AKB48

Nhóm nhạc nữ thần tượng nổi tiếng Nhật Bản

AKB48 (tiếng Nhật: エーケービー フォーティーエイト, chuyển tự Ēkēbī Fōtīeito, tiếng Anh: A.K.B. Forty-Eight) là một nhóm nhạc thần tượng nữ nổi tiếng nhất Nhật Bản, được thành lập bởi Akimoto Yasushi năm 2005[2], thường được mô tả như là một hiện tượng xã hội[3]. Hiện nay, nhóm có khoảng 600 thành viên ở độ tuổi từ 13 đến giữa độ tuổi 29[4].AKB48 hiện đang nắm giữ kỷ lục Guinness về "Nhóm nhạc Pop có số lượng thành viên đông nhất"[5]. Họ cũng là một trong những nhóm nhạc có doanh thu cao nhất trên thế giới, với doanh thu kỷ lục bán đĩa năm 2011 là trên 211 triệu USD và năm 2012 là 226 triệu USD chỉ riêng ở Nhật Bản.[6]

AKB48
Thông tin nghệ sĩ
Nguyên quánAkihabara, Tokyo, Nhật Bản Nhật Bản
Thể loạiJ-Pop
Năm hoạt động2005 (2005)–nay
Công ty quản lýVernalossom (2006-nay/ trước là AKS)
Defstar Records (10/2006-8/2008)
You, Be Cool!/KING RECORDS (23/8/2008-nay)
Gold Typhoon Music/Warner Music Taiwan (Đài Loan)
Hãng đĩa
Hợp tác với
Websiteakb48.co.jp
Thành viênDanh sách thành viên
Cựu thành viênDanh sách cựu thành viên
Thông tin YouTube
Kênh
Năm hoạt động2006—nay
Thể loạiÂm nhạc
Lượt đăng ký2,47 triệu (tính đến 26/4/2021)
YouTube Silver Play Button 2.svg100.000 lượt đăng ký 2010
YouTube Gold Play Button 2.svg1.000.000 lượt đăng ký 2015

40 đĩa đơn mới nhất của nhóm liên tiếp đứng đầu bảng xếp hạng Đĩa đơn hàng tuần của Oricon và bán trên triệu bản. Tính đến năm 2018, AKB48 trở thành nhóm nhạc có doanh thu bán đĩa kỉ lục 56 triệu bản sao được bán ra theo Oricon [7].Đĩa đơn bán chạy nhất của họ "Teacher,Teacher" bán được hơn 3 triệu bản trong năm 2018 theo Billboard/Soundscan [8] và tổng cộng tất cả 3,8 triệu phiếu bầu đĩa đơn tổng tuyển cử (nếu tính thêm hình thức bỏ phiếu khác). Trong năm 2010, ca khúc "Beginner" và "Heavy Rotation" xếp hạng đầu tiên và thứ 2 trong danh sách đĩa đơn bán chạy nhất Nhật Bản trong năm,[9] trong khi vào năm 2011, 5 đĩa đơn của nhóm chiếm đóng cả 5 vị trí đầu Bảng xếp hạng đĩa đơn Oricon hàng năm [10]. Tính đến tháng 4/2019, nhóm đã bán được hơn 60 triệu bản ghi âm[11], bao gồm 6 triệu bản album, và theo bảng xếp hạng của Oricon, AKB48 giữ kỷ lục cho đĩa đơn bán ra tại Nhật Bản bởi một nhóm nhạc nữ. Từ năm 2010 đến 2020, các đĩa đơn của AKB48 đã chiếm ít nhất 2 vị trí đầu của Bảng xếp hạng đĩa đơn hàng năm của Oricon.

Không giống như các nhóm nhạc thần tượng khác ở Nhật Bản, AKB48 hoạt động theo mô hình "Thần tượng mà bạn có thể gặp mặt" ("Idol you can meet") và có nhà hát riêng ở Akihabara, Tokyo, đặt trên tầng 8 tòa nhà Don Quijote, nơi họ biểu diễn trong tuần và có nhiều suất diễn vào thứ Bảychủ nhật, nhóm còn có các buổi concert tại các sự kiện trước công chúng và sự kiện "bắt tay" (Handshake Event), nơi người hâm mộ có thể gặp các thành viên trong nhóm. Một đĩa đơn hiện tại của AKB48 chứa từ 4 đến 5 bài hát (kèm 4-5 PV [Promotional video - Phim video quảng bá] của bài đó) nhưng chỉ bài hát chính được quảng bá trên các chương trình âm nhạc, truyền hình, quảng cáo và phim. Akimoto đã mở rộng mô hình trên thành một số nhóm chị em ở Nhật Bản, Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan, Đài Loan, PhillippinesViệt Nam.

Khái niệmSửa đổi

 
Nhà hát AKB48 tại Akihabara, Tokyo

AKB48 ra đời theo mô hình "Thần tượng mà bạn có thể gặp mặt" (Idol you can meet). Thần tượng Nhật Bản là những nghệ sĩ biểu diễn trực tiếp thu hút sự ủng hộ của fan, việc tương tác với fan giúp nhóm duy trì và gia tăng lượng fan hâm mộ trung thành. Akimoto Yasushi cho biết ông muốn tạo ra nhóm nhạc thần tượng độc đáo, không giống như các nhóm nhạc khác, họ sẽ biểu diễn tại các buổi concert, chủ yếu xuất hiện trên truyền hình và sẽ biểu diễn thường xuyên tại nhà hát của chính họ, ngoài ra fan hâm mộ có thể gặp các thành viên trong nhóm trực tiếp tại các sự kiện "bắt tay" (Handshake Event).

Nhóm được chia thành nhiều Team, để giảm bớt khối lượng công việc của các thành viên (vì suất diễn gần như hàng ngày của nhà hát chỉ có một team tại một thời điểm) và cho phép AKB48 biểu diễn đồng thời ở một số nơi. Theo cựu thành viên Misaki Iwasa, mỗi team có một hình tượng riêng: Team A đại diện cho tự do; Team B với hình tượng thần tượng cùng trang phục dễ thương, còn Team K với hình tượng mạnh mẽ. Ban đầu, mỗi team sẽ có 16 thành viên với tổng số là 48, nhưng số thành viên của nhóm đã thay đổi theo thời gian, và đã vượt quá 120 người. Các thành viên mới được gọi là thực tập sinh (研究生, kenkyūsei) sẽ có thời điểm biểu diễn thay thế.

Nhắc đến AKB48, nhiều người nghĩ rằng số lượng thành viên của nhóm là 48 người. Tuy nhiên, số 48 được lấy từ tên văn phòng hội chủ tịch, "office48". Văn phòng được đặt ở tỉnh Chiba, và trong tiếng Nhật thì "Chiba" đọc giống "48". Đây cũng là “đại bản doanh” nơi những cô gái thường xuyên biểu diễn.[12]

Độ tuổi của các thành viên từ thiếu niên đến hơn 20 và được chọn từ các buổi thử giọng. Các thành viên không được phép hẹn hò và phải ửng xử tốt trước công chúng[13]; nếu vi phạm sẽ bị phạt, nặng nhất là bị đuổi khỏi nhóm. AKB48 có một hệ thống cho phép các thành viên "tốt nghiệp"- nghĩa là rời khỏi nhóm và được thay thế bằng các thực tập sinh được thăng cấp, đồng thời sẽ có buổi biểu diễn tốt nghiệp trước khi rời nhóm.[14][15]

Lịch sửSửa đổi

2005–2006: Ra đời & 2 thế hệ đầu tiênSửa đổi

 
AKB48 chuẩn bị cho buổi ra mắt vào tháng 3/2006

Vào tháng 7 năm 2005, Akimoto Yasushi tổ chức buổi thử giọng để ra mắt nhóm nhạc nữ mới. Trong số 7.924 người tham gia, 24 người được chọn là thành viên thuộc thế hệ đầu tiên, sau đó họ trải qua 1 tháng huấn luyện trước khi ra mắt[16]. Ngày 8 tháng 12, nhóm ra mắt tại nhà hát với 20 cô gái là tiền thân của Team A[17], biểu diễn "Party ga Hajimaru yo" (PARTY が 始 ま る よ) trước 7 khán giả và tăng dần sau đó. 20 cô gái đó là: Itano Tomomi,Kawasaki Nozomi, Kojima Haruna, Komatani Hitomi, Maeda Atsuko, Masuyama Kayano, Minegishi Minami, Nakanishi Rina, Narita Risa, Ohe Tomomi, Oshima Mai,Sato Yukari, Takahashi Minami, Tojima Hana, Usami Yuki, Orii Ayumi, Hoshino Michiru, Urano Kazumi, Watanabe Shiho,Hirajima Natsumi[18] Vào tháng 1 năm 2006, Shinoda Mariko gia nhập Team A với tư cách là thành viên "thế hệ 1,5" khi trước đó cô không vượt qua được vòng thi tuyển thế hệ đầu nhưng quyết tâm tìm cơ hội để gia nhập nhóm bằng cách làm phục vụ tại quán cafe gần nhà hát, các fan đã gửi thư xin cho cô một cơ hội nữa (để được vào nhóm, cô đã học thuộc lời và vũ đạo của tất cả 16 bài A1 Stage chỉ trong 4 ngày)[19]

Buổi thử giọng thứ 2 được tổ chức với sự hợp tác cùng NTT DoCoMo vào tháng 2 năm 2006, lần này các ứng viên gửi video thử giọng qua điện thoại. Trong số 11.892 người tham gia, 19 ứng viên đã được chọn và 17 người gia nhập Team K vào tháng 4: Akimoto Sayaka, Umeda Ayaka, Oshima Yuko, Ohori Megumi, Oku Manami, Ono Erena, Kasai Tomomi, Kobayashi Kana, Sato Natsuki, Noro Kayo, Hayano Kaoru, Masuda Yuka, Matsubara Natsumi, Miyazawa Sae, Imai Yu, Uemura Ayako,Takada Ayana [20], Team K biểu diễn Party ga Hajimaru yo, trong khi Team A chuyển sang biểu diễn Aitakatta[21][22]

AKB48 phát hành đĩa đơn đầu tiên "Sakura no Hanabiratachi" vào tháng 2 năm 2006, lọt vào bảng xếp hạng Top 10 hàng tuần của Oricon với doanh thu tuần đầu tiên là 22.011 bản[23]. Ngày 31 tháng 3, Usami Yuki -thành viên của Team A là người đầu tiên tốt nghiệp[24]. Vào ngày 7 tháng 6, nhóm phát hành đĩa đơn thứ hai "Skirt, Hirari", bán được 13.349 bản trong ngày đầu tiên[25]. Nhóm xuất hiện trên truyền hình 2 ngày sau, và ký hợp đồng với DefStar Records (công ty con của Sony Music Entertainment) vào tháng 8.[26]

2006–2007: Set List: Greatest Songs 2006–2007Sửa đổi

Vào tháng 10 năm 2006, AKB48 công bố buổi thử giọng cho Team B để tuyển thành viên thế hệ thứ 3[27], đã có 13 cô gái được chọn trong số 12.828 người tham gia, đó là: Inoue Naru, Oota Aika, Kashiwagi Yuki, Katayama Haruka, Kikuchi Ayaka, Saotome Miki, Tanabe Miku, Nakagawa Haruka, Nakaya Sayaka, Noguchi Reina, Matsuoka Yuki, Yonezawa Rumi,Watanabe Mayu.[28][29]

 
Nhà hát AKB48 ở Akihabara, Tokyo, đặt trên tầng 8 tòa nhà Don Quijote,

Đĩa đơn đầu tay dưới thời DefStar Records, "Aitakatta", do 20 thành viên Team A và K thực hiện phát hành vào ngày 25 tháng 10, ra mắt ở vị trí thứ 12 trên bảng xếp hạng đĩa đơn hàng tuần của Oricon, bán được 25.544 bản trong 6 tuần đầu tiên[30], và có tổng cộng 65 tuần trên bảng xếp hạng[31]. Vào 3–4 tháng 11, nhóm biểu diễn buổi concert đầu tiên, "AKB48 First Concert: Aitakatta ~ Hashira wa Nai ze! ~" tại Nippon Seinenkan ở Shinjuku. Nhóm biểu diễn "Aitakatta" trong chương trình truyền hình đêm giao thừa NHK Kōhaku Uta Gassen lần thứ 58 tại phần "Nihon ga Hokoru Saisentan! Special Medley". Với 43 thành viên, nhóm lập kỷ lục về "bài hát có nhiều thành viên nhất trong một nhóm cùng biểu diễn trên sân khấu". Vào tháng 12, sự thay đổi đầu tiên đã được thực hiện: Kazumi Urano, Shiho Watanabe, và Natsumi Hirajima chuyển từ Team A sang Team B với nhiệm vụ hỗ trợ cho đàn em của mình.

Đĩa đơn thứ 2 "Seifuku ga Jama o Suru" phát hành vào ngày 31 tháng 1 năm 2007[32], ra mắt ở vị trí thứ 7 trên bảng xếp hạng Oricon Top 10. MV và lời bài hát gây ra tranh cãi và đánh giá tiêu cực vì có liên quan đến “Enjo-kosai”[33]. Vào ngày 18 tháng 3, AKB48 phát hành "Keibetsu Shiteita Aijō"; ra mắt ở vị trí thứ 8 trên bảng xếp hạng Oricon, tụt xuống hạng 98 trong tuần thứ 2. Buổi concert thứ 2 "AKB48 Haru no Chotto dake Zenkoku Tour ~ Madamada daze AKB48! ~" vào ngày 10 tháng 3[34], có doanh thu bán vé kém[35].

Vào tháng 4 năm 2007, AKB48 đăng danh sách Team B trên trang web nhóm, ít hơn 5 thành viên so với ban đầu, lần đầu tiên số thành viên của nhóm là 48. Đĩa đơn thứ 4, "Bingo!", phát hành vào ngày 18 tháng 7. Đĩa đơn thứ 6- "Yūhi o Miteiru ka?", phát hành vào Halloween 2007 và bán được 18.429 bản[36] (ít nhất trong tất cả các đĩa đơn của nhóm)[37].

2008–2010: KamikyokutachiSửa đổi

Đầu năm 2008, AKB48 phát hành album đầu tiên Set List: Greatest Songs 2006–2007. Đĩa đơn thứ 7 (thứ 9 tổng thể) "Romance, Irane", phát hành vào ngày 23 tháng 1 và đứng thứ 6 trên bảng xếp hạng Oricon Top 10 trong tuần đầu tiên.[38]

 
AKB48 biểu diễn tại Japan Expo ở Paris năm 2009

Vào ngày 27 tháng 2, nhóm phát hành đĩa đơn thứ 8 "Sakura no Hanabiratachi 2008"- tải bản đĩa đơn đầu tay từ Team A, do 10 thành viên Team A, 6 từ Team K và 5 từ Team B thể hiện[39]. CD của đĩa đơn bao gồm poster, và chương trình quảng bá trong đó fan hâm mộ thu thập 44 poster sẽ được mời tham gia sự kiện đặc biệt. Chương trình sau đó đã bị DefStar Records hủy bỏ do lo ngại về khả năng vi phạm luật chống độc quyền.[40]

Vào tháng 6 năm 2008, AKB48 thành lập nhóm chị em SKE48 tại Sakae, Nagoya[41]. Vào tháng 8, nhóm chuyển từ hãng đĩa DefStar Records sang King Records, Ayaka Kikuchi là thành viên đầu tiên bị đuổi khỏi nhóm vì vi phạm kỷ luật khi để lộ ảnh chụp với bạn trai[42]. Kikuchi trở lại nhóm sau buổi thử giọng năm 2010.[43]

Vào ngày 22 tháng 10, đĩa đơn thứ 10 "Ōgoe Diamond" phát hành dưới nhãn đĩa You Be Cool!/ KING RECORDS[44]. Với sự xuất hiện của Matsui Jurina (11 tuổi khi đó) làm center (thành viên trung tâm) cũng như trên bìa đĩa, đây là đĩa đơn đầu tiên có sự góp mặt của một thành viên trong nhóm chị em của AKB48[45] và ra mắt ở vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng Oricon Top 10 hàng tuần.[46]

Nhóm phát hành đĩa đơn thứ 11 "10nen Sakura" vào ngày 4 tháng 3 năm 2009, đạt vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng Oricon tuần đầu, đây là đĩa đơn đầu tiên bán được hơn 100.000 bản[47]. Đĩa đơn thứ 12 "Namida Surprise!" phát hành vào ngày 24 tháng 6 bán được 104.180 bản trong tuần đầu tiên trên bảng xếp hạng Oricon[48]. Đĩa đơn thứ 13 "Iiwake Maybe" phát hành ngày 26 tháng 8 [49]. Vượt mặt đối thủ SMAP, đĩa đạt vị trí số 1 trên Bảng xếp hạng đĩa đơn hàng ngày của Oricon và hạng 2 trên Bảng xếp hạng đĩa đơn hàng tuần của Oricon.[50]

Team A là khách mời danh dự tại Japan Expo ở Paris từ 2 đến 5 tháng 7 năm 2009, biểu diễn "Ōgoe Diamond" bản tiếng Anh[51]. Nhóm ra mắt tại Hoa Kỳ với buổi biểu diễn tại Webster Hall ở New York vào 27 tháng 9.[52]

Vào tháng 10, 3 đĩa đơn "10nen Sakura", "Namida Surprise!""Iiwake Maybe" được Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Nhật Bản (RIAJ) cấp chứng nhận vàng.[53] Đĩa đơn thứ 14 "River" phát hành vào ngày 21 tháng 10 đứng đầu bảng xếp hạng Top 10 Oricon hàng tuần và là đĩa đơn đứng hạng 1 đầu tiên của nhóm.[54]

Vào ngày 31 tháng 12, AKB48 biểu diễn bản remix đặc biệt RIVER-Surprise tại NHK Kouhaku uta gassen lần thứ 60. 72 thành viên từ AKB48 bao gồm thực tập sinh và 3 thành viên SKE48 tham gia biểu diễn.

Nhóm phát hành đĩa đơn thứ 15 "Sakura no Shiori" vào ngày 17 tháng 2 năm 2010. Trong tuần đầu tiên, đĩa đơn đứng đầu bảng xếp hạng Oricon với hơn 300.000 bản được bán ra, kỷ lục của một nữ nghệ sĩ Nhật Bản trong 7 năm[55]. Đây là đĩa đơn cuối cùng của nhóm đến khi phát hành album đầu tiên thuộc King Records "Kamikyokutachi" đứng đầu bảng xếp hạng album Oricon và được RIAJ chứng nhận đĩa bạch kim kép với doanh số hơn 500.000 bản.[56]

2010–2011: Koko ni Ita KotoSửa đổi

Nhóm phát hành đĩa đơn thứ 16 - "Ponytail to Chouchou" vào ngày 26 tháng 5 năm 2010, vượt xa so với trước đó với hơn 400.000 bản được bán ngày đầu tiên và hơn 513.000 bản trong tuần đầu tiên[57]. Vào ngày 27 tháng 4, Anime Expo thông báo AKB48 sẽ là khách mời danh dự và nhóm biểu diễn vào ngày 1 tháng 7 tại Nokia Theatre.[58]Nhóm ra mắt single thứ 17- Heavy Rotation (ヘビーローテーション) vào 18/8, trụ vững trên bảng xếp hạng JOYSOUND trong 43 tuần[59]

 
AKB48 biểu diễn tại Anime Festival Asia 2010

Vào ngày 23 tháng 10, AKB48 đại diện cho Nhật Bản dự Asia Song Festival lần thứ 7 do Quỹ Trao đổi Văn hóa Quốc tế Hàn Quốc (Korea Foundation for International Culture Exchange-KOFICE) tổ chức tại Sân vận động Olympic Seoul. Bốn ngày sau, nhóm phát hành đĩa đơn thứ 18- "Beginner", bán được 826.989 bản trong tuần đầu, doanh số cao nhất trong tuần đầu tiên cho đĩa đơn của một nhóm nhạc thần tượng nữ[60][61]. Thành viên Mayu Watanabe xuất hiện trên bìa tạp chí thần tượng UP to boy số tháng 12 cùng Airi Suzuki của nhóm nhạc nữ đồng hương Cute- sự hợp tác đầu tiên giữa Hello! Project và AKB48.[62]

Vào tháng 11/2010, AKB48 tham gia một số sự kiện bên ngoài Nhật Bản. Vào ngày 20 tháng 11, 12 thành viên biểu diễn tại Japanese Pop Culture Festival ở Moscow[63]. Nhóm biểu diễn tại Singapore trong sự kiện Anime Festival Asia X và tại Singapore Toy, Games and Comics Convention[64][65]. Những thành viên tốt nghiệp năm 2010 bao gồm thành viên thế hệ thứ 2 Erena Ono, người rời đi vào ngày 27 tháng 9 để theo đuổi sự nghiệp diễn xuất ở nước ngoài.[66][67]

 
AKB48 tham dự Asia Song Festival 2010 tại Hàn Quốc

Vào ngày 8/12, AKB48 kỷ niệm 5 năm ra mắt với buổi biểu diễn đặc biệt tại nhà hát cùng tất cả các thành viên, bao gồm các thành viên tốt nghiệp. Tất cả thực tập sinh thế hệ thứ 9 cũng được thăng cấp.[68]

Vào năm 2011, nhóm ra mắt đĩa đơn thứ 20- "Sakura no Ki ni Narō" phát hành vào ngày 16 tháng 2, bán được 655.000 bản trong ngày đầu tiên, vượt qua con số 568.000 bản của "Beginner"[69][70]. Vào cuối tuần đầu tiên, đĩa đơn đã bán được 942.479 bản, đây là đĩa đơn bán được nhiều nhất và nhanh nhất của nhóm tại Nhật Bản kể từ năm 2000[71], nhóm ra mắt bộ phim tài liệu đầu tiên DOCUMENTARY of AKB48 to be continued "10 Nengo, Shoujo Tachi wa Ima no Jibun ni Nani o Omou Nodarou?" vào ngày 22 tháng 1.[72]

Vào ngày 21 tháng 2, nhóm công bố album thứ 3 Koko ni Ita Koto (こ こ に い た こ と) bao gồm 11 bài hát và dự kiến ​​phát hành vào ngày 6 tháng 4[73]. Do ảnh hưởng từ trận động đất và sóng thần Tōhoku 2011, nhóm dừng các buổi biểu diễn tại Nhà hát và hủy bỏ một số sự kiện trước công chúng. AKB48 bắt đầu dự án quyên góp cứu trợ nạn nhân động đất và sóng thần "Dareka no Tame ni" (誰かのために). Yokohama Arena- một trong những địa điểm tổ chức, được sử dụng cho sự kiện từ thiện kéo dài 2 ngày từ 26 tháng 3 và 12 thành viên nhóm đã tham dự Liên hoan phim quốc tế Okinawa hôm đó với mục đích tương tự. Vào ngày 15 tháng 3, AKB48 cùng các nhóm chị em SKE48, SDN48 và NMB48 và các cộng sự từ công ty quản lý AKS đã quyên góp 500 triệu yên cho việc cứu trợ[74]. Việc phát hành Koko ni Ita Koto bị hoãn lại cho đến ngày 8 tháng 6, với một phần số tiền thu được dành để quyên góp cho các nạn nhân[75]. Vào ngày 1 tháng 4, nhóm phát hành đĩa đơn từ thiện "Dareka no Tame ni-誰かのために"  dưới dạng kỹ thuật số, tất cả số tiền thu được dành cho cứu trợ các nạn nhân động đất và sóng thần.[76]

