2013. 
  18. ^ “Watanabe Mayu reveals the cover art for her 4th solo single”. Tokyohive.com. 17 tháng 6 năm 2013. 
  19. ^ “Mayu Watanabe Crowned #1 in AKB48 General Election Results”. Anime News Network (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2018. 
  20. ^ “Watanabe Mayu to play bookstore clerk in new Fuji TV drama”. tokyohive. 6Theory Media, LLC. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2016. 
  21. ^ まゆゆ、6・10に2年ぶりソロシングル ファッション"50変化"盤も. Oricon (bằng tiếng Nhật). 30 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2015. 
  22. ^ Watanabe Mayu announces her graduation from AKB48. Tokyohive (bằng tiếng Nhật). 8 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2017. 
  23. ^ “アイドル貫いた11年”渡辺麻友の卒業コンサートに17000人が熱狂 卒コンの熱かったポイントを振り返る<渡辺麻友卒業コンサート>. Modelpress (bằng tiếng Nhật). Netnative. 31 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2018. 
  24. ^ AKB48 Mayu Watanabe was finished her last handshake, "I had very happy time really" (bằng tiếng Nhật). Mainichi Shinbunsya. 19 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2018. 
  25. ^ “卒業公演終えた渡辺麻友、AKB48人生を振り返る「11年間、間違ってなかった」”. Natalie (bằng tiếng Nhật). Natasha. 27 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2018. 
  26. ^ “【紅白】AKB48まゆゆが有終の美 視聴者人気1位は「11月のアンクレット」”. ORICON NEWS (bằng tiếng Nhật). oricon ME. 31 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2018. 
  27. ^ 渡辺麻友、日本初上演ミュージカル「アメリ」の主演に抜擢. 音楽ナタリー (bằng tiếng Nhật). Natasha. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2018. 
  28. ^ “Watanabe Mayu to star in her first major drama role post-AKB48”. Neo Tokyo 2099. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2019. 
  29. ^ “Watanabe Mayu appears in Tooyama no Kinshirou SP”. 48/46 J-POP & Showbiz Daily News. 17 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2019. 
  30. ^ “Watanabe Mayu lands first TV drama role since leaving AKB48”. J Showbiz. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2019. 
  31. ^ “渡辺麻友(まゆゆ)&城田優がうたコン(2018年10月23日)に出演!ホール・ニュー・ワールド!”. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2019. 
  32. ^ “Watanabe Mayu appointed Honolulu Marathon Ambassador”. J Showbiz. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2019. 
  33. ^ “Former Otaku Girl Becomes a Super Idol? AKB48’s Next Generation Ace: Mayu Watanabe | Tokyo Otaku Mode News”. Otaku Mode (bằng tiếng en-US). Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2018. 
  34. ^ a ă “オリコンランキング情報サービス「you大樹」”. Oricon. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2011.  (subscription only)
  35. ^ “Hot 100|JAPAN Charts|Billboard JAPAN” (bằng tiếng Nhật). Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2011.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  36. ^ 有料音楽配信チャート (bằng tiếng Nhật). RIAJ. 
  37. ^ “G-Music 風雲榜 (綜合榜)”. web.archive.org. 10 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2019.