2011–2012: 1830 mSửa đổi

Nhóm công bố ra mắt nhóm chị em HKT48 tại Fukuoka- Kyushu, đặt nhà hát tại Hawks Town Mall vào 1/5/2011[77], sau đó 2 ngày nhóm thông báo mở nhà hát tại Singapore đặt tại *scape Youth Park, cùng cửa hàng AKB48 shop, nhóm là khách mời biểu diễn tại lễ trao giải Golden Melody Awards thứ 22 vào tháng 6[78]

Nhóm ra mắt single thứ 21-"Everyday, Kachūsha" vào 25/5, đạt kỷ lục tẩu tán trong 1 ngày (942,475 bản) cũng như trong 1 tuần (1,333,969 bản)[79]

 
Cửa hàng AKB48 tại Singapore

Nhóm ra mắt Team 4 vào 7/6, với 16 thành viên do Mina Ōba làm đội trưởng, đến 28/6, Akimoto Yasushi công bố ra mắt nhóm Nogizaka46 (乃木坂46)- được coi là "đối thủ chính thức" (公式ライバル kōshiki raibaru?) của AKB48 với 20 thành viên, ông đồng thời hợp tác cùng Sony Music Japan cho việc phát triển nhóm

Nhóm ra mắt single thứ 22- "Flying Get" (フライングゲット, Furaingugetto), bán được 1,025,952 bản trong 1 ngày, đồng thời là single thứ 4 bán được hợn 1 triệu bản trong tuần đầu (1,354 triệu bản)[80], 2 single tiếp theo "Kaze wa Fuiteiru" (26/10- 1,045,937 bản) + "Ue kara Mariko" (7/12-1,199,000 bản) đều vượt mốc 1 triệu bản trong tuần đầu[81][82], riêng single "Flying Get" (フライングゲット, Furaingugetto) đat giải Grand Prix tại lễ trao giải Japan Record Awards lần thứ 53

Sang năm 2012, Oricon công bố nhóm đá bán được 11,787,000 bản CD, vượt mặt nhóm  Morning Musume (11,774,000 bản) trước đó, nhóm nhỏ Baby Blossom  trình diễn single thứ 25 "Give Me Five!" tại sự kiện "AKB48 Request Hour Set List Best 100 2012" ngày 22/1, sau đó ra mắt vào 15/2

Phim tài liệu thứ 2 - Documentary of AKB48: Show Must Go On Shōjo-tachi wa Kizutsuki Nagara, Yume wo Miru, công chiếu ngày 27/1 thu về 4 triệu $ doanh thu, phim anime AKB0048 phát sóng từ 29/4 đến 22/7 do Yoshimasa Hiraike đạo diễn, cùng Akimoto sản xuất+ viết kịch bản, 9 thành viên của AKB48+ các nhóm chị em lồng tiếng cho các nhân vật chính, hát ca khúc chủ để mở màn & kết phim

2 thành viên Matsui Jurina (SKE48) và Watanabe Miyuki (NMB48) thay thế Natsumi Hirajima và Rumi Yonezawa do vi phạm kỷ luật, nhóm quyết định 5 thực tập sinh sẽ thắng cấp vào Team 4, nâng số thành viên lên 16, nhóm sẽ trình diễn tại Tokyo Dome- điều nhóm quyết tâm thực hiện từ khi ra đời

Thành viên chủ lực Maeda Atsuko thông báo rời nhóm vào 25/3, do đó AKB48 quyết định cô sẽ có buổi biểu diễn tốt nghiệp tại Tokyo Dome vào 26/8[83]

Vào 26/3, nhóm công bố buổi Tổng tuyển cử cho single thứ 27- "Gingham Check", với 243 thành viên từ các nhóm chị em tham dự, cùng việc bỏ phiếu cho single thứ 26- ("Manatsu no Sounds Good!"). Tổng tuyển cử tổ chức hôm 6/6, Oshima Yuko cùng Watanabe Mayu và Kashiwagi Yuki là 3 thành viên xếp hạng cao nhất

AKB48 công bố nhóm nhạc chị em nước ngoài thứ 3-SNH48 đặt tại Thượng Hải, Sashihara Rino chuyển sang nhóm HKT48 do scandal đời tư, 6 thành viên thuộc 2 thế hệ 10+11 thăng cấp ngày 24/6, cùng cuộc thi oẳn tù tì để tìm đội hình cho single thứ 29- "Eien Pressure"[84]

Nhóm ra mắt album thứ 4- 1830m vào 15/8[85], sau đó 9 ngày nhóm công bố sắp xếp lại đội hình vào buổi concert tại Tokyo Dome: Team 4 giải thể, các thành viện sẽ chuyển sang 3 team còn lại, Oota Aika sang HKT48,  Haruka Nakagawa sang nhóm JKT48 tại Indonesia, Sae Miyazawa + Mariya Suzuki sang nhóm SNH48, Minami Takahashi trở thành tổng quản của AKB48, các đội trưởng Team A, Team K, Team B lần lượt thuộc về Shinoda Mariko, Oshima Yuko và Umeda Ayaka

2012–2014: Tsugi no AshiatoSửa đổi

Nhóm ra mắt ca khúc nhạc phim Wreck-It Ralph- "Sugar Rush", lập kỷ lục Guinness cho nhóm nhiều thành viên nhất trong game (AKB1/149 Ren'ai Sōsenkyo), single thứ 26 có lần thứ 2 liền đạt giải tại Japan Record Award lần thứ 54 ngày 30/12. Nhóm đứng đầu về tổng doanh thu tại Nhật Bản năm 2012, với 19,098 tỷ yên. Nhóm ra mắt single thứ 30- "So long!" vào 20/2[86]

Phim hoạt hình AKB0048 ra mắt mùa 2- AKB0048 Next Stage, chiểu từ 5/1 đến 30/3/2013, vào tháng 1 nhóm tổ chức concert Request Hour Set List Best 100 tại Tokyo Dome City Hall, đồng thời công bố 2 show diễn tại Nippon Budokan và Sân vận động Nissan, vào 1/2 phim tài liệu Documentary of AKB48: No Flower Without Rain: Shōjo Tachi wa Namida no Ato ni Nani o Miru? ra mắt công chúng, thành viên Itano Tomomi công bố tốt nghiệp cùng ngày, nhóm công bố sắp xếp đội hình vào concert tại Nippon Budokan ngày 28/4

Nhóm ra mắt single thứ 31- "Sayonara Crawl" vào 22/5, bán được hơn 1,9 triệu bản sau 1 tháng, đây là bài hát đầu tiên có 4 center (Oshima Yuko, Itano Tomomi, Shimazaki Haruka và Watanabe Mayu), nhóm tổ chức Tổng tuyển cử lần thứ 5 với 243 thành viên tham dự, Sashihara Rino giành hạng nhất, đội trưởng Team A Mariko Shinoda công bố sẽ rời nhóm vào tháng 7, cựu thành viên Maeda Atsuko ra mắt single solo ("Time Machine Nante Iranai")

 
AKB48 tại Tokyo năm 2013

Nhóm ra mắt single thứ 32- "Koisuru Fortune Cookie" vào 21/8, với 3800 người tham dự quay MV, nhiều nhất từ khi ra mắt, nhóm công bố mở lại Team 4 vào 24/8, theo đó Minami Minegishi là đội trưởng, cùng các thành viên thực tập sinh thăng hạng của 2 thế hệ 13-14

Nhóm tổ chức cuộc thi oẳn tù tì cho single thứ 34, tổ chức tại Nippon Budokan vào 18/9, Matsui Jurina là người chiến thắng, sau đó nhóm công bố đội hình và biểu diễn single thứ 33- "Heart Ereki" ra mắt 30/10[87], vào 11/11 single thứ 34, "Suzukake no Ki no Michi de 'Kimi no Hohoemi o Yume ni Miru' to Itte Shimattara Bokutachi no Kankei wa Dō Kawatte Shimau no ka, Bokunari ni Nan-nichi ka Kangaeta Ue de no Yaya Kihazukashii Ketsuron no Yō na Mono" ra mắt Nữ thành viên chủ lực Yuko Oshima tuyên bố sẽ rời nhóm tại sự kiện Kōhaku Uta Gassen, Nhóm đứng #2 về tổng doanh thu tại Nhật Bản năm 2013, với 13.254 tỷ yên.

Vào 22/1/2014, nhóm ra mắt album thứ 5 Tsugi no Ashiato, bán được 962,000 bản, nhóm ra mắt single thứ 35- "Mae shika Mukanee" vào 26/2, bán được 970,413 bản,

Nhóm công bố ra mắt Team 8, với 47 thành viên đại diện 47 tỉnh thành, đồng thời sắp xếp đội hình với việc ra mắt đội phó, thăng cấp cho các thực tập sinh, chuyển thành viên…vào 24/2. Nhóm công bố đội hình Team 8 vào 3/4

Nhóm ra mắt single thứ 36- "Labrador Retriever" vào 26/2, với 1,462,000 bản được bán ra trong ngày đầu, cuộc Tổng tuyển cử cho single thứ 37 diễn ra ngày 7/6 chứng kiến Mayu Watanabe đứng nhất với 159,854 phiếu bầu làm center cho bài hát Kokoro no Placard,  Rino Sashihara về nhì với 141,954 phiếu bầu. Phim tài liệu thứ 4 DOCUMENTARY of AKB48 The time has come ra mắt vào 4/7

Vào 8/12, Takahashi Minami - thành viên kỳ cựu kiêm tổng quản tuyên bố sẽ rời nhóm vào 12/2015 nhân dịp nhóm kỷ niệm 10 năm ra mắt, cô chọn Yokoyama Yui là người kế nhiệm

2015: Koko ga Rhodes da, Koko de Tobe!0 to 1 no AidaSửa đổi

Nhóm ra mắt album phòng thu thứ 6- Koko ga Rhodes da vào ngày 21/1/2015[88], vào ngày 4/3 nhóm phát hành single thứ 39 "Green Flash"[89][90], trở thành nhóm nhạc đầu tiên có 20 album liền đạt 1 triệu bản bán ra tuần đầu tiên. Thành viên Kawaei Rina tuyên bố tốt nghiệp vào 26/3 để tập trung cho sự nghiệp của bản thân, cô tiết lộ trước đó đã suy nghĩ kỹ về tương lai của mình mà không phụ thuộc vào nhóm[91][92]

Nhóm là khách mời của Ngày hội Nhật Bản (Japan Day festival) hàng năm tại New York, lần thứ 2 nhóm biểu diễn từ 2009 vào 10/5, các thành viên Rina Hirata, Ryoka Oshima, Haruna Kojima, Tomu Mutou, Saho Iwatate và Rina Nozawa biểu diễn 5 bài hát trước 5000 khán giả[93][94]

Vào ngày 20/5, nhóm ra mắt single thứ 40 "Bokutachi wa Tatakawanai", với hơn 1,4 triệu bản bán ra trong ngày đầu[95]

Vào ngày 6/6, nhóm công bố kết quả cuộc tổng tuyển cử thứ 7 tổ chức tại Fukuoka Yahoo! Auctions Dome, với tổng cộng 3,2 triệu phiếu bầu cho các thành viên. Thành viên Sashihara Rino (HKT48- team H) giành hạng nhất lần thứ 2 với 194.049 phiếu bầu[96][97], trở thành Senbatsu Center cho single thứ 41 "Halloween Night" ra mắt ngày 26/8[98]

Vào ngày 25/10, trong sự kiện bắt tay cùng fan, nhóm công bố ra mắt single thứ 42- Kuchibiru ni Be My Baby ra mắt ngày 9/12 cùng concert Request Hour 2016, Takahashi Minami được chọn là Center cho bài hát- lần cuối cùng của cô cho nhóm.[99] Single bán được 813,044 bản trong ngày đầu ra mắt, nâng tổng số bản nhóm bán ra lên 36.158.000 album đĩa đơn, giúp nhóm vượt mặt nhóm nhạc rock B'z trở thành nghệ sỹ có lượng album đơn bán ra cao nhất tại Nhật Bản,[100]

Nhóm ra mắt album thứ 7- 0 to 1 no Aida, nhân dịp kỷ niệm 10 năm nhóm ra đời vào ngày 18/11[101]

2016–2017: ThumbnailSửa đổi

Vào ngày 24/1/2016, trong ngày cuối show Request Hour 2016 tại Tokyo Dome City, nhóm trình làng ca khúc thuộc single thứ 43 "Kimi wa Melody"- ra mắt ngày 9/3[102], đây là single thứ 2 đánh dấu sự trở lại của  Maeda Atsuko, Oshima Yuko, Shinoda Mariko và Itano Tomomi, còn Miyawaki Sakura là center lần đầu tiên cho nhóm[103]

Vào tháng 2, thành viên người Đài Loan Mã Gia Linh (Ma Chia-ling) gia nhập nhóm thông qua vòng tuyển chọn tại Đài Loan trước đó, cô là thành viên ngoại quốc đầu tiên và duy nhất hoạt động cho AKB48[104][105]

Nhóm phát hành single thứ 44 "Tsubasa wa Iranai" vào 1/6[106], Mukaichi Mion là center lần đầu tiên, nhóm tổ chức Tổng tuyển cử vào 18/6, thành viên Sashihara Rino đạt hạng nhất với 243,011 phiếu bầu, nhóm phát hành single thứ 45 "LOVE TRIP / Shiawase wo Wakenasai" vào 31/8[107]

Vào 3/10, Shimazaki Haruka thông báo tốt nghiệp, cô có lần cuối xuất hiện làm center khi nhóm ra mắt single thứ 46 "High Tension" vào 16/11[108]

Vào 12/12, Watanabe Mayu, Izuta Rina và Kawamoto Saya thông báo thành lập chi nhánh  'AKB48 China'  tại Trung Quốc trong một cuộc họp báo và gặp gỡ người hâm mộ tại Thượng Hải. Khác với SNH48 trước đó, AKB48 China sẽ đóng vai trò cầu nối giữa Nhật Bản và Trung Quốc, đưa các thành viên Nhật Bản đến Nhà hát AKB48 Trung Quốc trong tương lai.

Nhóm phát hành album phòng thu thứ 8 “Thumbnail” vào 25/1/2017[109], nhóm ra mắt single thứ 47 "Shoot Sign"- là single cuối cùng Kojima Haruna hoạt động cùng nhóm[110]. Single thứ 48 Negaigoto no Mochigusare, bán được 1,305,747 bản trong tuần đầu[111]

Phim tài liệu thứ 5- DOCUMENTARY of AKB48 Sonzai suru Riyuu, ra mắt công chúng vào 8/7[112]

Nhóm tổ chức Tổng tuyển cử vào 17/6, Sashihara Rino đạt hạng nhất năm thứ 3 liên tiếp với 246,376 phiếu bầu[113], làm center cho single thứ 49 "#sukinanda" phát hành ngày 30/8[114] Watanabe Mayu thông báo tốt nghiệp trong sự kiện.[115]

Vào 22/11, nhóm ra mắt single thứ 50- "11gatsu no Anklet", là single tốt nghiệp của Watanabe Mayu[116]

30 thành viên nhóm xuất hiện tại MAMA 2017 tổ chức tại Nhật Bản sau đó 1 tuần[117], biểu diễn 3 bài hát Pick Me, Heavy Rotation, Koi Suru Fortune Cookie với Weki Meki, Kim Chung-ha, PRISTIN, các thí sinh Idol School, Fromis 9, AKB48 nhận giải Nghệ sỹ châu Á của năm tại Nhật Bản, còn Akimoto Yasushi nhận giải Inspired Achievement (thành tựu truyền cảm hứng)[118][119][120], đồng thời nhóm xác nhận sẽ tham gia chương trình thực tế sống còn Produce 48 của đài Mnet năm 2018, Akimoto Yasushi đóng vai trò là nhà sản xuất âm nhạc cho chương trình[121]

Tại buổi kỷ niệm 12 năm ra mắt, nhóm công bố việc sắp xếp đội hình. Tất cả các vị trí kiêm nhiệm (kennin) tại các nhóm thuộc 48 Groups được loại bỏ, nhưng tất cả các thành viên Team 8 đều nhận được vị trí này, nghĩa là tất cả các thành viên Team 8 giờ cũng thuộc Team A, Team K, Team B hoặc Team 4. Đội trưởng mới của Team là Okabe Rin (Team A), Komiyama Haruka (Team K), Juri Takahashi (Team B) và Murayama Yuiri (Team 4). Vai trò đồng đội trưởng cũng được loại bỏ.

2018–2019:Tham gia Produce 48, Bokutachi wa, Ano Hi no Yoake o Shitteiru, SustainableSửa đổi

Nhóm ra mắt album thứ 9- Bokutachi wa, Ano Hi no Yoake wo Shitteiru vào 24/1/2018[122]

Nhóm phát hành single thứ 51- Jabaja vào 14/3, Okada Nana có lần đầu tiên làm center cho single[123]

Nhóm phát hành single thứ 52- Teacher Teacher vào 30/5, bán được 1,591,164 bản trong ngày đầu, phá kỷ lục cũ của Bokutachi wa Tatakawanai, tẩu tán được 1,812,868 bản vài tuần sau đó, là single bán chạy thứ 2 trong lịch sử (sau Sayonara Crawl với 1,995,800 bản)[124][125]

Nhóm tổ chức Tổng tuyển cử lần thứ 10 vào 18/6, cùng dịp kỷ niệm 10 năm SKE48 ra mắt, Matsui Jurina đạt hạng nhất với 194,453 phiếu bầu, làm center cho single thứ 53-"Sentimental Train" phát hành ngày 19/9, nhưng rút lui vì vấn đề sức khỏe.[126][127]

Vào ngày 15/6, AKB48 cùng 5 nhóm chị em tại Nhật Bản đưa 39 thành viên tham gia chương trình thực tế sống còn Produce 48 của đài Mnet để cạnh tranh với 57 thực tập sinh từ chủ nhà Hàn Quốc cho 12 vị trí của nhóm nhạc sẽ hoạt động tại Hàn Quốc và Nhật Bản trong 2,5 năm[128][129][130]. Vào 31/8, tập cuối cùng của show cùng tên nhóm- Iz*One và đội hình chính thức đã ra mắt, trong đó Honda Hitomi của AKB48 cùng Yabuki Nako với Miyawaki Sakura của HKT48 là 3 thành viên từ Nhật Bản của nhóm, do đó cả 3 sẽ tạm dừng mọi hoạt động cùng AKB48 để hoạt động cho Iz*One đến tháng 4/2021[131][132], single thứ 54- NO WAY MAN là lần cuối cả 3 xuất hiện cùng AKB48, họ là tâm điểm cho bài hát chủ đề cùng tên khi xuất hiện ở hàng đầu, cùng bài hát B-side cho top 16 Produce 48 (không bao gồm Nako, Hitomi, Sakura)[133][134]

Sau khi kết thúc Produce 48, Stone Music Entertainment cùng Genie Music ký kết hợp đồng với King Records+ AKS để phân phối các single của nhóm tại Hàn Quốc

Tại lễ kỳ niệm 13 năm ra mắt, Yokoyama Yui thông báo từ chức Tổng quản nhưng sẽ tiếp tục hoạt động cho nhóm, cô chọn Mukaichi Mion là người kế nhiệm, nhóm ra mắt phim tài liệu thứ 6- Legend of AKB48: New Chapter vào dịp Giáng sinh

Vào ngày 31/12, 16 thành viên nhóm biểu diễn bài hát "Koisuru Fortune Cookie" cùng BNK48 trong đại nhạc hội NHK Kōhaku Uta Gassen lần thứ 69 bằng tiếng Nhật & tiếng Thái, Mobile (BNK48) cùng Sashihara Rino là 2 center biểu diễn bài hát.[135][136]

Nhóm tham dự sự kiện AKB48 Group Asia Festival in Bangkok tại Bangkok, Thái Lan đầu năm 2019, biểu diễn cùng chủ nhà BNK48 và các nhóm chị em JKT48, MNL48, AKB48 Team SH, AKB48 Team TP và SGO48[137][138], sau đó là AKB48 Group Asia Festival in Shanghai ở Thượng Hải, Trung Quốc vào tháng 8, biểu diễn cùng chủ nhà AKB48 Team SH với các nhóm chị em[139], cùng concert "AKB48 in Taipei ~Are You Ready?~" tại Đài Loan với AKB48 Team TP vào tháng 9[140]. AKB48 tổ chức AKB48 Zenkoku Tour 2019 từ tháng 7 đến tháng 12.[141]

2019 là năm chứng kiên nhiều biến động của nhóm: Sashihara Rino tuyên bố tốt nghiệp, làm center cho single thứ 55- Jiwaru DAYS phát hành ngày 13/3[142], bài hát "Hitsuzensei" thuộc single là sự kết hợp giữa AKB48, Nogizaka46 và Iz*One[143]; đến tháng 4, Kojima Mako tuyên bố tốt nghiệp tại AKB48 Group Spring Festival in Yokohama Stadium; đến cuối năm thành viên còn lại từ thế hệ đầu tiên Minegishi Minami tuyên bố rời nhóm, 2 chương trình nổi tiếng của nhóm- AKB48 SHOW! Và AKBINGO! ngừng phát sóng lần lượt vào tháng 3 & tháng 9[144][145]

Nhóm phát hành single thứ 56 Sustainable vào 18/9, là single đầu tiên của nhóm tại Thời kỳ Lệnh Hòa, cũng là single cuối của nhóm trong năm, đánh dấu năm nhóm ra ít single nhất từ khi ra mắt với 2 single[146].Tiệm cafe AKB48 café&shop đặt cạnh nhà hát Akihabara chính thức đóng cửa từ 29/12 sau 8 năm hoạt động[147][148]Tại đại nhạc hội NHK Kōhaku Uta Gassen lần thứ 70 (第70 回NHK紅白歌合戦, The 70th NHK Red & White Song Battle) tổ chức ngày 31/12, 16 thành viên nhóm biểu diễn bài hát "Koisuru Fortune Cookie" cùng các nhóm chị em thuộc AKB48 Group[149]

2020-nay: Những sự thay đổi, Shitsuren, Arigatō; Hanareteitemo, ảnh hưởng từ đại dịch COVID-19, OUC48 projectSửa đổi

Năm 2020 mở đầu bằng việc AKS quyết định để các công ty quản lý riêng lẻ điều hành độc lập các nhóm chị em của AKB48[150]

Vào 4/2, Yahagi Moeka tốt nghiệp rời AKB48, theo đó, sự kiện bắt tay người hâm mộ ở Osaka vào đầu tháng 2 sẽ là hoạt động cuối cùng của nữ ca sĩ với tư cách là thành viên của nhóm.[151]

Vào 18/3, nhóm phát hành single thứ 57- "Shitsuren, Arigatō", bán được 1,414,077 bản trong tuần đầu[152], Concert mùa xuân của nhóm bị hủy bỏ do đại dịch COVID-19, kéo theo màn tốt nghiệp của Minegshi Minami đã bị tạm dừng, các buổi biểu diễn tại nhà hát cũng bị hủy bỏ sau đó

Để phòng chống đại dịch COVID-19 tại Nhật Bản cùng yêu cầu giãn cách xã hội từ chính phủ, nhóm ra mắt dự án OUC48 project, ra đời từ cụm từ o-uchi (お家) (ở nhà theo tiếng Nhật). Dự án được hình thành nhằm tuyên truyền, động viên tinh thần mọi người ở nhà để bảo vệ sức khỏe. Trong thời gian dịch bệnh vẫn đang diễn biến phức tạp, các thành viên đã tự quay video biểu diễn tại nhà và sau đó gửi tới Tổng quản Mukaichi Mion để tổng hợp các video lại thành video hoàn chỉnh, mở đầu bằng việc 103 thành viên cùng nhau hát bài 365nichi no Kamihikouki, dự án đã nhận được ủng hộ lớn từ công chúng.[153][154] Sau đó vào ngày 27/5, 5 thành viên Omori Maho, Oguri Yui, Shitao Miu, Chiba Erii, Yamauchi Mizuki biểu diễn cùng các nhóm chị em thuộc AKB48 và các nghệ sỹ khác tại Châu Á tại sự kiện ONE LOVE ASIA[155]

Nhóm phát hành single từ thiện thứ 3 – Hanareteitemo vào 21/6. Bài hát ra đời để cổ vũ cho tất cả mọi người tham gia công tác ngăn chặn sự lây lan của virus corona chủng mới, với sự tham gia của 105 thành viên hiện tại của AKB48, 1 thành viên SKE48 và 8 thành viên đã tốt nghiệp bao gồm Maeda Atsuko, Oshima Yuko, Itano Tomomi, Shinoda Mariko, Kojima Haruna, Takahashi Minami, Sashihara Rino và Yamamoto Sayaka, tuy nhiên Watanabe Mayu tuyên bố giã từ sự nghiệp giải trí, nên cô không có mặt trong single. Số tiền thu được  sẽ được quyên góp để cứu trợ những thiệt hại từ virus corona.[156][157]

Nhóm có lần đầu tiên vắng mặt tại đại nhạc hội NHK Kōhaku Uta Gassen lần thứ 71 vào cuối năm do đại dịch, chấm dứt 11 năm liền xuất hiện tại sự kiện (2009-2019).[158][159]

Single thứ 57- "Shitsuren, Arigatō" của nhóm đạt giải Best 5 Singles tại lễ trao giải Japan Gold Disc Awards lần thứ 35[160]

Vào ngày 21/3/2021, nhóm cho biết sẽ tổ chức concert trực tuyến AKB48 Group Asia Festival 2021 ONLINE vào ngày 26/6 tại Tokyo Dome City Hall, sau đó nhóm công bố 16 thành viên Chiba Erii, Nishikawa Rei, Mukaichi Mion (Team A), Kubo Satone, Muto Tomu (Team K), Omori Maho, Kashiwagi Yuki (Team B), Okada Nana, Murayama Yuiri, Yamauchi Mizuki (Team 4), Okabe Rin, Oguri Yui, Gyoten Yurina, Shitao Miu, Suzuki Yuka, Yokoyama Yui (Team 8) tham dự sự kiện [161][162]

Phong cách âm nhạcSửa đổi

Phong cách đặc trưng của nhóm được cho là "pop bubblegum và vũ đạo đồng đều", thu hút các cô gái trước tuổi dậy thì cũng như người lớn tuổi ủng hộ các sản phẩm kèm theo của nhóm. Mari Yamaguchi của Associated Press viết rằng "các buổi biểu diễn dường như có thể được dàn dựng. Khi các cô gái cùng nhau hát và nhảy, người hâm mộ sẽ cùng cổ vũ theo một công thức " và ví phản ứng của họ như khán giả xem Kabuki. 2 nhà báo Andrew Joyce và Kenneth Maxwell từ The Wall Street Journal cho biết phong cách âm nhạc của nhóm là "những giai điệu pop ngọt ngào và những ca từ đôi khi gợi cảm". Trong các buổi biểu diễn của nhóm, "các thành viên biểu diễn một vòng các tiết mục được biên đạo đơn giản trước khoảng 95% khán giả là nam, cùng đặc trưng âm nhạc của nhạc pop Nhật Bản: nhịp độ nhanh với những đoạn điệp khúc cao vút."[163]

Tầm ảnh hưởngSửa đổi

Ikuo Minewaki- CEO của Tower Records Japan mô tả AKB48 là điều rất phổ biến, thường được mô tả như là một hiện tượng xã hội. Vào năm 2012, nhóm đạt doanh thu kỷ lục hơn 226 triệu USD tại Nhật Bản, đến 2013 tổng doanh thu đạt hơn 128 triệu USD và hơn 96 triệu USD vào 2015. Theo Oricon, tính đến ngày 6 tháng 1 năm 2012, AKB48 đã bán được tổng cộng 11.787.000 đĩa đơn, lập kỷ lục về "số đĩa đơn bán được của một nhóm nữ nhiều nhất tại Nhật Bản". Tính đến tháng 6/2018, nhóm bán được hơn 60 triệu đĩa, bao gồm hơn 6 triệu album. AKB48 là nhóm có doanh thu cao nhất ở Nhật về số lượng đĩa đơn bán ra. Tuy nhiên, single thứ 42 "Kuchibiru ni Be My Baby" đã không bán được hơn 1 triệu bản trong tuần đầu tiên sau khi phát hành, kết thúc chuỗi phát hành đĩa đơn đạt được thành tích này, bắt đầu với "Everyday, Katyusha"

Bên cạnh doanh số bán CD, AKB48 cũng đạt được thành công về mặt thương mại trong các lĩnh vực khác. Nhóm có 6 đĩa đơn được RIAJ chứng nhận đạt 1 triệu lượt tải xuống mỗi đĩa. Theo Joysound, AKB48 được vinh danh là nghệ sĩ karaoke của năm trong bốn năm liên tiếp (2011–2014). Vào năm 2011, 8 vị trí trong top 10 doanh thu sách ảnh hàng năm do các thành viên trong nhóm chiếm giữ. Năm 2012, 6 thành viên đứng đầu bảng xếp hạng cá nhân của các chiến dịch quảng cáo. AKB48 cũng là một trong những nghệ sĩ Nhật Bản được xem nhiều nhất trên YouTube.

AKB48 nắm giữ một số kỷ lục Guinness thế giới, bao gồm kỷ lục là nhóm nhạc nữ lớn nhất thế giới với số lượng thành viên là 200 người vào năm 2010[164]. AKB48 đã lập kỷ lục về "Số lượng chứng thực truyền hình cùng sản phẩm nhiều nhất trong vòng 24 giờ" vào năm 2012, sau khi 90 thành viên trong nhóm xuất hiện trong 90 quảng cáo khác nhau được phát sóng ở các vùng Kanto, Kansai và Tokai của Nhật Bản[165]. Đại sứ Nhật Bản tại Hoa Kỳ Ichirō Fujisaki khi gặp nhóm trong chuyến thăm Washington, D.C. cùng năm cho hay "AKB" nghĩa là "đáng yêu, tốt bụng và xinh đẹp" (Adorable, Kind and Beautiful)[166]

Vào ngày 1 tháng 2 năm 2012, Tập đoàn Bưu chính Nhật Bản (Japan Post) phát hành bộ tem bưu chính để vinh danh nhóm.[167]

Quảng bá & truyền thôngSửa đổi

AKB48 cùng các nhóm chị em tăng doanh thu kỷ lục bằng nhiều chiến lược marketing. Các bài hát chính của single được thực hiện bởi nhóm Senbatsu (選抜)- là tập hợp các thành viên ưu tú được tuyển chọn dựa trên nỗ lực, tài năng và độ nổi tiếng của thành viên đó; những thành viên vào Senbatsu sẽ được góp mặt trong các single của AKB48, tham gia các chiến dịch quảng bá hay xuất hiện trên các phương tiện truyền thông. Điều này tạo sự cạnh tranh giữa các thành viên và nhóm fan. Các single và album được phát hành với nhiều phiên bản với hình ảnh bìa album khác nhau, các bài hát B-side, video DVD, thẻ hình ảnh thành viên và mã bỏ phiếu cho một số cuộc bầu cử hàng năm. Khi mua single/album, fan hâm mộ sẽ được nhận vé tham dự các buổi họp mặt bao gồm sự kiện bắt tay hoặc các buổi chụp ảnh, nơi có thể chọn các thành viên mà họ muốn gặp, Tất cả những chiến lược này thúc đẩy fan hâm mộ mua nhiều số lượng hơn các single/album. Alan Swarts của MTV Nhật Bản cho hay 1 số fan mua nhiều bản CD đã làm thổi phồng thị trường, và là một trong những lý do khiến ngành công nghiệp âm nhạc Nhật Bản phát triển vượt bậc.[168]

Sự kiệnSửa đổi

Nhóm tổ chức các sự kiện đặc biệt để chọn đội hình quảng bá và thu âm cho một số single. Từ 2009, việc lựa chọn thành viên được chuyển sang hình thức mới – dựa vào sự bầu chọn của fan và Senbatsu Sousenkyo ra đời. Senbatsu Sousenkyo (選抜総選挙) nghĩa là Tổng tuyển cử - sự kiện thường niên của AKB48 và các nhóm chị em trong nước. Do quá đông thành viên, người hâm mộ sẽ được chọn ai sẽ góp mặt cũng như là center (thành viên trung tâm) cho bài hát tiếp theo bằng cách bỏ phiếu cho họ khi mua single trước đó, mua càng nhiều single sẽ có càng nhiều phiếu để bầu cho người mình thích, đồng thời các thành viên muốn tham gia sẽ đăng ký và tiến hành các hoạt động kêu gọi bình chọn. Sousenkyo có 80 hạng, những ai có hạng #80 - #65 được gọi là Upcoming Girls, #64- #49 là Future Girls, #48- #33 là Next Girls, #32- #17 là Undergirls và #16- #1 là Senbatsu. Những idol trong senbatsu sẽ được thể hiện bài hát, góp mặt trong bìa single và MV và được quảng bá rộng rãi, thành viên chiến thắng sẽ trở thành Center (thành viên trung tâm) cho bài đó. Từ Undergirls trở xuống vẫn được quay MV, thu âm, tuy nhiên không được quảng bá rộng.[169][170]

AKB48 còn có hoạt động khác để chọn center là Single Senbatsu Janken Taikai, gọi ngắn gọn là Janken Taikai, hay Đại hội Janken/Đại hội oẳn-tù-tì được tổ chức lần đầu vào 2010 (single thứ 19 của nhóm). Đại hội Janken được tổ chức cho cả các nhóm chị em quốc tế của AKB48 và Kenkyuusei, một yếu tố rất quan trọng có thể giúp bạn thành công đó là may mắn. Vì lẽ đó "Đại hội Oẳn tù tì" ra đời mang đến cơ hội cho mọi người. Các thành viên sẽ mặc bất cứ trang phục gì mà họ muốn và tham gia vào trò chơi oẳn-tù-tì cặp theo từng bảng và từng vòng cho đến khi tìm ra người chiến thắng. Đại hội "Oẳn tù tì" ngoài ra còn là một lễ hội cosplay, khi mà các thành viên tham gia mặc đồ theo ý thích của mình, trong đấy có rất nhiều bộ trang phục độc đáo. Tuy nhiên, Đại hội không chỉ tuyển chọn center cho single mà tùy từng năm, người chiến thắng sẽ có những đãi ngộ khác nhau. Cụ thể, Đại hội năm 2014 và 2015, người chiến thằng được ra mắt với tư cách ca sỹ solo. Đồng thời, các thành viên từ thứ hạng 2 đến 16 sẽ tham gia vào bài hát đính kèm và xuất hiện trong PV bài hát. Mặt khác, tại Đại hội năm 2016, người chiến thắng sẽ là center của nhóm nhỏ mới thành lập với các thành viên chiến thắng trong top 7, các thành viên xếp hạng từ #8 đến #14 sẽ xuất hiện trong bài hát đính kèm và PV.[171]

Nhóm cũng tổ chức concert Request Hour Setlist Best 100, nơi mà fan là người chọn bài hát cho concert. Nếu như concert bình thường sẽ do nhân sự chọn bài hát biểu diễn, thì tại Request Hour fan sẽ bầu chọn cho bài hát họ yêu thích, những bài hát trong top sẽ được biểu diễn tại đây. Các sự kiện khác nhóm tổ chức là AKB48 Kouhaku Taikou Uta Gassen (AKB48 紅白対抗歌合戦) là chương trình dựa theo Kōhaku Uta Gassen của đài NHK tổ chức tại Tokyo Dome City Hall. các thành viên được chia vào 2 đội Đỏ (akagumi (赤組, 紅組)) và đội Trắng (shirogumi (白組)) để thi đấu với nhau bằng cách luân phiên biểu diễn các bài hát của AKB48. Vào cuối chương trình, ban giám khảo và khán giả sẽ bình chọn đội thắng cuộc. Tại concert này, các thành viên thường biểu diễn những bài hát bình thường mình không được diễn, và có cả những phiên bản mới của những bài hát quen thuộc, cùng AKB group Draft Kaigi (AKB48グループ ドラフト会議, AKB48 gurūpu dorafuto kaigi)- sự kiện cho những kenkyuusei tiềm năng thực tập và tự quảng bá bản thân để các team chọn qua từng vòng.[172][173]

Vào năm 2019, cuộc tổng tuyển cử, Đại hội Janken và Kōhaku Uta Gassen không được tổ chức do đại dịch COVID-19

Phim tài liệuSửa đổi

Nhóm ra mắt 6 phim tài liệu từ 2011, phim đầu tiên DOCUMENTARY of AKB48 to be continued "10 Nengo, Shoujo Tachi wa Ima no Jibun ni Nani o Omou Nodarou?" ra mắt năm 2011[174], phát hành dưới dạng DVD tại Bắc Mỹ tháng 12 cùng năm[175], phim thứ 2 DOCUMENTARY of AKB48 Show must go on Shoujo-tachi wa Kizutsuki Nagara, Yume wo Miru ra mắt năm 2012, đạt doanh thu 3,984,152 $ tại Nhật Bản, phim thứ 3 DOCUMENTARY of AKB48 No flower without rain Shoujo Tachi wa Namida no Ato ni Nani wo Miru? ra mắt năm 2013, đạt doanh thu 2,269,118 $, phim thứ 4 DOCUMENTARY of AKB48 The Time Has Come phát hành năm 2013, đạt doanh thu 984,757 $ tính đến tháng 7 cùng năm. phim thứ 5 DOCUMENTARY of AKB48 Sonzai suru Riyuu ra mắt năm 2016, Legend of AKB48: New Chapter là phim thứ 6 ra mất năm 2018. Mỗi bộ phim ghi lại các sự kiện nhóm trải qua.

Manga và animeSửa đổi

Bộ manga AKB49: Ren'ai Kinshi Jōrei kể về AKB48 với các thành viên trong nhóm làm nhân vật phụ. Bộ anime AKB0048 là loạt phim khoa học viễn tưởng, với sự giám sát sản xuất của Yasushi Akimoto. 9 nhân vật trong anime được lồng tiếng bởi các thành viên AKB48 và các nhóm chị em. Phần 1 phát sóng vào mùa xuân 2012, phần 2 phát sóng vào năm 2013.

GameSửa đổi

Nhóm xuất hiện trong các game mô phỏng hẹn hò như AKB1/48: Idol to Koishitara... (2010), AKB1/48: Idol to Guam de Koishitara... (2011, lấy bối cảnh tại Guam), AKB1/149 Ren'ai Sōsenkyo (2012) có sự góp mặt của SKE48, HKT48 và NMB48, cả 3 game đều phát hành cho PlayStation Portable, PS VitaPS3. Năm 2014, Bandai Namco ra mắt game Sailor Zombie AKB48 Arcade Edition dựa theo phim cùng tên. AKB48 Official Music Game ra mắt 2014 là game âm nhạc đầu tiên của nhóm phát hành trên IOS & Android[176]. Năm 2012, AKB48 + Me phát hành cho Nintendo 3DS, cho phép người chơi trở thành thành viên của AKB48.

Hoạt động từ thiệnSửa đổi

Vào ngày 1 tháng 4 năm 2011, nhóm phát hành đĩa đơn từ thiện số "Dareka no Tame ni", số tiền thu được dùng cho quyên góp cho cứu trợ động đất và sóng thần. Đĩa đơn thứ 23 "Kaze wa Fuiteiru", được dành tặng cho các nạn nhân thảm họa. Vào tháng 2 năm 2012, AKB48 đã công bố khoản quyên góp 580 triệu yên khác cho Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản, và có thông tin cho đến nay nhóm đã quyên góp được tổng cộng hơn 1,25 tỷ yên để cứu trợ động đất và sóng thần.[177]

Vào ngày 8 tháng 3 năm 2013, nhóm phát hành "Tenohira ga Kataru Koto", một bài hát khác dành riêng cho các nạn nhân thảm họa trên trang web nhóm dưới dạng tải miễn phí.[178] Vào dịp kỷ niệm 2 năm diễn ra thảm họa, AKB48 và các nhóm chị em đến thăm các khu vực bị ảnh hưởng, biểu diễn tại các trường học và các nhà hát AKB48, SKE48, NMB48 và HKT48 với số tiền thu được để hỗ trợ quá trình tái thiết.[179]

Tranh cãiSửa đổi

Một trong những bài hát của nhóm gây nhiều tranh cãi là Heavy Rotation. Trong MV, họ mặc đủ loại bikini và váy ngủ gợi cảm, cùng nhau ôm, hôn và tắm chung. Theo báo chí Trung Quốc, tuy được các fan ủng hộ nhưng nhóm bị CNN của Mỹ phê phán vì lối ăn mặc khiêu khích.[180]Mika Ninagawa- đạo diễn cho bài hát cho biết cô muốn thu hút nam giới và phụ nữ bằng video vui nhộn, sáng tạo vì nhóm ngày càng nổi tiếng. Trong một bài phỏng vấn, cô tiết lộ: "Akimoto giao phó mọi thứ cho tôi mà không đưa ra lời khuyên nào cả ... Tôi đã cố gắng thể hiện AKB48 ngoài đời thực trong video. Trong phòng thay đồ, họ dường như rất thân thiết. Sau đó, tôi nghĩ ra ý tưởng nữ sinh trung học."[181]

Hay hình ảnh mà AKB48 quay quảng cáo cho Puccho Candy, trong đó các thành viên mặc đồng phục học sinh truyền nhau những chiếc kẹo từ miệng người này qua người kia. Nhiều người xem đã giận dữ tuyên bố cách đó không hợp vệ sinh, cổ súy quan hệ đồng giới và nêu gương xấu cho trẻ em.[182]

Vào tháng 2/2013, Minegishi Minami đã xin lỗi người hâm mộ khi tờ báo lá cải Shukan Bunshun đăng tải tấm ảnh Minegishi che mặt, đội nón, rời khỏi nhà bạn trai Shirahama Alan sau khi qua đêm tại đây.[183] Shirahama khi đó 19 tuổi, là vũ công của nhóm nhạc nam nổi tiếng Exile. Trong clip, cô lộ rõ vẻ mệt mỏi, căng thẳng. Điều khiến người hâm mộ bất ngờ nhất là Minegishi đã cắt cụt mái tóc của mình, cô cho biết đã quyết định cạo mái tóc dài của mình để thể hiện sự ăn năn trước hành động "thiếu suy nghĩ và chưa trưởng thành". Cô xin lỗi công ty quản lý, thành viên trong nhóm, gia đình và người hâm mộ vì khiến họ lo lắng. “Tâm trí tôi trống rỗng, tôi không biết phải làm gì lúc này. Từ lúc đọc xong bài báo, tôi đứng ngồi không yên. Tôi cạo trọc đầu mà không nói trước với người quản lý hay các bạn trong nhóm”, "Tôi không nghĩ rằng cạo đầu và thực hiện clip xin lỗi để được dung thứ cho những gì tôi đã làm. Chỉ vì điều đầu tiên tôi nghĩ trong đầu mình lúc này là không muốn rời bỏ AKB48", Minegishi thổ lộ trong nước mắt. Minegishi mong muốn được tiếp tục làm việc trong nhóm. Ngay sau khi xảy ra sự việc, Minegishi bị đẩy sang thực tập sinh của nhóm. Trong văn hóa Nhật Bản hành động này xem như là một sự trừng phạt cho những hành động gây thất vọng.[184]

Cũng trong tháng 5/2014, trong sự kiện giao lưu với người hâm mộ ở thành phố Takizawa- tỉnh Iwate, 2 thành viên Rina Kawaei, Anna Iriyama và một nhân viên nam khác đã phải nhập viện khẩn cấp sau khi bị Satoru Umeta, một người đàn ông 24 tuổi cũng là một fan cuồng cầm cưa tấn công. Ngay sau đó, hung thủ đã bị cảnh sát bắt giữ để phục vụ điều tra. Rina bị thương nặng ở đầu, gãy ngón cái tay phải còn Anna bị đa chấn thương. Quản lý của AKB48 cho biết Rina và Anna đã được phẫu thuật thành công và có thể xuất viện vào 26/5, đồng thời cho biết không ai bị đe dọa đến tính mạng trong tai nạn này. Dù vậy, show diễn ở Tokyo cũng như các buổi giao lưu với người hâm mộ của nhóm đều bị hủy bỏ.[185][186]

Bộ phim tài liệu của NHK năm 2016 gây ra các cuộc tranh luận khi cho biết sự phổ biến của các sự kiện bắt tay có thể góp phần làm suy giảm các mối quan hệ trong giới trẻ Nhật Bản, bao gồm các "chàng trai ăn cỏ"[187]. Theo đó, một số người hâm mộ thà dành thời gian ủng hộ thần tượng yêu thích của họ hơn là tích cực theo đuổi tình yêu.[188]

Nhóm nhận nhiều chỉ trích sau vụ việc Yamaguchi Maho bị 2 người đàn ông tấn công và theo đuôi đến tận nhà riêng vào 8/12/2018, tuy nhiên phải đứng ra xin lỗi trước công chúng sau đó, cô cho biết đã trao đổi với Giám đốc quản lý và sẽ tiếp tục hoạt động cho NGT48. Cô cũng thể hiện mong muốn công chúng tiếp tục ủng hộ cho nhóm. Không chỉ riêng người hâm mộ, tất cả mọi người đều cảm thấy không công bằng cho nạn nhân. Sashihara Rino còn nói rằng Yamaguchi không nên là người phải xin lỗi. Truyền thông quốc tế cũng bắt đầu đưa tin về vụ việc của Yamaguchi và bắt đầu xuất hiện hashtag Justice for Maho (Đòi công bằng cho Maho), đồng thời lên án giám đốc quản lý NGT48 đã không xử lý sự việc theo cách mà họ đáng lẽ phải làm. Quá bất ngờ trước phản ứng dữ dội từ dư luận, AKS phải lên tiếng xin lỗi và sa thải quản lý nhóm NGT48 Etsuro Imamura.[189][190]

Thành viênSửa đổi

Danh sách đĩa nhạcSửa đổi

Đĩa đơnSửa đổi

Năm # Tên Ghi chú Vị trí trên bảng xếp hạng Oricon tuần Lượng đĩa bán ra Album
Ngày đầu Tuần đầu Oricon sales Billboard

Japan sales

2006 1

(indies)

Sakura no Hanabiratachi (桜の花びらたち) Đĩa đơn phát hành độc lập 10 # 22,011 46,274 Set List: Greatest Songs 2006–2007 (SET LIST~グレイテストソングス 2006-2007~?) 0 to 1 no Aida (0と1の間 | "Giữa 0 và 1")Album kỉ niệm 10 năm ra mắt
2

(indies)

Skirt, Hirari (スカート、ひらり) 13 13,349 20,609
1 Aitakatta (会いたかった) Đia đơn ra mắt chính thức dưới nhãn đĩa DefStar Records/Sony Music 12 17,481 55,308
2007 2 Seifuku ga Jama wo Suru (制服が邪魔をする) 7 16,866 21,989
3 Keibetsu Shiteita Aijou (軽蔑していた愛情) 8 20,323 22,671
4 BINGO! 6 21,830 25,611
5 Boku no Taiyou (僕の太陽) 6 25,946 28,840
6 Yuuhi wo Miteiru ka? (夕陽を見ているか?) 10 15,370 18,429
2008 7 Romance, Irane (ロマンス、イラネ) 6 19,303 23,209 Nogashita Sakanatachi ~Single Video Collection~ Kanzen Seisan Genteiban
8 Sakura no Hanabiratachi 2008 (桜の花びらたち2008) 10 22,112 25,482
9 "Baby! Baby! Baby!" Đĩa đơn phát hành dưới định dạng số # # # # Kamikyokutachi (神曲たち? "Masterpieces")
10 Oogoe Diamond (大声ダイヤモンド) Đĩa đơn ra mắt dưới nhãn đĩa You Be Cool!/ KING RECORDS 3 14,384 48,258 96,566
2009 11 10nen Zakura (10年桜) 3 28,600 66,226 124,700
12 Namida Surprise! (涙サプライズ!) **** 2 41,046 104,180 168,826
13 Iiwake Maybe (言い訳Maybe) Các thành viên tham gia được chọn bằng Tổng tuyển cử 2009 2 57,456 90,774 145,776
14 RIVER 1 87,795 178,579 260,553
2010 15 Sakura no Shiori (桜の栞) 1 229,528 317,828 404,696
16 Ponytail to Shushu (ポニーテールとシュシュ) **** 1 354,403 354,403 740,291 Koko ni Ita Koto (ここにいたこと? "Having Been Here")
17 Heavy Rotation (ヘビーローテーション) Các thành viên tham gia được chọn bằng Tổng tuyển cử 2010

Đứng đầu bảng xếp hạng RIAJ trong 2 tuần

1 340,487 527,336 881,519
18 BEGINNER 1 568,095 826,989 1,039,352
19 Chance no Junban (チャンスの順番) Các thành viên tham gia được chọn bằng Giải đấu Oẳn tù tì 2010 1 471,242 596,769 694,042
2011 20 Sakura no Ki ni Narou (桜の木になろう) 1 655,344 942,479 1,081,686 1830m
"Dareka no Tame ni (What Can I Do for Someone?)" Đĩa đơn phát hành dưới định dạng số # # # #
21 Everyday, Katyusha (Everyday、カチューシャ) Đứng đầu bảng xếp hạng Japan Hot 100 trong 2 tuần

****

1 942,475 1,333,969 1,608,299
22 Flying Get (フライングゲット) Các thành viên tham gia được chọn bằng Tổng tuyển cử 2011

Đứng đầu bảng xếp hạng RIAJ trong 3 tuần

1 1,025,952 1,354,492 1,625,849
23 Kaze wa Fuiteiru (風は吹いている) Đứng đầu bảng xếp hạng RIAJ trong 3 tuần 1 1,045,937 1,300,482 1,457,113
24 Ue Kara Mariko (上からマリコ) Các thành viên tham gia được chọn bằng Giải đấu Oẳn tù tì 2011 1 959,280 1,198,864 1,304,903
2012 25 GIVE ME FIVE! Đứng đầu bảng xếp hạng RIAJ trong 2 tuần 1 966,529 1,287,217 1,436,519
26 Manatsu no Sounds Good! (真夏のSounds Good!) Đứng đầu bảng xếp hạng Japan Hot 100 trong 2 tuần

****

1 1,170,554 1,616,795 1,822,220 Tsugi no Ashiato (次の足跡? "Những bước chân tiếp theo")
27 Gingham Check (ギンガムチェック) Các thành viên tham gia được chọn bằng Tổng tuyển cử 2012 1 906,617 1,181,966 1,316,240
28 UZA 1 884,602 1,128,696 1,263,148
29 Eien Pressure (永遠プレッシャー) Các thành viên tham gia được chọn bằng Giải đấu Oẳn tù tì 2012 1 840,043 1,073,499 1,206,869
2013 30 So Long 1 817,530 1,035,986 1,132,853
31 Sayonara Crawl (さよならクロール) **** 1 1,450,881 1,762,873 1,955,800
32 Koi Suru Fortune Cookie (恋するフォーチュンクッキー) Các thành viên tham gia được chọn bằng Tổng tuyển cử 2013 1 1,095,894 1,330,432 1,548,596
33 Heart Ereki (ハート・エレキ) 1 1,020,800 1,203,586 1,294,197 Koko ga Rhodes da, Koko de tobe! (ここがロドスだ、ここで跳べ!)
34 Suzukake no Ki no Michi de 'Kimi no Hohoemi o Yume ni Miru'

to Itte Shimattara Bokutachi no Kankei wa Dō Kawatte Shimau no ka, Bokunari ni Nan-nichi ka Kangaeta Ue de no Yaya Kihazukashii Ketsuron no Yō na Mono

Các thành viên tham gia được chọn bằng Giải đấu Oẳn tù tì 2013 1 916,912 1,033,336 1,086,491
2014 35 Mae Shika Mukanee (前しか向かねえ) 1 970,413 1,091,406 1,153,906
36 Labrador Retriever (ラブラドール・レトリバー) **** 1 1,462,156 1,662,265 1,787,367
37 Kokoro no Placard (心のプラカード) Các thành viên tham gia được chọn bằng Tổng tuyển cử 2014 1 871,923 1,005,774 1,061,976
38 Kibouteki Refrain (希望的リフレイン) 1 1,017,160 1,130,312 1,199,429
2015 39 Green Flash 1 860,269 1,001,393 1,045,492
40 Bokutachi wa Tatakawanai (僕たちは戦わない) **** 1 1,472,375 1,673,211 1,782,897
41 Halloween Night Các thành viên tham gia được chọn bằng Tổng tuyển cử 2015 1 1,187,633 1,277,761 1,331,249
42 Kuchibiru ni Be My Baby (唇に Be My Baby) (9/12/2015) 1 813,044 905,490 1,081,249 Thumbnail

(サムネイル)

2016 43 Kimi Wa Melody (君はメロディー You Are Melody) Đĩa đơn kỉ niệm 10 năm ngày ra mắt

Có sự góp mặt của 5 thành viên đã tốt nghiệp

1 1,133,179 1,237,891 1,292,198 1,470,789
44 Tsubasa Wa iranai (翼はいらない Wings Aren't Needed) **** 1 1,331,907 1,440,711 1,516,646 2,507,403
45 LOVE TRIP / Shiawase wo Wakenasai (LOVE TRIP / しあわせを分けなさい) Các thành viên tham gia được chọn bằng Tổng tuyển cử 2016 1 1,100,332 1,177,769 1,213,660 1,412,112
46 High Tension (ハイテンション) 1 1,120,070 1,180,047 1,207,831 1,469,811
2017 47 Shoot Sign (シュートサイン) 1 933,969 1,025,267 1,085,365 1,353,450 Bokutachi wa, Ano Hi no Yoake wo Shitteiru

(僕たちは、あの日の夜明けを知っている)

48 Negaigoto no Mochigusare (願いごとの持ち腐れ) **** 1 1,217,244 1,305,747 1,387,943 2,649,234
49 #Suki Nanda (#好きなんだ) Các thành viên tham gia được chọn bằng Tổng tuyển cử 2017 1 1,036,551 1,089,729 1,126,774 1,493,543
50 11gatsu no Anklet (11月のアンクレット) 1 1,048,400 1,095,240 1,124,815 1,533,025
2018 51 Jabaja (ジャーバージャ) 1 1,028,653 1,115,843 1,158,167 1,260,919
52 Teacher Teacher **** 1 1,591,164 1,661,038 1,812,871[8] 3,000,000
53 Sentimental Train 1 1,394,356 1,448,900 1,476,076 1,551,061
54 NO WAY MAN 1 1,173,015 1,205,009 1,227,547
55 Jiwaru DAYS 1 1,190,095 1,262,820 1,306,184 1,460,302
56 "Sustainable" (サステナブル) 1 1,338,291 1,380,266 1,410,206 1,628,184
57 "Shitsuren, Arigatō" (失恋、ありがとう) 1 1,150,839 1,166,598 1,172,755 1,414,077

* Billboard Japan Hot 100 được đăng tải từ tháng 1/2008, RIAJ Digital Track Chart được thành lập vào tháng 4/2009 và bị huỷ vào tháng 7/2012.
** charted in 2010
*** These are unofficial figures obtained by adding together Oricon sales numbers for different periods of time when the single charted on Oricon.
**** Đĩa đơn bao gồm phiếu bình chọn Tổng tuyển cử

Album phòng thuSửa đổi

Năm Tên Thông tin Oricon
Bảng Xếp Hạng Album Tuần
[191]
Oricon
sales
[191]
Certification
(RIAJ)
2008 Set List: Greatest Songs 2006–2007 (SET LIST~グレイテストソングス 2006-2007~?)
  • Phát hành: 1 tháng 11 năm 2008
  • Tái bản ngày 14 tháng 7 năm 2010 với tên Set List: Greatest Songs Kanzenban
  • Nhãn đĩa: DefStar Records (DFCL-1429/30 (Limited), DFCL-1431 (Regular), DFCL-1653 (Kanzen)*)
  • Định dạng:: CD, Tải nhạc số
29
2*
54,000
164,000*
Platinum (250,000+)[192]
2010 Kamikyokutachi (神曲たち? "Masterpieces")
1 571,000 Double Platinum[193]
2011 Koko ni Ita Koto (ここにいたこと? "Having Been Here")
1 878,000 Million (1.000.000+)[192]
2012 1830m
1 1.030.000 Million (1.000.000+)[192]
2014 Tsugi no Ashiato (次の足跡? "Những bước chân tiếp theo")
1 1,041,951 Million

(1.000.000+)

2015 Koko ga Rhodes da, Koko de tobe! (ここがロドスだ、ここで跳べ!)
  • Phát hành: 21 tháng 1 năm 2015
  • Nhãn đĩa: King Records
  • Định dạng: CD, Tải nhạc số
1 780,591 RIAJ: 3× Platinum
0 to 1 no Aida

(0と1の間)

  • Phát hành: 18 tháng 11 năm 2015
  • Nhãn đĩa: You Be Cool!/KING RECORDS
  • Định dạng: CD, Tải nhạc số
1 715,109
2017 Thumbnail

(サムネイル)

  • Phát hành: 25 tháng 1 năm 2017
  • Nhãn đĩa: You Be Cool!/KING RECORDS
  • Định dạng: CD, Tải nhạc số
1 632,615
2018 Bokutachi wa, Ano Hi no Yoake o Shitteiru

(僕たちは、あの日の夜明けを知っている)

  • Phát hành: 24 tháng 1 năm 2018
  • Nhãn đĩa: You Be Cool!/KING RECORDS
  • Định dạng: CD, Tải nhạc số
1 611,056

PV collectionsSửa đổi

Tiêu đề Ngày phát hành Tất cả
Nogashita Sakanatachi ~Single Video Collection~ Kanzen Seisan Genteiban 14 tháng 7 năm 2010 86.372
AKB ga Ippai ~The Best Music Video~ (AKBがいっぱい ~ザ・ベスト・ミュージックビデオ~?) 24 tháng 6 năm 2011 524.908

Các sub-unit cho đĩa đơnSửa đổi

  • Senbatsu (選抜)
  • Under Girls (アンダーガールズ?)
  • Theater Girls (シアターガールズ?)
  • Next Girls (ネクストガールズ)
  • Future Girls (フューチャーガールズ)
  • Upcoming Girls (アップカミングガールズ)
  • Team PB (チーム PB?): đơn vị hợp tác đặc biệt của AKB48, Shueisha và tuần Playboy
  • Team YJ (チーム YJ?): đơn vị hợp tác đặc biệt của AKB48, Shueisha và tuần Young Jump
  • Yasai Sisters (野菜 シスターズ?): đơn vị phối hợp đặc biệt của AKB48 và Công ty Kagome
  • MINT: sub-unit thời vụ được lập khi phát hành đĩa đơn thứ 18.
  • Selection 6/10/12/16 (セレクション 6/10/12/16)
  • Special Girls (スペシャルガールズ)
  • Google+ Senbatsu
  • Stage Fighter Senbatsu
  • Waiting Girls (ウェイティングガールズ)
  • OKL48
  • BKA48
  • Tentoumu Chu! (てんとうむChu!)
  • Smiling Lions
  • Beauty Giraffes
  • Baby Elephants
  • Talking Chimpanzees
  • Baragumi (ばら組)
  • Yurigumi (ゆり組)
  • Katareagumi (カトレア組)
  • Kojizaka46 (こじ坂46)
  • Team Surprise (チームサプライズ)
  • Kabutomu Chu! (かぶとむChu!)
  • Dendenmu Chu! (でんでんむChu!)
  • WONDA Senbatsu (WONDA選抜)
  • Gensou & Jikisou (ゲンソー&ジキソー)
  • Asa ga Kita Senbatsu (あさが来た選抜)
  • Next Generation Senbatsu (次世代選抜)
  • Renacchi Sousenkyo Senbatsu (れなっち総選挙選抜)
  • Mushi Kago (虫かご)
  • Nogizaka AKB (乃木坂AKB)
  • IZ4648

Các sub-unit chính thứcSửa đổi

No3b (ノース リーブス)Sửa đổi

  • Kojima Haruna (Team A) (đã tốt nghiệp)
  • Takahashi Minami (Tổng quản lí của 48 Group) (đã tốt nghiệp)
  • Minegishi Minami (Team K - Captain)

Watarirouka Hashiritai (渡り廊下 走り 隊)/ Watarirouka Hashiritai 7 (渡り廊下 走り 隊 7) (Đã giải tán)Sửa đổi

  • Oota Aika (HKT48 Team KIV) (đã tốt nghiệp)
  • Nakagawa Haruka (JKT48 - Team J / Team Kaigai) (đã tốt nghiệp)
  • Watanabe Mayu (team B) (Đã tốt nghiệp)
  • Kikuchi Ayaka (Đã tốt nghiệp)
  • Iwasa Misaki (Team B) (Watarirouka Hashiritai 7) (Đã tốt nghiệp)
  • Komori Mika (Đã tốt nghiệp) (Watarirouka Hashiritai 7) (Đã tốt nghiệp)

French Kiss (フレンチ キス) (Đã giải tán)Sửa đổi

  • Kashiwagi Yuki (Team B / NGT48)
  • Takajo Aki (Team K)(đã tốt nghiệp)
  • Kuramochi Asuka (Đã tốt nghiệp)

Not yetSửa đổi

  • Oshima Yuko (đã tốt nghiệp)
  • Kitahara Rie (NGT48) (đã tốt nghiệp)
  • Sashihara Rino (HKT48 -Team H) (đã tốt nghiệp)
  • Yokoyama Yui (Tổng quản lí của 48 Group) (Team A)

DiVA (Đã giải tán)Sửa đổi

  • Akimoto Sayaka (team K)(đã tốt nghiệp)
  • Umeda Ayaka (NMB48 Team BII)(đã tốt nghiệp)
  • Masuda Yuka (team K)(đã tốt nghiệp)
  • Miyazawa Sae (SNH48 - Team SII / SKE48 - Team S)(đã tốt nghiệp)

Chocolove from AKB (Đã giải tán)Sửa đổi

  • Nakanishi Rina (team A) (đã tốt nghiệp)
  • Akimoto Sayaka (team K)(đã tốt nghiệp)
  • Miyazawa Sae (SNH48 - Team SII / SKE48 - Team S)(đã tốt nghiệp)

JankenminSửa đổi

  • Tanabe Miku (team B) (đã tốt nghiệp)
  • Yumoto Ami (team K)
  • Komiyama Haruka (team 4)
  • Takeuchi Saki (SKE48)
  • Fukuoka Seina (team B)
  • Nozawa Rena (team 4)
  • Shibuya Nagisa (NMB48)

Nhóm nhỏSửa đổi

Nhóm nhỏ Tổng số bán
Watarirouka Hashiritai 600.542
Not Yet 659.510
No Sleeves 411.274
Team Dragon from AKB48 140.000
French Kiss 475.000
Queen & Elizabeth 32.000
Chocolove from AKB48 25.000

Đơn vị dẫn xuấtSửa đổi

  • Honegumi từ AKB48 (ほねほねワルツ)
  • ICE từ AKB48
  • Crayon Friends từ AKB48 (クレヨンフレンズ từ AKB48?): đơn vị hợp tác đặc biệt của AKB48 và Crayon Shin-chan
  • Okashina Sisters (お菓子 な シスターズ?)
  • AKB Idoling! (AKB アイドリング!!!?): đơn vị hợp tác đặc biệt của AKB48 và Idoling!
  • AKB Bảng Tennis Club (AKB 卓 球 部?)
  • Kỷ niệm 75 Yomiuri Giants Foundation hỗ trợ đơn vị (読 売 巨人 军 创立 75 周年 応 援 队?): đơn vị hợp tác đặc biệt của AKB48 và Yomiuri Giants
  • Natto Angel (ナットウエンジェル?)
  • Queen & Elizabeth: sub-unit được lập đê hát bài hát chính của Kaimen Rider W
  • Team Dragon của AKB48 (チーム ドラゴン từ AKB48?): sub-unit được lập để hát bài hát chính cho bộ phim Dragon Ball
  • AKB Bảng Tennis Club 2010 (AKB 卓 球 部 năm 2010?)
  • Natto Angel Z (ナットウエンジェル Z?)
  • Miniskirt (ミニスカート?): đơn vị hợp tác đặc biệt của AKB48 và Takara Tomy
  • AKB48 Kaspersky Viện (AKB48 カスペルスキー 研究所?): đơn vị hợp tác đặc biệt của AKB48 và Kaspersky Lab
  • Team Kishin từ AKB48: đơn vị hợp tác đặc biệt của AKB48 và Kishin Shinoyama
  • Team Z: đơn vị hợp tác đặc biệt của AKB48 và Kyoraku Sangyo của "Pachinko Zenigata Heiji"

Album trình diễn tại nhà hátSửa đổi

STT Tiêu đề Ngày phát hành
1 Team A 1st Stage "Party ga Hajimaru yo" (チームA 1st Stage「PARTYが始まるよ」) 7/3/2007
2 Team A 2nd Stage "Aitakatta" (チームA 2nd Stage「会いたかった」)
3 Team A 3rd Stage "Dareka no Tame ni" (チームA 3rd Stage「誰かのために」)
4 Team K 1st Stage "Party ga Hajimaru yo" (チームK 1st Stage「PARTYが始まるよ」)
5 Team K 2nd Stage "Seishun Girls" (チームK 2nd Stage「青春ガールズ」)
6 Team K 3rd Stage "Nonai Paradise" (チームK 3rd Stage「脳内パラダイス」)
7 Team A 5th Studio Recording "Renai Kinshi Jourei" (チームA 5th Stage 「恋愛禁止条例」) 11/8/2009
8 Team K 5th Studio Recording "Saka Agari" (チームK 5th Studio Recording 「逆上がり」)
9 Team B 4th Studio Recording "Idol no Yoake" (チームB 4th Studio Recording 「アイドルの夜明け」)
10 Team K 6th Studio Recording "RESET" (チームK 6th Studio Recording「RESET」) 7/8/2010
11 Team B 5th Studio Recording "Theatre no Megami" (チームB 5th Studio Recording「シアターの女神」)
12 Team A 6th Studio Recording "Mokugekisha" (チームA 6th Studio Recording「目撃者」) 18/9/2010
13 AKB48 Studio Recordings Collection (AKB48 Studio Recordings コレクション) 1/1/2013

Danh sách phim & chương trình truyền hìnhSửa đổi

PhimSửa đổi

Danh sách phim truyền hình của AKB48
Năm Tên Kênh phát sóng Ngày phát sóng Ghi chú
2006 Japanorama BBC 14/9 Xuất hiện trong phần 2- tập 2
2008 Mendol - Ikemen Idol TV Tokyo 10/10-26/12 Kojima Haruna, Takahashi Minami, Minegishi Minami tham gia
2010 Majisuka Gakuen (マジすか学園) 8/1-26/3 Cả nhóm tham gia
2011 Sakura Kara no Tegami: AKB48 Sorezore no Sotsugyo Monogatari (桜からの手紙 〜AKB48 それぞれの卒業物語〜)[194] Nippon TV 26/2-6/3
Majisuka Gakuen 2 (マジすか学園 2) TV Tokyo 15/4-1/7 Phần 2 phim Majisuka Gakuen
2012 Shiritsu Bakaleya Koukou (私立バカレア高校)[195] Nippon TV 14/4-30/6 Đóng cùng Yuya Takaki (Hey! Say! JUMP), nhóm SixTONES và Team 4 AKB48
Majisuka Gakuen 3 (マジすか学園3) TV Tokyo 13/7-5/10 Phần 3 phim Majisuka Gakuen
2013 So long! Nippon TV 11-13/2 Team A, K, B tham gia
Wanda × AKB48 Short Story: Fortune Cookie Fuji TV 8/7 Oshima Yuko, Shinoda Mariko, Kojima Haruna, Watanabe Mayu, Kashiwagi Yuki, Shibata Aya (SKE48) tham gia
2014 Sailor Zombie (セーラーゾンビ?)[196] TV Tokyo 19/4-19/7
2015 Majisuka Gakuen 4 (マジすか学園4) Nippon TV 20/1-30/3 Phần 4 phim Majisuka Gakuen
Majisuka Gakuen 5 (マジすか学園5) Nippon TV, Hulu 24/8-27/10 Phần 5 phim Majisuka Gakuen, Nippon TV phát 2 tập đầu, các tập còn lại phát trên Hulu
AKB Horror Night: Adrenaline no Yoru Asahi TV, au Video Pass 8/10/2015-3/3/2016
2016
AKB Love Night: Koi Kōjo 21/4-15/9
Crow's Blood Nippon TV, Hulu 23/7-27/8
Kyabasuka Gakuen Nippon TV 29/10/2016-14/1/2017 Miyawaki Sakura đóng vai chính
2017
Tōfu Pro Wrestling (豆腐プロレス) Asahi TV 22/1-2/7 Đóng cùng SKE48, NMB48, HKT48, NGT48
2018 Majimuri Gakuen (マジムリ学園) Nippon TV, Hulu 25/7-26/9
Danh sách phim tài liệu của AKB48
Năm Tên Ngày phát hành Ghi chú
2011 DOCUMENTARY of AKB48 to be continued "10 Nengo, Shoujo Tachi wa Ima no Jibun ni Nani o Omou Nodarou?"[72] 14/9 Phim tài liệu đầu tiên
2012 DOCUMENTARY of AKB48 Show must go on Shoujo-tachi wa Kizutsuki Nagara, Yume wo Miru 27/1 Phim kể về những khoảnh khắc của năm 2011: Team 4 ra đời, Maeda Atsuko giành chiến thắng trong cuộc bầu cử Senbatsu lần thứ 3 và Dự án từ thiện Dareka no Tame ni.
2013 DOCUMENTARY of AKB48 No flower without rain Shoujo Tachi wa Namida no Ato ni Nani wo Miru? 1/2 Phim kể về những khoảnh khắc của năm 2012: lễ tốt nghiệp của Maeda Atsuko, Sashihara Rino sang HKT48, Oshima Yuko giành chiến thắng trong cuộc bầu cử Senbatsu lần thứ 4 và buổi concert tại Tokyo Dome.
2014 DOCUMENTARY of AKB48 The Time Has Come 4/7 Phim kể về những khoảnh khắc khác nhau của năm 2013 và 2014: lễ tốt nghiệp của Shinoda Mariko, Itano Tomomi và Oshima Yuko, AKB48 Group Daisokaku Matsuri, AKB48 Group Draft Kaigi 2013, Sashihara Rino giành chiến thắng trong cuộc bầu cử Senbatsu thứ 5, Watanabe Mayu giành chiến thắng trong cuộc bầu cử Senbatsu thứ 6 và buổi concert tại Sân vận động Olympic Quốc gia.
2016 DOCUMENTARY of AKB48 Sonzai suru Riyuu 8/7 Bộ phim tập trung vào lễ tốt nghiệp của Tổng quản Takahashi Minami và Yokoyama Yui kế nhiệm. Hơn nữa, 2 nhóm chị em HKT48 và NMB48 đang ngày càng nổi tiếng. Ngoài ra NGT48 cũng ra mắt và nhóm Nogizaka46 trở thành một đối thủ lớn.
2018 Legend of AKB48: New Chapter 24/12 Các thành viên thế hệ hiện tại đang dốc hết sức mình xây dựng AKB48 đạt đến đỉnh cao như "thời kỳ hoàng kim". Qua đó ta sẽ thấy được sự nỗ lực cố gắng của các cô gái của chúng ta vì AKB48 thân yêu mà đã đổ ra rất nhiều mồ hôi nước mắt. Liệu những nỗ lực ấy có được đền đáp?

Chương trình truyền hìnhSửa đổi

Năm Tên Kênh Thời lượng Ghi chú
2007–2009 AKB48+10! Sky PerfecTV! 24 tập x 60 phút
2008 AKB1:59! (AKB1じ59ふん! AKB1ji59fun!?) Nihon TV 10 tập x 30 phút
2008 AKB0:59! (AKB0じ59ふん! AKB0ji59fun!?) 26 tập x 30 phút
2008–2019 AKBingo! Nippon TV 30 phút hàng tuần 560 tập (tập cuối: ngày 24 tháng 9 năm 2019)
2008–nay AKB48 Nemousu TV (AKB48ネ申テレビ?) Family Gekijo 11 tập x 30 phút hơn 33 mùa + đặc biệt
2009–2012 Shukan AKB (週刊AKB?, Weekly AKB) TV Tokyo 30 phút hàng tuần
2009–2010 AKB1/48 Sky PerfecTV! 8 tập x 30 phút
2010–2016 Ariyoshi AKB Kyōwakoku (有吉AKB共和国?, Ariyoshi AKB Republic) TBS 30 phút hàng tuần với Hiroiki Ariyoshi
2010–2011 AKB-Kyu Gourmet Stadium (AKB-級グルメスタジアム?, AKB-Class Gourmet Stadium) Sukachan 6 tập x 45 phút 2 mùa
2010 AKB600sec. Nihon TV 16 tập x 15 phút
2010–2016 AKB to chome chome! (AKBと××!?, AKB and xx!) Yomiuri TV 60 phút hàng tháng + đặc biệt
2011 Akemashite AKB! (あけましてAKB!?) Nihon TV 1 tập
2011 Another AKB48 Documentary – "Future in 1 millimeters ahead" (Mou hitotsu no AKB48 – "1 Miri Saki no Mirai"?, もうひとつのAKB48ドキュメンタリー「1ミリ先の未来」) NHK General TV 1 tập
2011-2012 『ひかりTV presents AKB48コント「びみょ〜」』 (Hikari TV presents AKB48 Konto "Bimyo~"?) Hikari TV 20 tập
2013–2019 AKB48 SHOW! NHK BS Premium 30 phút hàng tuần Chương trình kết thúc vào ngày 24 tháng 3 năm 2019 sau 216 tập.
2013–2017 AKB観光大使 (AKB48 Kankō Taishi?) FujiTV ONE 60 phút, 1 tháng 1 lần
2018 Produce 48 Mnet 12 tập Iz*One ra đời, trong đó Honda Hitomi của AKB48 cùng Yabuki Nako với Miyawaki Sakura của HKT48 là 3 thành viên từ Nhật Bản của nhóm, cả 3 hoạt động cho Iz*One đến tháng 4/2021[131]

AnimeSửa đổi

  • AKB0048: Là bộ anime truyền hình của Nhật Bản lấy cảm hứng từ nhóm, phát sóng 2 mùa từ 2012-2013

MangaSửa đổi

  • AKB49 ~ Renai Kinshi Jourei ~ (AKB49 ~ 恋愛 禁止 条例 ~)
  • AKB0048 - Episode 0
  • AKB48 Satsujin Jiken

GameSửa đổi

Năm Tên Nền tảng Ghi chú
2010 AKB 1/48 Idol to Koi Shitara… (AKB1/48 アイドルと恋したら…) PSP Game hẹn hò giả tưởng
2011 AKB 1/48 Idol to Guam de Koi Shitara… (AKB1/48 アイドルとグアムで恋したら…?) Game hẹn hò giả tưởng lấy bối cảnh tại đảo Guam.
AKB48 Stage Fighter Điện thoại Bao gồm các thành viên từ AKB48, SKE48 và NMB48
2012 AKB48 Trading Card Game & Collection Game Thực tế ảo
AKB48+Me Nintendo 3DS
AKB1/149 Renai Sousenkyo (AKB1/149恋愛総選挙?) PSP, PS VitaPS3 Game hẹn hò giả tưởng, bao gồm các thành viên từ AKB48, SKE48, HKT48 và NMB48
2013 AKB48 no Yabou Điện thoại, Máy tính Game nhập vai
Sailor Zombie AKB48 Arcade Edition Máy tính Team A: Iriyama Anna, Kawaei Rina, Watanabe Mayu

Team K: Oshima Yuko

Team B: Kashiwagi Yuki

Team 4: Nishino Miki, Kojima Mako

2014 AKB48 Official Music Game Điện thoại Bao gồm các thành viên từ AKB48, SKE48, HKT48 và NMB48, đóng cửa ngày 26/3/2018
2017 AiKaBu
AKB48 Stage Fighter 2 Battle Festival Bao gồm các thành viên từ AKB48, SKE48, NMB48, HKT48, NGT48 và STU48
2018 AKB48 Dice Caravan
Arcana no Himitsu
AKB48 Beat Carnival Bao gồm các thành viên từ AKB48, SKE48, NMB48, HKT48, NGT48 và STU48
2019 AKB48 Cherry Bay Blaze Cùng Mao Duy Gia, Lưu Niệm, Chu Linh (AKB48 Team SH), đóng cửa tháng 1/2021
2020 AKB48 no Dobboun! Hitori Jime

Danh sách các sự kiện của AKB48Sửa đổi

Các chuyến lưu diễn & concertSửa đổi

Các chuyến lưu diễn & concert tại Nhật Bản
Tên Thời gian Địa điểm Chú thích
First Concert "Aitakatta ~Hashira wa Naize!~" in Nippon Seinenkan

(ファーストコンサート「会いたかった ~柱はないぜ!~」in 日本青年館)

3-4/11/2006 Nippon Seinenkan, Tokyo Buổi concert đầu tiên
AKB48 Haru no Chotto dake Zenkoku Tour ~Madamada Daze AKB48!(「春のちょっとだけ全国ツアー ~まだまだだぜ AKB48!~」 10/3-1/4/2007
  • Tokyo (10-11/3)
  • Aichi (17/3)
  • Fukuoka (18/3)
  • Osaka (31/3-1/4)
Tour diễn toàn quốc đầu tiên
AKB48 Request Hour Setlist Best 100 2008

(AKB48 リクエストアワーセットリストベスト100 2008)

21-24/1/2007 Shibuya AX, Tokyo Fan bình chọn cho các bài hát gốc (original song) của AKB48 mà họ yêu thích.
Live DVD wa Derudaroukedo, Yappari Iki ni Kagiruze! AKB48 Natsu Matsuri
(ライブDVDは出るだろうけど、やっぱり生に限るぜ! AKB48夏祭り)
23/8/2008 Phát hành dưới dạng DVD
AKB48 Masaka, Kono Concert no Ongen wa Ryuushutsushinai yo ne? 
(AKB48 まさか、このコンサートの音源は流出しないよね?)
27/12/2008 NHK Hall, Tokyo Cùng SKE48, có sự tham gia của thành viên Team A tốt nghiệp Nakanishi Rina, Narita Risa, Komatani Hitomi, Tojima Hana, Ohe Tomomi.
Nenwasure Kanshasai Shuffle Sumaze, AKB! SKE mo Yoroshiku ne

(年忘れ感謝祭 シャッフルするぜ、AKB! SKEもよろしくね)

20/12/2008
AKB48 Request Hour Setlist Best 100 2009 

(AKB48 リクエストアワーセットリストベスト100 2009)

18-21/1/2009 Shibuya AX Tokyo Fan bình chọn cho các bài hát gốc (original song) của AKB48/ SKE48 mà họ yêu thích.
"Kami Kouen Yotei" AKB48 NHK Hall Concert 2009

(「神公演予定」AKB48 NHKホール コンサート 2009)

25-26/4/2009 NHK Hall
AKB48 Bunshin no Jutsu Tour / AKB104 Senbatsu Members Sokaku Matsuri 

(AKB48 分身の術ツアー/AKB104選抜メンバー組閣祭り)

11-23/8/2009
  • Namba Hatch, Osaka(11/8)
  • Zepp Nagoya, Nagoya (12/8)
  • Zepp Fukuoka, Fukuoka (15/8)
  • Nippon Seinenkan,Tokyo (22-23/8)
Buổi concert này là lần cuối cùng của Saeki Mika với tư cách là thành viên AKB48
AKB48 Natsu no Saruobasan Matsuri 

(AKB48 夏のサルオバサン祭り)

13/9/2009 Công viên Fuji-Q Highland, Fujiyoshida, tỉnh Yamanashi
AKB48 Request Hour Setlist Best 100 2010 

(AKB48 リクエストアワーセットリストベスト100 2010)

21-24/1/2010 Shibuya AX, Tokyo Fan bình chọn cho các bài hát gốc (original song) của AKB48/SKE48/SDN48 mà họ yêu thích.
AKB48 Manseki Matsuri Kibou Sanpi Ryouron 

(AKB48 満席祭り希望 賛否両論)

24-25/3/2010 Yokohama Arena, Yokohama
AKB48 Concert "Surprise wa Arimasen" 

(AKB48 コンサート「サプライズはありません」)

10-11/7/2010 Sân vận động Quốc gia Yoyogi, công viên Yoyogi, Tokyo SKE48, SDN48 cùng tham gia
AKB48 AKB Yatte Kita!! 

(AKB48 AKBがやって来た!!)

17-25/8/2010
  • Aster Plaza, Hiroshima (17/8)
  • Namba Hatch, Osaka (18/8)
  • Zepp Sendai, Sendai (25/8)
Tổ chức 8 buổi concert
AKB48 Tokyo Aki Matsuri 
(AKB48 東京 秋祭り)
9-10/10/2010 Kasai Rinkai Park, Tokyo SKE48, SDN48 cùng tham gia
KYORAKU PRESENTS AKB48 SKE48 LIVE IN ASIA 16/11/2010 Phát hành dưới dạng DVD
AKB48 Request Hour Setlist Best 100 2011 
(AKB48 リクエストアワーセットリストベスト100 2011)
20-23/1/2011 Shibuya AX, Tokyo
Minogashita Kimitachi e ~AKB48 Group Zenkouen~ (見逃した君たちへ ~AKB48グループ全公演~)
  • 24/5-8/6
  • 10-12/6/2011
SKE48, SDN48, NMB48 cùng tham gia. Có tổng cộng 18 buổi biểu diễn
AKB48 First Dome Concert "Yossha~Ikuzo~! in Seibu Dome" in Saitama 22-24/7/2011 Seibu Dome (nay là MetLife Dome), Saitama SKE48, SDN48, NMB48 cùng tham gia. Có tổng cộng 155 thành viên biểu diễn.
AKB48 in a-nation 2011[197] 30/7-28/8/2011
  • Ehime (30/7)
  • Fukuoka (6/8)
  • Aichi (13/8)
  • Osaka (20/8)
  • Tokyo (28/8)
SKE48, SDN48, NMB48, các nhóm nhỏ DiVA, French Kiss, Not yet, No Sleeves cùng tham gia
AKB ga Ippai ~SUMMER TOUR 2011~ 

(AKBがいっぱい~SUMMER TOUR 2011~)

Tháng 8/2011 Nhật Bản Có tổng cộng 26 buổi diễn tại 13 thành phố trên khắp Nhật Bản. Mỗi team biểu diễn 1 lần tại thành phố đầu tiên của họ, và sau đó 2 lần tại mỗi thành phố sau đó. Ví dụ, team A biểu diễn 1 lần ở Sapporo và 2 lần ở Toyama, Nagoya và Kobe.
AKB48 Request Hour Setlist Best 100 2012 

(AKB48 リクエストアワーセットリストベスト100 2012)

19-22/1/2012 Tokyo Dome City Hall,Tokyo Fan bình chọn cho các bài hát gốc (original song) của AKB48/SKE48/SDN48/NMB48 mà họ yêu thích.
Gyomu Renraku. Tanomuzo, Katayama Bucho! in Saitama Super Arena 

(業務連絡。頼むぞ、片山部長! in さいたまスーパーアリーナ)[198]

23-25/3/2012 Saitama Super Arena,tỉnh Saitama
  • SKE48, NMB48, HKT48, SDN48 và JKT48 (Indonesia) cùng tham gia.
  • Maeda Atsuko thông báo tốt nghiệp
AKB48 Zenkoku Tour 2012 Nonaka Misato, Ugoku.

(AKB48全国ツアー2012 野中美郷、動く。~47都道府県で会いましょう~)

6/4/2012-3/4/2013 Tour diễn toàn quốc
Minogashita Kimitachi e 2 ~AKB48 Group Zenkouen~(見逃した君たちへ 2 ~AKB48グループ全公演~) 3-24/5/2012 SKE48, NMB48, HKT48 và SDN48 tham gia, với 21 buổi diễn
AKB48 Zenkoku Tour 2012 Nonaka Misato, Ugoku. Team K Okinawa Kouen 
(AKB48全国ツアー2012 野中美郷、動く。~47都道府県で会いましょう~TeamK沖縄公演)
22/7/2012 Tour diễn toàn quốc Team K biểu diễn
AKB48 in TOKYO DOME ~1830m no Yume~ 
(AKB48 in TOKYO DOME ~1830mの夢~)
24-26/8/2012 Tokyo Dome, Tokyo Buổi biểu diễn tốt nghiệp của Maeda Atsuko. SKE48, NMB48, HKT48, và JKT48 cùng tham gia.
AKB48 Request Hour Setlist Best 100 2013 
(AKB48 リクエストアワーセットリストベスト100 2013)
24-27/1/2013 Tokyo Dome City Hall, Tokyo Fan bình chọn cho các bài hát gốc (original song) của AKB48/SKE48/SDN48/NMB48/HKT48 mà họ yêu thích.
AKB Fair at Nippon Budoukan 
(AKB フェア at 日本武道館)
25-28/4/2013 Nippon Budoukan, Tokyo SKE48, NMB48, HKT48 và SDN48 tham gia
Omoidaseru Kimitachi e ~AKB48 Group Zenkouen~ 
(思い出せる君たちへ ~AKB48グループ全公演~)
2-25/5/2013 Tokyo Dome City Hall, Tokyo
AKB48 Group Kenkyuusei Concert ~Oshimen Hayai Mono Gachi~ 
(AKB48グループ研究生 コンサート ~推しメン早い者勝ち~)
5/6/2013 Nippon Budoukan, Tokyo Các thực tập sinh AKB48, SKE48, NMB48, HKT48 và SDN48 tham gia
AKB48 Super Festival at Nissan Stadium 
(AKB48 スーパーフェスティバル at 日産スタジアム)
8/6/2013 Nissan Stadium, Yokohama, Kanagawa Cuộc tổng tuyển cử cho single thứ 5 tổ chức đồng thời
AKB48 5 Big Dome Concert Tour 
(AKB48 5大ドームコンサートツアー)
20/7-25/8/2013
  • Fukuoka Yahoo Auction Dome (20-21/7)
  • Sapporo Dome (31/7)
  • Osaka Kyocera Dome (7-8/8)
  • Nagoya Dome (16-17/8)
  • Tokyo Dome (22-25/8)
AKB48 biểu diễn tại 5 Big Domes của Nhật Bản
AKB48 Request Hour Setlist Best 200 2014 
(AKB48 リクエストアワーセットリストベスト200 2014)
  • Tokyo Dome City Hall (23-26/1/2014)
  • Saitama Super Arena (6/4/2014)
Fan bình chọn cho các bài hát gốc (original song) của AKB48/SKE48/SDN48/NMB48/HKT48 mà họ yêu thích.
AKB48 Tandoku Haru Con in Kokuritsu Kyougiba 〜Omoide wa Zenbu Koko ni Sutete Ike!〜 
(AKB48 単独 春コン in 国立競技場 ~思い出は全部ここに捨てていけ!~)
29/3/2014 Sân vận động Quốc gia Nhật Bản, Tokyo Buổi biểu diễn đầu tiên của AKB48 tại Sân vận động Quốc gia.
AKB48 Oshima Yuko Graduation Concert in Ajinomoto Stadium 
AKB48大島優子 卒業コンサート in 味の素スタジアム)
7-8/6/2014 Sân vận động Ajinomoto, Tokyo
  • Bao gồm cuộc tổng tuyển cử cho single thứ 37
  • Đó cũng là buổi biểu diễn tốt nghiệp của Oshima Yuko
AKB48 Zenkoku Tour 2014 
(AKB48全国ツアー2014 あなたがいてくれるから残り27都道府県で会いましょう)
22/6-27/12/2014 Tour diễn toàn quốc
AKB48 Group Tokyo Dome Concert 〜Suru na yo? Suru na yo? Zettai Sotsugyou Happyou Suru na yo?〜 
(AKB48グループ 東京ドームコンサート 〜するなよ? するなよ? 絶対卒業発表するなよ?〜)
18-20/8/2014 Tokyo Dome, Tokyo SKE48, NMB48, HKT48 cùng tham gia
AKB48 Group Fuyu da! Raibu da! Gottani da! 〜Enseidekinakatta Kimitachi e〜 
(AKB48グループ 冬だ!ライブだ!ごった煮だ!〜遠征出来なかった君たちへ〜)
22/11-4/12/2014 Maihama Amphitheater, Tokyo
Team 8 National Tour 〜47 no Suteki na Machi e〜 
(チーム8初の全国ツアー 〜47の素敵な街へ〜)
23/12/2014 Tour diễn toàn quốc Chuyến lưu diễn của Team 8 đi qua tất cả 47 tỉnh của Nhật Bản.
AKB48 Request Hour Setlist Best 1035 2015 
(AKB48 リクエストアワー セットリストベスト1035 2015)
21-25/01/2015 Tokyo Dome City Hall, Tokyo Fan bình chọn cho các bài hát gốc (original song) của AKB48/SKE48/SDN48/NMB48/HKT48 mà họ yêu thích.
AKB48 Young Members Nationwide Tour 〜Mirai wa Ima Kara Tsukurareru〜
(AKB48ヤングメンバー全国ツアー~未来は今から作られる~)
25/03-16/5/2015 Tour diễn toàn quốc Chỉ bao gồm các thành viên dưới 21 tuổi
AKB48 Spring Concert 〜Jikiso Imada Shugyouchu!〜
(AKB48春の単独コンサート~ジキソー未だ修行中!~)
26/3/2015 Saitama Super Arena,tỉnh Saitama Buổi concert mùa xuân của AKB48.
AKB48 41st Single Senbatsu Sousenkyo Kouyasai~Ato no Matsuri~

(AKB48 41stシングル 選抜総選挙・後夜祭~あとのまつり~)

6/7/2015 Fukuoka Yahoo! Auctions Dome, Fukuoka Buổi concert cho 16 thành viên đứng đầu cho single thứ 41
AKB48 Manatsu no Tandoku Concert in SSA 〜Kawaei-san no Koto ga Suki Deshita〜

(AKB48真夏の単独コンサート in さいたまスーパーアリーナ ~川栄さんのことが好きでした~)

1-2/8/2015 Saitama Super Arena,tỉnh Saitama Buổi concert mùa hè của AKB48.
AKB48 Tandoku Request Hour Setlist Best 100 2016 

(AKB48 単独クエストアワー セットリストベスト100 2016)

16-18/1/2016 Tokyo Dome City Hall, Tokyo Fan bình chọn cho các bài hát gốc (original song) của AKB48 mà họ yêu thích.
Takajo Aki and Nagao Mariya Graduation Concert 

(高城亜樹・永尾まりや 卒業コンサート)

21/1/2016 Buổi biểu diễn tốt nghiệp của Takajo Aki và Nagao Mariya.

Các thành viên tốt nghiệp Uchida Mayumi và Nonaka Misato trở lại biểu diễn.

AKB48 Request Hour Setlist Best 100 2016 

(AKB48 リクエストアワー セットリストベスト100 2016)

22-24/1/2016 Fan bình chọn cho các bài hát gốc (original song) của AKB48/SKE48/NMB48/HKT48/SDN48/JKT48/SNH48 mà họ yêu thích.
Shuku Takahashi Minami Graduation "148.5cm no Mita Yume" in Yokohama Stadium 

(祝 高橋みなみ卒業“148.5cmの見た夢”in 横浜スタジアム)

26-27/3/2016 Yokohama Stadium, Yokohama Buổi concert mùa xuân của AKB48, cũng là buổi biểu diễn tốt nghiệp của Takahashi Minami.
AKB48 45th Single Senbatsu Sousenkyo "Bokutachi wa Dare ni Tsuiteikeba ii"

(45thシングル 選抜総選挙~僕たちは誰について行けばいい?~)

18/6/2016 Hard Off Eco Stadium Niigata, Niigata Buổi concert cho các thành viên senbatsu single 45
Tokyo Idol Festival 2016 2-4/8/2016 Odaiba Aomi Peripheral Area, Odaiba Lần đầu tiên AKB48, NGT48 và Keyakizaka46 biểu diễn tại Tokyo Idol Festival.
AKB48 Group Douji Kaisai Concert in Yokohama ~Ima Toshi wa Rank in Dekimashi ta Shukugakai~

(AKB48 グループ同時開催コンサートin横浜 ~今年はランクインできました祝賀会~)

15/09/2016 Yokohama
AKB48 Group Douji Kaisai Concert in Yokohama ~Rainen Koso Rank in Suru zo Keekishuukai~

(AKB48 グループ同時開催コンサートin横浜 ~来年こそランクインするぞ決起集会~)

Team 8 Oguri Yui Solo Concert ~Shinshun! Team 8 Matsuri "Oguri Yui no Ran"~ (チーム8 小栗有以ソロコンサート「新春!チーム8祭り『小栗有以の乱』」) 14/1/2017 Tokyo Dome City Hall, Tokyo Do Oguri Yui thực hiện
Team 8 Kuranoo Narumi Solo Concert ~Shinshun! Team 8 Matsuri "Kuranoo Narumi no Ran"~

(チーム8 倉野尾成美ソロコンサート「新春!チーム8祭り『倉野尾成美の乱』」)

Do Kuranoo Narumi thực hiện
Team 8 Sakaguchi Nagisa Solo Concert ~Shinshun! Team 8 Matsuri "Sakaguchi Nagisa no Ran"~

(チーム8 坂口渚沙ソロコンサート「新春!チーム8祭り『坂口渚沙の乱』」)

Do Sakaguchi Nagisa thực hiện
Team 8 East Concert ~Shinshun! Team 8 Matsuri "Higashi no Jin"~

(チーム8EASTコンサート「新春!チーム8祭り『東の陣』」)

15/1/2017 Do Team 8 thực hiện
Team 8 West Concert ~Shinshun! Team 8 Matsuri "Nishi no Jin"~

(チーム8WESTコンサート「新春!チーム8祭り『西の陣』」)

Team 8 Zennin Concert ~Shinshun! Team 8 Matsuri "Tenka Touitsu"~

(チーム8全員コンサート「新春!チーム8祭り『天下統一』」)

AKB48 13th Generation Stage in TBC ~Ima, Yaru Shikaneen Dayo!~

(AKB48 13期生公演in TDC ~今やるしかねぇんだよ!~)

16/1/2017 Buổi concert cho thế hệ thứ 13
AKB48 16th Generation Concert ~AKB no Mirai, Ima Ugoku!~

(AKB48 16期生コンサート ~AKBの未来、いま動く!~)

18/1/2017 Buổi concert cho thế hệ thứ 16
Mukaichi Mion Solo Concert ~Oogoe de Ima Tsutae Tai Koto ga Aru~

(向井地美音ソロコンサート ~大声でいま伝えたいことがある~)

19/1/2017 Do Mukaichi Mion thực hiện
AKB48 Request Hour Setlist Best 100 2017

(AKB48 リクエストアワー セットリストベスト100 2017)

21-22/1/2017 Fan bình chọn cho các bài hát gốc (original song) của AKB48/SKE48/NMB48/HKT48/SDN48/NGT48 mà họ yêu thích.
Kojimatsuri ~Kojima Haruna Kanshasai~

(こじまつり~小嶋陽菜感謝祭~)

Buổi concert của AKB48, cũng là buổi biểu diễn tốt nghiệp của Kojima Haruna
Tokyo Idol Festival 2017 4-6/8/2016 Odaiba Aomi Peripheral Area, Odaiba Lần đầu tiên NMB48, STU48 và Nogizaka46 xuất hiện tại Tokyo Idol Festival.
AKB48 Group Kanshasai ~Rank in Concert~ (Senbatsu Sousenkyo Rank-in (17th-80th) members performance)

(AKB48グループ感謝祭 ~ランクインコンサート~(選抜総選挙ランクイン(17位~80位)メンバー出演))

10/8/2017
AKB48 Group Kanshasai ~Rank-gai Concert~

(AKB48グループ感謝祭 ~ランク外コンサート~)

AKB48 Group Kanshasai ~Rank in Concert~ (Senbatsu Sousenkyo Rank-in (1st-16th) members performance)

(AKB48グループ感謝祭 ~ランクインコンサート~(選抜総選挙ランクイン(1位~16位)メンバー出演))

Watanabe Mayu Graduation Concert ~Minna no Yume ga Kanaimasu you ni~

(渡辺麻友卒業コンサート~みんなの夢が叶いますように~)

31/10/2017 Saitama Super Arena,tỉnh Saitama Buổi biểu diễn tốt nghiệp của Watanabe Mayu
AKB48 Team 8 Senbatsu Concert ~Bokutachi wa Nekkyou Suru~

(AKB48チーム8選抜コンサート〜僕たちは熱狂する〜)

13/1/2018 Tokyo Dome City Hall, Tokyo Buổi concert của Team 8
Hotei Sokudo to Yuuetsukan Fresh All Stars Concert ~Zero Position no Mirai~

(法定速度と優越感 フレッシュオールスターズコンサート〜ゼロポジションの未来〜)

14/1/2018 STU48 tham dự
AKB48 16th Generation Concert ~Kimi no Namae wo Shiritai~

(AKB48 16期生コンサート〜君の名前を知りたい〜)

Buổi concert cho thế hệ thứ 16
AKB48 Group Seijin Shiki Concert ~Otona ni Nanka Naru Mono ka~

(AKB48グループ 成人式コンサート〜大人になんかなるものか〜)

Buổi concert cho thành viên tham gia Ngày Lễ Thành Nhân năm 2018.
Okada Nana Solo Concert ~Watashi ga Taisetsu ni Shitai Mono~

(岡田奈々ソロコンサート〜私が大切にしたいもの〜)

16/1/2018 Do Okada Nana (STU48) thực hiện
Yokoyama Yui Solo Concert ~Jitsubutsu-dai no Kibou~

(横山由依ソロコンサート〜実物大の希望〜)

17/1/2018 Do Yokoyama Yui thực hiện
AKB48 Group Request Hour Setlist Best 100 2018

(AKB48グループリクエストアワー セットリストベスト100 2018)

19-20/1/2017
AKB48 Tandoku Concert ~Jabajatte Nani?~

(AKB48単独コンサート〜ジャーバージャって何?〜)

1/4/2018 Saitama Super Arena,tỉnh Saitama Buổi concert mùa xuân của AKB48.
TOYOTA presents AKB48 Team 8 National Tour ~47 no Suteki na Machi e~ Team 8 Kessei 4 Shuunen Kinen in Nippon Gaishi Hall Shiawase no Eito Matsuri

(TOYOTA presents AKB48チーム8 全国ツアー ~47の素敵な街へ~ チーム8結成4周年記念祭 in 日本ガイシホール しあわせのエイト祭り)

29/4/2018 Nippon Gaishi Hall, Nagoya Buổi concert của Team 8
AKB48 53rd Single Sekai Senbatsu Sousenkyo Concert ~Sekai no Center wa Dare da?~

(AKB48 53rdシングル 世界選抜総選挙 コンサート〜世界のセンターは誰だ?〜)

16/6/2018 Nagoya Dome, Nagoya Sự kiện mở đầu cho cuộc Tổng tuyển cử cho Single thứ 53, SKE48, NMB48, HKT48, NGT48, STU48, BNK48, TPE48 cùng tham gia
AKB48 Group Kanshasai ~Rank in Concert~ (Senbatsu Sousenkyo Rank-in (17th-100th) members performance)

(AKB48グループ感謝祭 ~ランクインコンサート~(選抜総選挙ランクイン(17位~100位)メンバー出演))

1/8/2018
AKB48 Group Kanshasai ~Rank in Concert~ (Senbatsu Sousenkyo Rank-in (2nd-16th) members performance)

(AKB48グループ感謝祭 ~ランクインコンサート~(選抜総選挙ランクイン(2位~16位)メンバー出演))

2/8/2018
Tokyo Idol Festival 2018 3-5/8/2018 Odaiba Aomi Peripheral Area, Odaiba, Tokyo Biểu diễn cùng SKE48, NMB48, HKT48, NGT48, STU48, BNK48, Keyakizaka46
8gatsu 8nichi wa Eito no Hi Natsu da! Eito da! Pitto Matsuri 2018 (8月8日はエイトの日 夏だ!エイトだ! ピッと祭り2018) 8/8/2018
AKB48 Group Kanshasai ~Rank-gai Concert~ 2018

(AKB48グループ感謝祭 ~ランク外コンサート~ 2018)

13/8/2018
AKB48 Team A Tandoku Concert 〜Utsukushikimonotachi〜

(AKB48チームA単独コンサート〜美しき者たち〜)

12/1/2019 Tokyo Dome City Hall, Tokyo Buổi concert của Team A
AKB48 Team K Tandoku Concert 〜Team K no K tte nan no K?〜

(AKB48チームK単独コンサート〜チームKのKってなんのK?〜)

Buổi concert của Team K
AKB48 Kenkyuusei + Draft 3-kisei Concert 〜Yukuzo! Nobishiro ☆ Paradise〜

(AKB48研究生+ドラフト3期生コンサート〜ゆくぞ!伸びしろ☆パラダイス〜)

13/1/2019 Buổi concert của thực tập sinh+ thể hệ Draft thứ 3
AKB48 Team B Tandoku Concert 〜Megami wa Kawaii Dake Janai〜

(AKB48チームB単独コンサート〜女神は可愛いだけじゃない〜)

Buổi concert của Team B
AKB48 Team 4 Tandoku Concert 〜Tomodachi ga Dekita〜

(AKB48チーム4単独コンサート〜友達ができた〜)

Buổi concert của Team 4
AKB48 Team 8 Cuties Concert 〜We are!! Cuties!〜

(AKB48チーム8 Cutiesコンサート〜We are!! Cuties!〜)

14/1/2019 Buổi concert của Team 8
AKB48 Team 8 Foxies Concert 〜The Only One!! Foxies!〜

(AKB48チーム8 Foxiesコンサート〜The Only One!! Foxies!〜)

AKB48 Team 8 Everybody Concert 〜Come On!! Everybody!〜

(AKB48チーム8 Everybodyコンサート〜Come On!! Everybody!〜)

Murayama Yuiri Solo Concert 〜Watashi wa Watashi no Michi wo yuku〜

(村山彩希ソロコンサート〜私は私の道を行く〜)

15/1/2019 Do Murayama Yuiri thực hiện
Yahagi Moeka Solo Concert 〜Minna Matomete Suchi ni Sasechau zo ♡〜

(矢作萌夏ソロコンサート〜みんなまとめてすちにさせちゃうぞ♡〜)

16/1/2019 Do Yahagi Moeka thực hiện
Okabe Rin Solo Concert 〜Moshimo~shi! Rinrin Oshi Desho!?〜

(岡部麟ソロコンサート〜もしも〜し!りんりん推しでしょ!?〜)

17/1/2019 Do Okabe Rin thực hiện
AKB48 Group Request Hour Setlist Best 100 2019

(AKB48グループリクエストアワー セットリストベスト100 2019)

18-19/1/2019 Fan bình chọn cho các bài hát gốc (original song) của AKB48/SKE48/NMB48/HKT48/NGT48 mà họ yêu thích.
AKB48 Group Spring Festival in Yokohama Stadium

(AKB48グループ 春のLIVEフェス in 横浜スタジアム)

27/4/2019 Yokohama Stadium, Yokohama SKE48, NMB48, HKT48, NGT48 và STU48 cùng tham gia. cũng là lễ tốt nghiệp của Kojima Mako.
AKB48 Zenkoku Tour 2019

(AKB48全国ツアー2019)

7/7-10/12/2019 Tour diễn toàn quốc
Tokyo Idol Festival 2019 2-4/8/2019 Odaiba Aomi Peripheral Area, Odaiba, Tokyo Biểu diễn cùng SKE48, NMB48, HKT48, NGT48, STU48, BNK48, Hinatazaka46, Yoshimotozaka46, Nogizaka46
AKB48 Group Request Hour Setlist Best 50 2020

(AKB48グループリクエストアワー セットリストベスト50 2020)

19-20/1/2020 Tokyo Dome City Hall, Tokyo Fan bình chọn cho các bài hát gốc (original song) của AKB48/SKE48/NMB48/HKT48/NGT48 mà họ yêu thích.
AKB48 Tandoku Concert 2020

(AKB48単独コンサート)

21/1/2020
Yuunaa Tandoku Concert 〜Kakegae no Nai Jikan〜

(ゆうなぁ単独コンサート〜かけがえのない時間〜)

22/1/2020 Buổi concert do Murayama Yuiri và Okada Nana thực hiện
AKB48 Kubo Satone Solo Concert 〜Wataame Rando e Yokoso〜

(AKB48久保怜音ソロコンサート~わたあめランドへようこそ~)

26/1/2020 Do Kubo Satone thực hiện
AKB48 Yamauchi Mizuki Solo Concert 〜"MY" Revolution〜

(AKB48山内瑞葵ソロコンサート〜“MY” Revolution〜)

Do Yamauchi Mizuki thực hiện
AKB48 Oguri Yui Solo Concert 〜YUIYUI TOKYO〜

(AKB48小栗有以ソロコンサート〜YUIYUI TOKYO〜)

Do Oguri Yui thực hiện
2020 AKB48 shin Unit Live Matsuri Kaisai Kettei no Oshirase

(2020 AKB48新ユニットライブ祭り開催決定のお知らせ)

22/2/2020 Shibuya Stream Hall, Tokyo Buổi concert của các nhóm nhỏ thuộc AKB48
Tokyo Idol Festival 2020 2-4/10/2020 Odaiba Aomi Peripheral Area, Odaiba, Tokyo Biểu diễn cùng SKE48, NMB48, HKT48, NGT48, STU48, Hinatazaka46, Nogizaka46, Iz*One[199]
AKB48 Ouchi de Member Request Hour 2021

(AKB48おうちでメンバーリクエストアワー)

22-24/1/2021 Tổ chức trực tuyến do đại dịch COVID-19 Các thành viên thực hiện tại nhà và phát trực tiếp miễn phí trên 17Live
AKB48 Team 8 Zenkoku Tour ~47 no Suteki na Machi e~ 1-23/5/2021 PIA Arena MM, Yokohama
Minegishi Minami Graduation Concert ~Sakura no Sakanai Haru wa Nai~[200]

(峯岸みなみ卒業コンサート〜桜の咲かない春はない〜)

22/5/2021 Buổi biểu diễn tốt nghiệp của Minegishi Minami
AKB48 Tandoku Concert 2021

(AKB48単独コンサート)

23/5/2021
AKB48 Group Asia Festival 2021 ONLINE[201] 27/6/2021 Tokyo Dome City Hall, Tokyo 16 thành viên Chiba Erii, Nishikawa Rei, Mukaichi Mion (Team A), Kubo Satone, Muto Tomu (Team K), Omori Maho, Kashiwagi Yuki (Team B), Okada Nana, Murayama Yuiri, Yamauchi Mizuki (Team 4), Okabe Rin, Oguri Yui, Gyoten Yurina, Shitao Miu, Suzuki Yuka, Yokoyama Yui (Team 8) biểu diễn cùng các nhóm chị em thuộc AKB48 Group.
Các chuyến lưu diễn & concert ngoài Nhật Bản
Tên Thời gian Địa điểm Quốc gia Chú thích
Japan Expo Paris 2/7/2009 Parc des Expositions de Villepinte Paris, Pháp Team A là khách mời danh dự
AKB48 in Webster Hall 27/9/2009 Webster Hall New York, Mỹ Ra mắt tại Mỹ
Asia Song Festival 23/10/2010 Sân vận động Olympic Seoul Seoul, Hàn Quốc Do Quỹ Trao đổi Văn hóa Quốc tế Hàn Quốc tổ chức, nhóm đại diện cho Nhật Bản tham dự
Japan Pop-Culture Festival 2010 Moscow 20/11/2010 Moscow, Nga
AKB48 in Singapore Meet The Fans Session 12/12/2010 Singapore
Shanghai Japan Week[202] 24/9/2011 Thượng Hải, Trung Quốc Sự kiện được tổ chức để cảm ơn sự viện trợ của Trung Quốc sau trận động đất và sóng thần ngày 11/3.
Đại nhạc hội Việt - Nhật lần thứ 2[203][204] 9/10/2011 Nhà hát Lớn Hà Nội Hà Nội, Việt Nam Biểu diễn cùng AAA, Exile, Winds, ca sĩ Koda Kumi với các nghệ sĩ Việt Nam
Jakarta Japan Pop Culture Festival 2012[205] 25/2/2012 Kartika Expo, Balai Kartini Jakarta, Indonesia Biểu diễn cùng JKT48
Japan Pop Culture Concert 2012 in Washington D.C. Celebrating 100th anniversary of Cherry Blossom with AKB48[206] 1/4/2012 Lincoln Theater. Washington, Mỹ Biểu diễn nhân kỷ niệm 100 năm Nhật Bản trao tặng hoa Anh đào ở Washington
AKB48 x JKT48 Concert "Bergandengan Tangan Bersama Kakak"[207] 20/2/2015 Kota Kasablanka Jakarta, Indonesia Biểu diễn cùng JKT48
AKB48 in New York for Japan Day 2015[208] 10/5/2015 Công viên Trung tâm New York, Mỹ
AKB48 Team 8 in Manila for Cool Japan Festival 2015[209] 7-8/11/2015 Manila, Philippines Team 8 biểu diễn
JAPAN EXPO THAILAND 2017[210] 10-12/2/2017 Central World Bangkok, Thái Lan Ra mắt thế hệ đầu tiên BNK48, 6 thành viên Okada Nana, Kawamoto Saeya, Izuta Rina, Taniguchi Megu, Takita Kayoko và Iino Miyabi biểu diễn cùng nhóm
Viral Fest Asia 2017[211] 2-3/6/2017 Oasis Arena, Show DC Bangkok 6 thành viên Shimizu Maria, Takahashi Ayane, Yoshikawa Nanase, Sato Akari, Mougi Kasumi và Gyoten Yurina biểu diễn 3 bài hát Heavy Rotation, Aitakatta, Koisuru Fortune Cookie cùng BNK48
JAPAN EXPO THAILAND 2018[212] 26-28/1/2018 Central World 6 thành viên Yokoyama Yui, Mukaichi Mion, Okabe Rin, Oguri Yui, Takahashi Juri, Kuranoo Narumi biểu diễn
AKB48 Team 8 in Los Angeles for Japan Kawaii Live at the Anime Expo 2018[213] 7/7/2018 Los Angeles, Mỹ 6 thành viên Team 8 Tanikawa Hijiri , Sato Akari, Yoshikawa Nanase, Hidaritomo Ayaka, Hattori Yuna và Gyoten Yurina biểu diễn
Jak Japan Matsuri 2018[214] 9/9/2018 Plaza Tenggara Senayan Jakarta, Indonesia Biểu diễn cùng JKT48, nhân kỷ niệm 60 năm quan hệ ngoại giao Nhật Bản- Indonesia
Kizuna Ekiden 2018 [215] 18/11/2018 Hà Nội, Việt Nam 6 thành viên Yokoyama Yui, Shimizu Maria, Oda Erina, Hama Sayuna, Shitao Miu và Gyoten Yurina từ Team 8 biểu diễn cùng SGO48
MAYA Music Festival 2018[216] 9/12/2018 Oasis Arena, Show DC Bangkok Bangkok, Thái Lan Lễ hội âm nhạc MAYA
JAPAN EXPO THAILAND 2019[217] 25-27/1/2018 Central World 10 thành viên Yokoyama Yui, Mukaichi Mion, Kubo Satone, Takahashi Juri, Taniguchi Megu, Okada Nana, Kuranoo Narumi, Shitao Miu, Oguri Yui, Rin Okabe tham gia
AKB48 Group Asia Festival 2019 in Bangkok[137] 27/1/2019 IMPACT Arena, Muang Thong Thani 10 thành viên

Team A: Mukaichi Mion, Yokoyama Yui

Team B: Kubo Satone, Takahashi Juri, Taniguchi Megu

Team 4: Okada Nana

Team 8: Okabe Rin, Oguri Yui, Kuranoo Narumi, Shitao Miu biểu diễn cùng các nhóm chị em BNK48 (chủ nhà), JKT48, MNL48, AKB48 Team SH, AKB48 Team TP và SGO48.

Japan Expo Malaysia 2019 [218] 27/7/2019 Pavilion KL Kuala Lumpur, Malaysia 6 thành viên Okada Nana, Mukaichi Mion, Okabe Rin, Taniguchi Megu, Oguri Yui và Sakaguchi Nagisa biểu diễn
AKB48 Group Asia Festival 2019 in Shanghai[139] 24/8/2019 Trung tâm Hội nghị và Triển lãm Quốc gia Thượng Hải, Trung Quốc 8 thành viên

Team A: Mukaichi Mion, Yokoyama Yui

Team K: Muto Tomu

Team B: Kashiwagi Yuki, Taniguchi Megu

Team 4: Okada Nana

Team 8: Oguri Yui, Kuranoo Narumi biểu diễn cùng AKB48 Team SH (chủ nhà) và các nhóm chị em thuộc AKB48 Group.

AKB48 in Taipei 2019 ~Are You Ready For It?~[140] 19/10/2019 Taipei Arena Đài Bắc, Đài Loan AKB48 biểu diễn cùng chủ nhà AKB48 Team TP và Izurina (CGM48)
Kizuna Ekiden 2019[219] 16/11/2019 Hà Nội, Việt Nam 6 thành viên Erina Oda, Yuna Hattori, Maria Shimizu, Haruna Hashimoto, Serika Nagano và Hinako Okuhara biểu diễn cùng Kaycee +Trúc Phạm từ SGO48
JAPAN EXPO THAILAND 2020[220] 31/1-2/2/2020 Central World Bangkok, Thái Lan 6 thành viên Muto Tomu, Mukaichi Mion, Shitao Miu, Onishi Momoka ,Kuranoo Narumi và Yokoyama Yui biểu diễn
ONE LOVE ASIA[155] 27/5/2020 Tổ chức trực tuyến do đại dịch COVID-19, phát sóng trên Youtube, WebTV ASIA 5 thành viên Omori Maho, Oguri Yui, Shitao Miu, Chiba Erii, Yamauchi Mizuki biểu diễn cùng các nhóm chị em thuộc AKB48 và các nghệ sỹ khác tại Châu Á

Các cuộc tổng tuyển cửSửa đổi

Từ khi ra mắt, nhóm tổ chức 10 cuộc tổng tuyển cử từ 2009.

Năm Tên Thời gian Địa điểm Ghi chú
2009 AKB48 13th Single Senbatsu Sousenkyo ~Kamisama ni Chikatte Gachi desu~ (AKB48 13thシングル 選抜総選挙 ~神様に誓ってガチです~)[221] 8/7 Akasaka Blitz, Tokyo Cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của nhóm cho single thứ 13 Iiwake Maybe, có sự tham gia của SKE48
2010 AKB48 17th Single Senbatsu Sousenkyo ~Kaasan ni Chikatte, Gachi desu~ (AKB48 17thシングル選抜総選挙 ~母さんに誓って、ガチです~)[222] 9/6 JCB Hall, Tokyo Dome, Tokyo, Cuộc tổng tuyển cử thứ 2 cho single thứ 17 Heavy Rotation, có sự tham gia của SKE48
2011 AKB48 22nd Single Senbatsu Sousenkyo ~Kotoshi mo Gachi desu~ (AKB48 22ndシングル選抜総選挙 ~今年もガチです~)[223] Nippon Budoukan, Tokyo Cuộc tổng tuyển cử thứ 3 cho single thứ 22 Flying Get, có sự tham gia của SKE48 & NMB48
2012 AKB48 27th Single Senbatsu Sousenkyo ~Fan ga Erabu 64giseki~ (27thシングル 選抜総選挙 ~ファンが選ぶ64議席~)[224] 6/6 Cuộc tổng tuyển cử thứ 4 cho single thứ 27 Gingham Check, có sự tham gia của SKE48, NMB48 & HKT48
2013 AKB48 32nd Single Senbatsu Sousenkyo "Yume wa Hitori ja Mirarenai" (32thシングル 選抜総選挙 ~夢は一人じゃ見られない~)[225] 8/6 Sân vận động Nissan, Yokohama Cuộc tổng tuyển cử thứ 5 cho single thứ 32 Koi Suru Fortune Cookie, có sự tham gia của SKE48, NMB48, HKT48, Team Kaigai[226], các thành viên tốt nghiệp
2014 AKB48 37th Single Senbatsu Sousenkyo "Yume no Genzaichi ~Rival wa Doko da~" (AKB48 37thシングル選抜総選挙 夢の現在地〜ライバルはどこだ?〜)[227] 7/6 Sân vận động Ajinomoto, Chofu, Tokyo Cuộc tổng tuyển cử thứ 6 cho single thứ 37 Kokoro no Placard, có sự tham gia của SKE48, NMB48, HKT48, Team Kaigai
2015 AKB48 41st Single Senbatsu Sousenkyo (AKB48 41stシングル選抜総選挙?) [228] 6/6 Fukuoka Yahoo! Japan Dome, Fukuoka Cuộc tổng tuyển cử thứ 7 cho single thứ 41 Halloween Night, có sự tham gia của SKE48, NMB48, HKT48, Team Kaigai
2016 AKB48 45th Single Senbatsu Sousenkyo 〜Bokutachi wa Dare ni Tsuiteikeba ii?〜 (AKB48 45thシングル 選抜総選挙~僕たちは誰について行けばいい?~?)[229] 18/6 Hard Off Eco Stadium Niigata, Niigata Cuộc tổng tuyển cử thứ 8 cho single thứ 45 LOVE TRIP / Shiawase wo Wakenasai, có sự tham gia của SKE48, NMB48, HKT48, NGT48, Team Kaigai
2017 AKB48 49th Single Senbatsu Sousenkyo 〜Mazu wa Tatakaou! Hanashi wa Sorekara da〜 (49thシングル 選抜総選挙~まずは戦おう!話はそれからだ~)[230] 17/6 Toyosaki Seaside Park,

Okinawa

Cuộc tổng tuyển cử thứ 9 cho single thứ 49 #SukiNanda, có sự tham gia của SKE48, NMB48, HKT48, STU48, NGT48, BNK48[231]; Sashihara Rino có lần thứ 3 liên tiếp chiến thắng (4 lần tổng thể)
2018 AKB48 53rd Single Sekai Senbatsu Sousenkyo 〜Sekai no Center wa Dare da?〜

(AKB48 53rdシングル 世界選抜総選挙 〜世界のセンターは誰だ?〜)[126]

16/6 Nagoya Dome, Nagoya Cuộc tổng tuyển cử thứ 10 cho single thứ 53 Sentimental Train, có sự tham gia của SKE48, NMB48, HKT48, STU48, NGT48, lần đầu tiên các nhóm chị em nước ngoài JKT48, BNK48 (lần 2), TPE48 được đăng ký tham gia

AKB48 Kouhaku UtagassenSửa đổi

Năm Thời gian Đội thắng Ghi chú
Akagumi Shirogumi
2011[232] 20/12 X Lần đầu tổ chức
2012[233] 17/12 X Lần thứ 2 tổ chức, cũng là buổi biểu diễn cuối cùng của Masuda Yuka.
2013[234] X Lần thứ 3 tổ chức, cùng SKE48, NMB48, HKT48, WORLD ORDER tham dự
2014[235] 16/12 X Lần thứ 4 tổ chức, ban giám khảo (Kobayashi Yoshinori, Uno Tsunehiro, Hamano Satoshi, Nakamori Akio,Tanaka Masahiro) bình chọn đội thắng
2015[236] 15/12 X Lần thứ 5 tổ chức, Takajo Aki tốt nghiệp AKB48,Team A công bố Stage mới, thông báo Senbatsu single thứ 43 Kimi wa Melody
2016[237] X Lần thứ 6 tổ chức
2017[238] 10/12 X Lần thứ 7 tổ chức, nhóm thông tin chi tiết về Produce 48, thành viên 48G ở Mexico (1 thành viên sẽ chuyển đến Mexico để học tập và là một phần của telenovela Mexico)

Các buổi diễn tại nhà hát (Stage)Sửa đổi

Team ASửa đổi

  • 1st Stage 「PARTYが始まるよ」 (AKB48 Team A 1st Stage "PARTY ga Hajimaru yo") (2005.12.08 - 2006.03.31)
  • 2nd Stage 「会いたかった」 (AKB48 Team A 2nd Stage "Aitakatta") (2006.04.15 - 2006.08.11)
  • 3rd Stage 「誰かのために」 (AKB48 Team A 3rd Stage "Dareka no Tame ni") (2006.08.20 - 2007.01.25)
  • 4th Stage 「ただいま 恋愛中」 (AKB48 Team A 4th Stage "Tadaima Renaichuu") (2007.02.25 - 2007.06.26 and 2008.04.20 - 2008.10.11)
  • 5th Stage 「恋愛禁止条例」 (AKB48 Team A 5th Stage "Renai Kinshi Jourei") (2008.10.19 - 2010.05.27 and 2014.04.25 - 2015.08.23)
  • 6th Stage 「目撃者」 (AKB48 Team A 6th Stage "Mokugekisha") (2010.07.27 - 2012.10.29)
  • Waiting Stage (2012.11.02 - 2014.04.21)
  • 7th Stage 「M.Tに捧ぐ」 (AKB48 Team A 7th Stage "M.T ni Sasagu") (2016.02.10 - )

Team KSửa đổi

  • 1st Stage 「PARTYが始まるよ」 (AKB48 Team K 1st Stage "PARTY ga Hajimaru yo") (2006.04.01 - 2006.07.05 and 2006.11.08 - 2006.12.14)
  • 2nd Stage 「青春ガールズ」 (AKB48 Team K 2nd Stage "Seishun Girls") (2006.07.08 - 2006.11.06)
  • 3rd Stage 「脳内パラダイス」 (AKB48 Team K 3rd Stage "Nounai Paradise") (2006.12.17 - 2007.06.22)
  • 4th Stage 「最終ベルが鳴る」 (AKB48 Team K 4th Stage "Saishuu Bell ga Naru") (2008.05.31 - 2009.04.04, 2014.02.20 - 2014.04.16 and 2015.11.30 - )
  • 5th Stage 「逆上がり」 (AKB48 Team K 5th Stage "Saka Agari") (2009.04.11 - 2010.02.21)
  • 6th Stage 「RESET」 (AKB48 Team K 6th Stage "RESET") (2010.03.12 - 2012.10.24 and 2014.05.07 - 2015.08.26)
  • Waiting Stage (2012.11.01 - 2014.02.12)

Team BSửa đổi

  • 1st Stage 「青春ガールズ」 (AKB48 Team B 1st Stage "Seishun Girls") (2007.04.08 - 2007.10.02)
  • 2nd Stage 「会いたかった」 (AKB48 Team B 2nd Stage "Aitakatta") (2007.10.07 - 2008.02.21)
  • 3rd Stage 「パジャマドライブ」 (AKB48 Team B 3rd Stage "Pajama Drive") (2008.03.01 - 2009.02.01 and 2014.04.28 - 2015.08.27)
  • 4th Stage 「アイドルの夜明け」 (AKB48 Team B 4th Stage "Idol no Yoake") (2009.02.08 - 2010.04.16)
  • 5th Stage 「シアターの女神] (AKB48 Team B 5th Stage "Theater no Megami") (2010.05.21 - 2012.10.20)
  • Waiting Stage (2012.11.03 - 2014.04.23)
  • 6th Stage 「ただいま 恋愛中」 (AKB48 Team B 6th Stage "Tadaima Renaichuu") (2015.12.26 - )

Team 4Sửa đổi

  • 1st Stage 「僕の太陽」 (AKB48 Team 4 1st Stage "Boku no Taiyou") (2011.10.10 - 2012.10.25)
  • 2nd Stage 「手をつなぎながら」 (AKB48 Team 4 2nd Stage "Te wo Tsunaginagara") (2013.11.03 - 2014.04.15)
  • 3rd Stage 「アイドルの夜明け」 (AKB48 Team 4 3rd Stage "Idol no Yoake") (2014.04.24 - 2015.08.24)
  • 4th Stage 「夢を死なせるわけにいかない」 (AKB48 Team 4 4th Stage "Yume wo Shinaseru Wake ni Ikanai") (2015.12.03 - )

Team 8Sửa đổi

  • 1st Stage 「PARTYが始まるよ」 (AKB48 Team 8 1st Stage "PARTY ga Hajimaru yo") (2014.08.05 - 2015.08.16)
  • 2nd Stage 「会いたかった」 (AKB48 Team 8 2nd Stage "Aitakatta") (2015.09.05 - )

HimawarigumiSửa đổi

  • 1st Stage 「僕の太陽」 (AKB48 Himawarigumi 1st Stage "Boku no Taiyou") (2007.07.01 - 2007.11.30 and 2016.07.16 - )
  • 2nd Stage 「夢を死なせるわけにいかない」 (AKB48 Himawarigumi 2nd Stage "Yume wo Shinaseru Wake ni Ikanai") (2007.12.08 - 2008.04.19)

Thực tập sinhSửa đổi

  • 1st Stage] 「ただいま恋愛中」 (AKB48 Kenkyuusei "Tadaima Renaichuu") (2008.05.22 - 2008.10.07)
  • 2nd Stage 「アイドルの夜明け」 (AKB48 Kenkyuusei "Idol no Yoake") (2009.03.06 - 2010.04.12)
  • 3rd Stage 「恋愛禁止条例」 (AKB48 Kenkyuusei "Renai Kinshi Jourei") (2010.04.17 - 2010.06.18)
  • 4th Stage 「シアターの女神」 (AKB48 Kenkyuusei "Theater no Megami") (2010.06.20 - 2011.04.03)
  • 5th Stage 「RESET」 (AKB48 Kenkyuusei "RESET") (2012.03.29 - 2012.09.08)
  • 6th Stage 「僕の太陽」 (AKB48 Kenkyuusei "Boku no Taiyou") (2012.10.26 - 2013.03.17)
  • 7th Stage 「パジャマドライブ」 (AKB48 Kenkyuusei "Pajama Drive") (2013.03.20 - 2013.10.27)

Stage Đặc biệtSửa đổi

  • 1st Stage 「イブはアダムの肋骨」 (AKB48 Special Stage "Eve wa Adam no Abarabone") (2015.09.13 - )
  • 2nd Stage 「青春はまだ終わらない」 (AKB48 Special Stage "Seishun wa mada owaranai") (2015.09.18 - )
  • 3rd Stage 「どうなる?!どうする?!AKB48」 (AKB48 Special Stage "Dounaru?! Dousuru?! AKB48") (2015.10.16 - )
  • 4th Stage 「僕がここにいる理由」 (AKB48 Special Stage "Boku ga Koko ni Iru Riyuu") (2015.11.08 - )

Stage sản xuất bởi Takahashi MinamiSửa đổi

  • Staff Stage 「STAFF公演」(Takahashi Minami Produced Stages "STAFF Stage") (2016.02.16)
  • Okurairi Stage 「お蔵入り公演」(Takahashi Minami Produced Stages "Okurairi Stage") (2016.02.17)
  • Ichigochanzu Stage 「いちごちゃんず公演」(Takahashi Minami Produced Stages "Ichigochanzu Stage") (2016.02.18)
  • Dance Senbatsu Stage 「ダンス選抜公演」(Takahashi Minami Produced Stages "Dance Senbatsu Stage") (2016.02.20)
  • The Idol Stage 「ザ・アイドル公演」(Takahashi Minami Produced Stages "The Idol Stage") (2016.02.22)
  • Chaos Stage 「カオス公演」(Takahashi Minami Produced Stages "Chaos Stage") (2016.02.25)
  • Saturday Night Stage 「SaturdayNight公演」(Takahashi Minami Produced Stages "Saturday Night Stage") (2016.02.27)
  • Itoshi no Nyan Nyan Otanjoubi Omedetou Stage 「愛しのにゃんにゃんお誕生日おめでとう公演」(Takahashi Minami Produced Stages "Itoshi no Nyan Nyan Otanjoubi Omedetou Stage") (2016.02.28)

Giải thưởng và đề cửSửa đổi

Năm Lễ trao giải Giải thưởng Đề cử Kết quả
2009 51st Japan Record Awards Special Award AKB48 Đoạt giải
11th Mnet Asian Music Awards[239] Asia Recommended Award (Japan) "River" Đoạt giải
2010 24th Japan Gold Disc Award Special Award AKB48 Đoạt giải
Billboard Japan Music Awards[240] Top Pop Artists Đoạt giải
GOOD DESIGN AWARD[241] Entertainment Project Design Đoạt giải
2011 Japan Gold Disc Award[242] Single of the Year Beginner Đoạt giải
Billboard Japan Music Awards[243] Artist of the Year AKB48 Đoạt giải
Top Pop Artists Đoạt giải
Hot 100 of the Year "Everyday, Katyusha" Đoạt giải
53rd Japan Record Awards Grand Prix "Flying Get" Đoạt giải
70th Television Drama Academy Awards[244] Best Theme Song Award Đoạt giải
2012 Billboard Japan Music Awards[245] Artist of the Year AKB48 Đoạt giải
Top Pop Artists Đoạt giải
Hot 100 of the Year "Manatsu no Sounds Good!" Đoạt giải
54th Japan Record Awards[246] Grand Prix "Manatsu no Sounds Good!" Đoạt giải
26th Japan Gold Disc Award Artist of the Year AKB48 Đoạt giải
11th CCTV-MTV Music Award[247] The Asia's Most Popular Group (special award) Đoạt giải
14th Mnet Asian Music Awards Best Asian Artist Japan "Uza" Đoạt giải
2013 Billboard Japan Music Awards[248][249] Artist of the Year AKB48 Đoạt giải
Top Pop Artists Đoạt giải
Hot 100 of the Year "Koi Suru Fortune Cookie" Đoạt giải
27th Japan Gold Disc Award Artist of the Year AKB48 Đoạt giải
55th Japan Record Awards Gold Award "Koi Suru Fortune Cookie" Đoạt giải
Grand Prix Đề cử
2014 56th Japan Record Awards Grand Prix "Labrador Retriever" Đề cử
28th Japan Gold Disc Award Artist of the Year (Japan Domestic) AKB48 Đoạt giải
47th Japan Cable Awards Cable Music Excellence [Outstanding Performance] Award "Kokoro no Placard" Đoạt giải
18th space shower music video award[250] Special Award "Koi Suru Fortune Cookie" Đoạt giải
2015 57th Japan Record Awards Grand Prix "Bokutachi wa Tatakawanai" Đề cử
29th Japan Gold Disc Award Single of the year "Labrador Retriever" Đoạt giải
Album of the Year "Tsugi no Ashiato" Đoạt giải
48th Japan Cable Awards Cable Music Excellence [Outstanding Performance] Award "Kuchibiru ni Be My Baby" Đoạt giải
15th Mnet Asian Music Awards Best Asian Artist Japan AKB48 Đoạt giải
The 3rd V Chart Awards Favorite Artist Of The Year Đoạt giải
Top Group – Japan Đoạt giải
2016 Billboard Japan Music Awards[251] Artist of the year Đoạt giải
Hot 100 of the Year "Tsubasa wa Iranai" Đoạt giải
30th Japan Gold Disc Award Single of the Year "Bokutachi wa Tatakawanai" Đoạt giải
Best 5 Albums "Koko ga Rhodes da, Koko de Tobe!"

"0 to 1 no Aida"

Đoạt giải
11th Taisho Ryou Music Award[252] Grand Prix "365 Nichi no Kamihikouki" Đoạt giải
88th Television Drama Academy Awards[253] Best Theme Song Award Đoạt giải
8th Dahsyatnya Awards Best Guest Award ( Bintang Tamu Terdahsyat ) AKB48 Đoạt giải
2017 31st Japan Gold Disc Award Single of the Year "Tsubasa wa Iranai" Đoạt giải
19th Mnet Asian Music Awards Best Asian Artist Japan AKB48 Đoạt giải
59th Japan Record Awards Grand Prix "Negaigoto no Mochigusare" Đoạt giải
2018 32nd Japan Gold Disc Award[254] Single of the Year "Negaigoto no Mochigusare" Đoạt giải
Best 5 Albums (Japanese) Thumbnail Đoạt giải
Best 5 Singles 11gatsu no Anklet, Shoot Sign.

Negaigoto no Mochigusare, #SukiNanda

Đoạt giải
60th Japan Record Awards Grand Prix "Teacher Teacher" Đề cử
2019 61st Japan Record Awards Grand Prix "Sustainable" Đề cử
33rd Japan Gold Disc Award[255] Single of The Year "Teacher Teacher" Đoạt giải
Best 5 Japanese albums Bokutachi wa, Ano Hi Yoake wo Shitteiru Đoạt giải
Best 5 Singles "Teacher Teacher", "Sentimental Train"

"No Way Man"

Đoạt giải
2020 34th Japan Gold Disc Awards[256] Single Of The Year "Sustainable" Đoạt giải
Best 5 singles "Sustainable"+"Jiwaru Days" Đoạt giải
2021 35th Japan Gold Disc Awards[160] Best 5 singles "Shitsuren, Arigato" Đoạt giải

Những kỷ lụcSửa đổi

AKB48 và những bài hát của nhóm đã lập những kỷ lục sau:

  • Kỷ lục Guinness cho nhóm nhạc nữ lớn nhất thế giới với số lượng thành viên là 200 người (tháng 11/2010)[164]
  • Kỷ lục Guinness cho số lượng ca sĩ nhạc Pop lớn nhất xuất hiện trong một trò chơi điện tử- Vào tháng 12/2012, trò chơi mô phỏng hẹn hò của nhóm AKB1/149 Ren'ai Sōsenkyo có sự tham gia của 149 thành viên.
  • Kỷ lục Guinness cho sự phê duyệt trên TV nhiều nhất cho cùng một sản phẩm trong một ngày- Vào tháng 2/2012, các thành viên AKB48 đã xuất hiện trong 90 quảng cáo cho Wonda Coffee Morning Shot của Asahi, phá vỡ kỷ lục 60 quảng cáo trước đó.[165]
  • Nghệ sĩ nữ bán được nhiều đĩa đơn nhất Nhật Bản- Vào tháng 5/2013, sau khi phát hành đĩa đơn thứ 31 "Sayonara Crawl", doanh số tổng hợp cho các đĩa đơn của AKB48 đạt 21,852 triệu kể từ khi ra mắt lần đầu năm 2006 (phá kỷ lục trước đó của Ayumi Hamasaki là 21,416 triệu) [257]
  • Nhóm nhạc nữ có số lượng đĩa đơn bán ra cao nhất Nhật Bản- Vào tháng 6/2013, doanh số của "Sayonara Crawl" đạt 1.872.000 bản, phá vỡ kỷ lục năm 1997 của Speed ​​cho "White Love". Tổng doanh số của đĩa đơn đạt 1.955.800
  • Có nhiều đĩa đơn liên tiếp bán được triệu bản nhất tại Nhật Bản — Vào tháng 10/2013. đĩa đơn thứ 33 "Heart Electric" bán được 1.021.000 bản trong ngày đầu tiên ra mắt, trở thành đĩa đơn đạt mốc 1 triệu bản thứ 14 liên tiếp của nhóm và phá vỡ kỷ lục trước đó là 13 do B'z nắm giữ.[258]
  • Có nhiều đĩa đơn bán được triệu bản nhất tại Nhật Bản — Vào tháng 12/2013, đĩa đơn thứ 34 "Suzukake no Ki no Michi de "Kimi no Hohoemi wo Yume ni Miru" to Itteshimattara Bokutachi no Kankei wa Dou Kawatteshimaunoka, Bokunari ni Nannichi ka Kangaeta Ue deno Yaya Kihazukashii Ketsuron no youna Mono " bán được 1.033.000 bản trong tuần đầu tiên, là đĩa đơn đạt triệu bản thứ 16 của AKB48, phá vỡ kỷ lục trước đó do B'z nắm giữ trong 13 năm 9 tháng.[259]
  • Doanh số đĩa đơn cho nghệ sỹ nữ cao nhất tại Nhật Bản- Vào tháng 6/2017, đĩa đơn thứ 48 "Negaigoto no Mochigusare" bán được 2,555,912 bản trong tuần đầu ra mắt, phá vỡ kỷ lục trước đó do Dreams Come True nắm giữ

Các nhóm nhạc "chị em" đồng hànhSửa đổi

 
SKE48 Team KII biểu diễn tại nhà hát

Yasushi Akimoto đã tạo ra những "nhóm chị em" cùng đồng hành với AKB48 dựa trên tiêu chí "thần tượng bạn có thể gặp mặt". Những nhóm này cũng có những nhà hát riêng tại Nhật Bản và các nước châu Á, và có những đĩa đơn riêng. Những thành viên của các nhóm nhạc chị em đôi khi cũng xuất hiện trong những buổi trình diễn và đĩa đơn của AKB48 [260][261] Matsui Jurina (SKE48) và Watanabe Miyuki (NMB48), thành viên của các nhóm chị em với AKB48 cũng là những thành viên kiêm nhiệm đầu tiên của AKB48.[262]

Nhóm nhạc chị em đầu tiên của AKB48 là SKE48, được thành lập trong năm 2008 và nhà hát của họ được dựng ở Sakae, Nagoya.[263] Sau đó, SDN48, NMB48 (tại Namba, Osaka), và HKT48 (tại Fukuoka) được hình thành. Năm 2011, AKB48 công bố thành lập nhóm chị em đầu tiên bên ngoài Nhật Bản, JKT48, có trụ sở tại Jakarta, Indonesia. Và theo sau đó là các nhóm chị em khác ở nước ngoài: SNH48, có trụ sở tại Thượng Hải, Trung Quốc (Tuy nhiên đã tách ra khỏi PJ48 vào 2016 và hiện đang hoạt động độc lập), về sau AKB48 thành lập AKB48 China, ra mắt AKB48 Team SH vào 12/10/2016.

Ngoài các nhóm chị em, AKB48 cũng có một "đối thủ chính thức" là nhóm Sakamichi Series cùng chung nhà sản xuất Yasushi Akimoto thành lập vào năm 2011, gồm 3 nhóm: Nogizaka46,[264] và các nhóm chị em Sakurazaka46 và Hinatazaka46, sau khi Sony Music Nhật Bản xây dựng tòa nhà văn phòng chính.[264]

Năm 2015, tại concert AKB48 Request Hour Setlist Best 1035, AKS (công ty quản lý của AKB48) đã công bố thành lập NGT48 ở Niigata với Kitahara Rie làm đội trưởng và Kashiwagi Yuki kiêm nhiệm.

Việc thành lập TPE48 được thông báo vào ngày 10 tháng 10 năm 2011 trên blog chính thức của AKB48. Vào thời điểm đó, AKS đã hợp tác với Chi nhánh Yoshimoto Kogyo Đài Bắc và dự kiến ​​bắt đầu việc thử giọng vào năm 2012. Tuy nhiên, hai bên đã không đạt được đồng thuận trong công tác chuẩn bị nên đã ngừng hợp tác nửa cuối năm 2012.

Vào tháng 3 năm 2016, AKS thông báo thành lập 3 nhóm chị em khác ngoài Nhật Bản là BNK48 tại Bangkok, Thái Lan; MNL48 tại Manila, PhilippinesTPE48 tại Đài Bắc. Đài Loan. Vào ngày 30 tháng 7 năm 2018, AKS đã hủy bỏ hợp đồng liên doanh và giấy phép với công ty quản lý của TPE48 và tạo nên AKB48 Team TP. CGM48 được thành lập theo tên thành phố Chiang Mai, Thái Lan, là nhóm chị em trong nước của BNK48 đã được công bố tại Chiang Mai vào ngày 2 tháng 6 năm 2019.

Vào ngày 27 tháng 12 năm 2017, Yokoyama Yui- tổng quản của AKB48 và là cựu đội trưởng Team A thông báo về việc thành lập MUM48, có trụ sở tại Mumbai, Ấn Độ vào năm 2018, thông qua một buổi phát sóng trực tiếp tại Showroom. Vào ngày 19 tháng 6 năm 2019, MUB48 thay thế MUM48 và DEL48 có trụ sở Delhi. Vào tháng 10 năm 2020, hầu hết các thành viên đã mở tài khoản Instagram cá nhân, dẫn đến tin đồn về việc tan rã. Deepak Nandal, nhà sản xuất DEL48, xác nhận YKBK48 đã đóng DEL48 và sẽ chấm dứt hợp đồng của các thành viên vào cuối tháng 10 do đại dịch COVID-19.

Ngày 21 tháng 6 năm 2018 tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, AKS đã có buổi công bố thông tin về nhóm nhạc nhỏ mới sẽ hoạt động tại thị trường Việt Nam lấy tên là SGO48, tuyển chọn thành viên bắt đầu từ tháng 7 năm 2018. Nhóm nhạc được ra mắt vào ngày 22 tháng 12 năm 2018. Nhóm hiện có 23 thành viên.[265]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “Galaxy Records Sells AKB48's Tsugi no Ashiato Album in Philippines”. animenewsnetwork.com. Anime News Network. 6 tháng 11 năm 2015.
  2. ^ Monica Hesse (ngày 27 tháng 3 năm 2012). “Japanese girl group AKB48 breezes through D.C. in whirlwind of cuteness”. The Washington Post. Truy cập 9 tháng 4 năm 2012.
  3. ^ “ももクロ : "音楽好き"の支持でポストAKBに急浮上? 群雄割拠のアイドルシーン” (bằng tiếng Nhật). Mainichi Shimbun Digital. ngày 6 tháng 5 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 5 năm 2012. Truy cập 18 tháng 5 năm 2012.
  4. ^ “Japan all-girl group ad 'encourages homosexuality'. Agence France-Presse. Yahoo! News. ngày 20 tháng 4 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 4 năm 2012. Truy cập 18 tháng 5 năm 2012.
  5. ^ “AKB48 is officially the world's biggest group”.
  6. ^ [http://news.cnet.com/8301-17938_105-57371627-1/otaku-band-akb48-morphs-into-$200m-business/ http://www.tokyohive.com/article/2012/12/oricon-reveals-artist-total-sales-revenue-ranking-for-2012/ “Otaku band AKB48 morphs into $200M business”] Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp). CNET News. ngày 7 tháng 2 năm 2012. Truy cập 12 tháng 2 năm 2012. line feed character trong |url= tại ký tự số 92 (trợ giúp)
  7. ^ [ https://www.oricon.co.jp/news/2112881/full/ https://www.oricon.co.jp/news/2112881/full/]
  8. ^ a ă [1]
  9. ^ “シングル年間ランキング-ORICON STYLE ランキング” (bằng tiếng Nhật). Oricon Inc. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2011. Truy cập 17 tháng 7 năm 2011.
  10. ^ “【オリコン年間】AKB48、史上初の年間シングルTOP5独占 総売上162.8億円で7冠” (bằng tiếng Nhật). Oricon Inc. ngày 19 tháng 12 năm 2011. Truy cập 19 tháng 12 năm 2011.
  11. ^ “【オリコン】史上初!AKB48が3作連続初週ミリオン 歴代シングル初週売上TOP3独占”. Oricon Style (bằng tiếng Nhật). Oricon. ngày 1 tháng 11 năm 2011. Truy cập 1 tháng 11 năm 2011.
  12. ^ “Nhóm AKB48 đến Việt Nam biểu diễn: Điều gì đã tạo nên biểu tượng J-pop?”.
  13. ^ “Các cô gái trong nhóm nhạc lớn nhất Nhật Bản bị cấm yêu”.
  14. ^ “What is AKB48?”.
  15. ^ “Từ khi nào mà rời nhóm nhạc được gọi là tốt nghiệp?”.
  16. ^ “AKBINGO”.
  17. ^ “今月も”.
  18. ^ “1st Generation (Original Team A)”.
  19. ^ “Shinoda Mariko”.
  20. ^ “2nd Generation (Original Team K)”.
  21. ^ “AKB48 デビューCD 「桜の花びらたち」 2/1発売の宣伝トラック”.
  22. ^ “チームA 1st Stage「PARTYが始まるよ」【初回生産限定盤】”.
  23. ^ “AKB48、デビュー作が初登場TOP10入り!モー娘。以来の快挙達成!”.
  24. ^ “宇佐美友紀が今月一杯でAKB48から卒業することになりました。”.
  25. ^ “AKB48 売上 – スカート、ひらり”.
  26. ^ “AKB48、ついにメジャーデビュー決定!!”.
  27. ^ “チームBオーディション締め切り決定!”.
  28. ^ “3rd Generation (Original Team B)”.
  29. ^ “来年からの新体制について”.
  30. ^ “アーティスト&楽曲検索 会いたかった”.
  31. ^ “AKB48 売上 – AKB48シングル”.
  32. ^ “アーティスト&楽曲検索 軽蔑していた愛情”.
  33. ^ “Enjo-kosai” là thuật ngữ mô tả hiện tượng nữ sinh quan hệ tình dục với những người đàn ông lớn tuổi để kiếm tiền.
  34. ^ “ライブレポート:AKB48、初の全国ツアーが開幕”.
  35. ^ “AKB48—21世纪的丑小鸭传说”.
  36. ^ “夕陽を見ているか?”.
  37. ^ “AKB48—21世纪的丑小鸭传说”.
  38. ^ “AKB48の新年ニューシングル&AXライブ4daysが決定”.
  39. ^ “AKB48劇場「桜の花びらたち2008」購入者特別プレゼント!”.
  40. ^ “AKB48「ポスター44種類コンプでイベント招待」企画、「独禁法違反」のおそれで中止”.
  41. ^ “AKB48 Launching SKE48 In Nagoya”.
  42. ^ “AKB48 member fired over leaked 'Purikura' photo”.
  43. ^ “菊地からファンの皆様へ”.
  44. ^ “AKB48コレクター心を刺激する裏ジャケ19パターン”.
  45. ^ “松井珠理奈&大島優子!AKB新曲「UZA」はWセンター!!”.
  46. ^ “大声ダイヤモンド/AKB48”.
  47. ^ “10年桜 AKB48のプロフィールならオリコン芸能人事典-ORICON STYLE”.
  48. ^ "AKB48選抜総選挙"開票! トップ当選の前田敦子「AKBに人生捧げる!」”.
  49. ^ “言い訳Maybe(マキシ+DVD複合)”.
  50. ^ “止めたAKB48、再開したモー娘。"政権交代"が進むアイドル界の「握手会狂想曲」”.
  51. ^ “Come and discover AKB48 pop sensation!”.
  52. ^ “AKB48 U.S. DEBUT CONCERT IN NYC”.
  53. ^ “ゴールド等認定作品一覧 2009年9月”.
  54. ^ “AKB48初のシングル首位、17.9万枚で09年女性アーティスト初動売上トップに”.
  55. ^ “AKB48 top with Sakura no Shiori”.
  56. ^ “2010年12月度 認定作品”.
  57. ^ “AKB48が初週50万枚超で首位 モー娘。以来9年半ぶり快挙”.
  58. ^ “Japanese Musical Group AKB48 will be Official Guests of Honor at Anime Expo 2010”.
  59. ^ “Heavy Rotation”.
  60. ^ “AKB48、女性グループ歴代最高の初週売上82.7万枚 5作連続シングル首位”.
  61. ^ “Beginner”.
  62. ^ “AKB48×ハロプロがグラビア初コラボ! 渡辺麻友×鈴木愛理が網タイツ姿で表紙飾る”.
  63. ^ “AKB48が「スパシーバ」 モスクワで初コンサート”.
  64. ^ “続 AKB48海外公演!!”.
  65. ^ “Special Events | Singapore Toy, Games & Comic Convention (STGCC)”.
  66. ^ “AKB48・小野恵令奈、卒業後の進路は 「海外留学」&「女優業勉強」”.
  67. ^ “AKB48から小野恵令奈が卒業......「明日から自分の夢に向かって」”.
  68. ^ “AKB48 5th Anniversary”.
  69. ^ “Sakura no Ki ni Narou”.
  70. ^ “AKB48 breaks single-day sales records, sells over 655,000 copies”.
  71. ^ “AKB48 sets record with Sakura no Ki ni Narou”.
  72. ^ a ă “DOCUMENTARY of AKB48 to be continued "10 Nengo, Shoujo Tachi wa Ima no Jibun ni Nani o Omou Nodarou?".
  73. ^ “AKB48新アルバムに新曲11曲、SKE・SDN・NMB参加曲も”.
  74. ^ “AKB48 groups pledge 500 million yen for earthquake relief”.
  75. ^ “AKB48、新シングル&選抜総選挙決定!収益一部を義援金に”.
  76. ^ “Activities of AKB48's Tohoku earthquake reconstruction support project”.
  77. ^ “HKT48”.
  78. ^ “AKB48 to make a guest appearance at "Golden Melody Awards" in Taiwan”.
  79. ^ “Everyday, Kachuusha”.
  80. ^ “Flying Get”.
  81. ^ “Kaze wa Fuiteiru”.
  82. ^ “Ue Kara Mariko”.
  83. ^ “AKB48 in TOKYO DOME ~1830m no Yume~”.
  84. ^ “Eien Pressure”.
  85. ^ “1830m”.
  86. ^ “So long!”.
  87. ^ “Heart Ereki”.
  88. ^ “Koko ga Rhodes da, Koko de Tobe!”.
  89. ^ “Green Flash”.
  90. ^ “AKB48 39thシングル「Green Flash」”.
  91. ^ “川栄李奈 無念の卒業…今後は女優業に全力「夢を追いかけたい」”.
  92. ^ “川栄、卒業は「夢を叶えたいと思ったから」」”.
  93. ^ “こじはる、武藤十夢らNYにAKB、ファン5000人集結に感動”.
  94. ^ “AKB48、6年ぶりNYライブに5000人熱狂 里田まい現地報告「ものすごい熱気」”.
  95. ^ “僕たちは戦わない(初回限定盤/Type A)”.
  96. ^ “AKB48 41st Single Senbatsu Sousenkyo ~Juni Yoso Fukano, Oare no Ichiya~”.
  97. ^ “Rino Sashihara crowned amid tears and jeers at AKB election”.
  98. ^ “Halloween Night”.
  99. ^ “Kuchibiru ni Be My Baby”.
  100. ^ “AKB48 overtakes iconic rock group to become Japan's No.1”.
  101. ^ “0 to 1 no Aida”.
  102. ^ “Kimi wa Melody”.
  103. ^ "AKB48's 43rd Single "Kimi wa Melody" revealed on the final day of Request Hour 2016!".
  104. ^ “【AKB紅白】台湾オーディション合格の馬嘉伶「ヘビロテ」1人で熱唱”.
  105. ^ “Ma Chia-Ling”.
  106. ^ “Tsubasa wa Iranai”.
  107. ^ “LOVE TRIP / Shiawase wo Wakenasai”.
  108. ^ “High Tension”.
  109. ^ “Thumbnail”.
  110. ^ “Shoot Sign”.
  111. ^ “Negaigoto no Mochigusare”.
  112. ^ “DOCUMENTARY of AKB48 Sonzai suru Riyuu”.
  113. ^ “AKB48 49th Single Senbatsu Sousenkyo”.
  114. ^ “#SukiNanda”.
  115. ^ “Buồn nhất Tổng tuyển cử lần thứ 9 của AKB48: Watanabe Mayu thông báo tốt nghiệp”.
  116. ^ “11gatsu no Anklet (11月のアンクレット)”. line feed character trong |tựa đề= tại ký tự số 18 (trợ giúp)
  117. ^ “PD48 contestants who performed in 2017 MAMA Japan”.
  118. ^ “Độc quyền: 15 câu chuyện hấp dẫn mà bạn có thể bỏ lỡ nếu không 'tập trung' xem MAMA 2017”.
  119. ^ “[2017 MAMA in Japan] AKB48&CHUNG HA&Weki Meki&PRISTIN&fromis_9&Idol School Class 1_IT'S SHOWTIME”.
  120. ^ “[2017 MAMA in Japan] CHUNG HA&Weki Meki&PRISTIN&fromis_9&Idol School Class 1&AKB48_Pick Me”.
  121. ^ “AKB48 xác nhận tham gia 'Produce 48' của Mnet, một cuộc chiến sống còn mới sắp bắt đầu!”.
  122. ^ “Bokutachi wa, Ano Hi no Yoake wo Shitteiru”.
  123. ^ “Jabaja”.
  124. ^ “Teacher Teacher”.
  125. ^ “Single thứ 52 của AKB48 nhanh chóng bốc hơi hơn một triệu bản trong tuần đầu tiên”.
  126. ^ a ă “AKB48 53rd Single Sekai Senbatsu Sousenkyo”.
  127. ^ “Sentimental Train”.
  128. ^ “Không còn là tin đồn, AKB48 sẽ tham gia 'cuộc chiến sống còn' Produce 48!”.
  129. ^ “Dàn thí sinh Produce 48 ra mắt đẹp hút hồn, idol Nhật Bản chiếm sóng nhất”.
  130. ^ “Liệu các trainee Hàn Quốc có 'khóc ròng' tại Produce 48 không khi mà các thí sinh Nhật Bản lại xinh đẹp rực rỡ như thế này?”.
  131. ^ a ă “Produce 48 khép lại, lộ diện top 12 thí sinh thắng cuộc, debut với tên IZONE”.
  132. ^ “Ba thành viên AKB48G tạm dừng mọi hoạt động để tập trung cho IZ*ONE”.
  133. ^ “NO WAY MAN”.
  134. ^ “Miyawaki Sakura trở thành center cho MV NO WAY MAN trước khi tạm dừng mọi hoạt động ở 48 Group”.
  135. ^ “AKB48 x BNK48 - Koisuru Fortune Cookie คุกกี้เสี่ยงทาย งานขาวแดง NHK”.
  136. ^ "BNK48「NHK紅白歌合戦」出演メンバーが決定!日本人メンバー伊豆田莉奈と大久保美織も".
  137. ^ a ă “AKB48 Group Asia Festival 2019 in Bangkok”.
  138. ^ “76 thiếu nữ của các nhóm nhạc châu Á diễn ở Thái Lan”.
  139. ^ a ă “AKB48 Group Asia Festival 2019 in Shanghai”.
  140. ^ a ă “AKB48 in Taipei 2019 ~Are You Ready For It?~”.
  141. ^ “AKB48 Zenkoku Tour 2019”.
  142. ^ “AKB48 chính thức nói lời chia tay với thành viên xuất sắc nhất”.
  143. ^ “Jiwaru DAYS”.
  144. ^ “Show thực tế dài hơi AKBINGO! của AKB48 sẽ khép lại quãng đường của mình sau 11 năm”.
  145. ^ “番組を応援してくださった皆さんへ”.
  146. ^ “Sustainable”.
  147. ^ “AKB48 Cafe & Shop in Akihabara Closes After 8 Years”.
  148. ^ “Tin buồn cho các Fan của AKB48, Tiệm Cafe AKB48 đóng cửa vào tháng 12”. line feed character trong |tựa đề= tại ký tự số 42 (trợ giúp)
  149. ^ “紅白"異例"の曲目先行発表!AKBは「恋チュン 世界選抜SP」LiSAは「紅蓮華」”.
  150. ^ “AKB48's Japanese company announces division of management in preparation for IZ*ONE's return to promotions”.
  151. ^ “Nữ thần tượng 10X rời nhóm nhạc vì lộ ảnh riêng tư”.
  152. ^ “Shitsuren, Arigatou”.
  153. ^ “OUC48 Project”.
  154. ^ “AKB48, chị cả của SGO48, phát động dự án OUC48”.
  155. ^ a ă “ONE LOVE ASIA”.
  156. ^ “Hanareteitemo”.
  157. ^ “AKB48 tung PV Hanareteitemo với 114 ca sĩ, fan hâm mộ gặp lại 8 thành viên đã tốt nghiệp”.
  158. ^ “Sponichi: COVID-19 Could Be to Blame for AKB48 Missing Out on This Year's Kōhaku Music Contest”.
  159. ^ “Danh sách Kokaku Uta Gassen gây bất ngờ, AKB48 lần đầu vắng mặt, xuất hiện nhóm nhạc lạ hoắc”.
  160. ^ a ă “Arashi takes home the 'Artist of the Year' at the 'JAPAN GOLD DISC AWARD' for the 7th time”.
  161. ^ “AKB48 Group Asia Festival 2021 ONLINE オンライン記者会見/Online Press Conference”.
  162. ^ “AKB48 Group Asia Festival 2021 ONLINE”.
  163. ^ “Japan Goes Gaga Over a 92-Member Girl Group”.
  164. ^ a ă “Ban nhạc AKB48 lập kỷ lục thế giới về số lượng thành viên”.
  165. ^ a ă “AKB48's new Guinness World Record”.
  166. ^ “Japanese girl group AKB48 breezes through D.C. in whirlwind of cuteness”.
  167. ^ “AKB48 members to appear on stamps”.
  168. ^ “Why Japan's Music Industry Is Booming… For Now”.
  169. ^ “Wiki 48G”.
  170. ^ “Sousenkyo (Tổng tuyển cử) – Nơi fan là người nắm quyền quyết định”.
  171. ^ “Janken Tournament- Đại hội Oẳn tù tì”.
  172. ^ “AKB48 Concerts – Những điều mà bạn nên biết”.
  173. ^ “AKB group draft”.
  174. ^ “DOCUMENTARY of AKB48 to be continued 10年後、少女たちは今の自分に何を思うのだろう?”.
  175. ^ “New People Entertainment Announces DVD Release Of AKB48 Documentary”.
  176. ^ “AKB48 Finally Gets An Official Music Game Is, Well, The Name Of The Game”.
  177. ^ “AKB48's Post-Quake Support Song Sells 1 Million on 1st Day”.
  178. ^ “AKB48 to distribute another charity song for free”.
  179. ^ “AKB48, sister groups perform in disaster-struck Tohoku”.
  180. ^ “10 Years Later, A Defense Of Heavy Rotation by AKB48”.
  181. ^ “The Truth Behind Heavy Rotation”.
  182. ^ “Quảng cáo của nhóm ca sĩ Nhật bị chê thiếu lành mạnh”.
  183. ^ “Ngôi sao Nhật cạo đầu, xin lỗi vì phạm kỷ luật nhóm”.
  184. ^ “Minami Minegishi, Japanese Pop Star, Shaves Head As Penance For Dating (VIDEO)”.
  185. ^ “Hai thành viên AKB48 bị tấn công bằng cưa sắt”.
  186. ^ “2 thành viên AKB48 bị fan cuồng tấn công bằng cưa”.
  187. ^ Những chàng trai 'ăn cỏ' -(草食(系)男子, Sōshoku(-kei) danshi) là thuật ngữ chỉ những chàng trai trẻ, kiếm tiền ít, tiêu cũng ít. Họ không mấy quan tâm tới tiền và tình dục nhưng chú ý nhiều hơn tới thời trang và vẻ bề ngoài.
  188. ^ “Japan's Lack of Romance: Is It Due to Idol Culture?”.
  189. ^ “Nữ ca sĩ bị tấn công còn phải xin lỗi người hâm mộ”.
  190. ^ “Maho Yamaguchi (NGT48) bị thành viên cùng nhóm thuê người tấn công tại nhà riêng”.
  191. ^ a ă “オリコンランキング情報サービス「you大樹」”. Oricon. Truy cập 9 tháng 2 năm 2011. (subscription only)
  192. ^ a ă â “2011年6月度 認定作品” (bằng tiếng Nhật). Recording Industry Association of Japan. Truy cập 22 tháng 7 năm 2011.
  193. ^ “2010年12月度 認定作品” (bằng tiếng Nhật). Recording Industry Association of Japan. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2011. Truy cập 22 tháng 7 năm 2011.
  194. ^ “Sakura Kara No Tegami (2011)”.
  195. ^ “Shiritsu Bakaleya Koukou (私立バカレア高校)”.
  196. ^ “Sailor Zombie”.
  197. ^ “AKB48 in a-nation 2011”.
  198. ^ Buổi concert được đổi tên sau thông báo tốt nghiệp của Maeda Atsuko thành Maeda Atsuko no Namida Sotsugyou Sengen! in Saitama Super Arena - Gyomu Renraku. Tanomuzo, Katayama Bucho! - (前田敦子の涙卒業宣言! in さいたまスーパーアリーナ ~業務連絡。頼むぞ、片山部長!~)
  199. ^ Do đại dịch COVID-19, các tiết mục của Iz*One được ghi hình trước & công chiếu tại sự kiện
  200. ^ “Date announced for Graduation Concert of Minegishi Minami”.
  201. ^ Tổ chức trực tuyến do đại dịch COVID-19
  202. ^ “AKB48 perform at Shanghai Japan Week event”.
  203. ^ “20h, 09/10 trên VTV1: Đại Nhạc hội Việt - Nhật lần thứ 2”.
  204. ^ “Các nhóm nhạc hàng đầu Nhật Bản đến Việt Nam”.
  205. ^ “Japan Pop Culture Festival 2012: AKB48 x JKT48 Concert”.
  206. ^ “Japan Pop Culture Concert 2012 in Washington D.C. Celebrating 100th anniversary of Cherry Blossom with AKB48”.
  207. ^ “AKB48 x JKT48 Konser Bergandengan tangan bersama kakak”.
  208. ^ “AKB48も参加!日本のお祭り in NY、Japan Day 2015が開催!/ JAPAN DAY 2015!! AKB48 in NY, Stage Performances, & Japanese Culture (Eng subs)”.
  209. ^ “Alodia and AKB48 jam in Manila's Cool Japan Festival 2015”.
  210. ^ “BNK48 debuts at JAPAN EXPO THAILAND”.
  211. ^ “Viral Fest Asia 2017 Performance - AKB48 & BNK48 (Japan, Thailand)”.
  212. ^ “AKB48 in JAPAN EXPO THAILAND 2018”.
  213. ^ “Interview: AKB48 Team 8”.
  214. ^ “AKB48 Akan Konser di Festival Jak-Japan Matsuri 2018”.
  215. ^ “Cuộc gặp gỡ của hai nhóm nhạc đông thành viên nhất Việt Nam và Nhật Bản”.
  216. ^ “Maya Music Festival Bangkok 2018!”.
  217. ^ “AKB48 in JAPAN EXPO THAILAND 2019”.
  218. ^ “AKB48 Excites Malaysian Fans At Japan Expo Malaysia 2019”.
  219. ^ “Lần thứ hai nhóm nhạc AKB48 tham dự giải chạy Ekiden 2019”.
  220. ^ “AKB48 will perform at JAPAN EXPO THAILAND 2020”.
  221. ^ “AKB48 13th Single Senbatsu Sousenkyo ~Kamisama ni Chikatte Gachi desu~”.
  222. ^ “AKB48 17th Single Senbatsu Sousenkyo "Kaasan ni Chikatte, Gachi Desu".
  223. ^ “AKB48 22nd Single Senbatsu Sousenkyo”.
  224. ^ “AKB48 27th Single Senbatsu Sousenkyo”.
  225. ^ “AKB48 32nd Single Senbatsu Sousenkyo”.
  226. ^ là Team của các thành viên được chuyển sang các nhóm chị em nước ngoài thuộc AKB48
  227. ^ “AKB48 37th Single Senbatsu Sousenkyo”.
  228. ^ “AKB48 41st Single Senbatsu Sousenkyo”.
  229. ^ “AKB48 45th Single Senbatsu Sousenkyo "Bokutachi wa Dare ni Tsuiteikeba ii".
  230. ^ “AKB48 49th Single Senbatsu Sousenkyo”.
  231. ^ Izuta Rina đại diện nhóm tham dự
  232. ^ “AKB48 Kouhaku Utagassen 2011”.
  233. ^ “AKB48 Kouhaku Utagassen 2012”.
  234. ^ “AKB48 Kouhaku Utagassen 2013”.
  235. ^ “AKB48 Kouhaku Utagassen 2014”.
  236. ^ “AKB48 Kouhaku Utagassen 2015”.
  237. ^ “AKB48 Kouhaku Utagassen 2016”.
  238. ^ “AKB48 Kouhaku Utagassen 2017”.
  239. ^ “MAMA HISTORY – WINNERS 2009: The complete list | Mwave”. www.mwave.me (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2019.
  240. ^ Rob Schwartz (7 tháng 2 năm 2011). “Chaka Khan, Debbie Gibson Make Cameos at Billboard Japan Awards”. Billboard. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2014.
  241. ^ “Entertainment Project Design [AKB48]”. Good Design Award. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2019.
  242. ^ “Japan Gold Disc Award 2011”.
  243. ^ “AKB48, Avril Lavigne Win Big at Billboard Japan Music Awards”. Billboard. 6 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2012.
  244. ^ “ドラマソング賞 受賞結果 1位:フライングゲット、AKB48 | 第70回 - ザテレビジョンドラマアカデミー賞”. ザテレビジョン (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2019.
  245. ^ “AKB48がアーティスト・オブ・ザ・イヤー含む4冠を2年連続で達成│Daily News│Billboard JAPAN” (bằng tiếng Nhật). Billboard Japan. 15 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2012.
  246. ^ AKB48がレコ大連覇!"センター"まゆゆ号泣. SANSPO.COM(サンスポ) (bằng tiếng Nhật). 30 tháng 12 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2014.
  247. ^ “AKB48 / Awarded "Asia's Most Popular Group" in Beijing”. SYNC MUSIC JAPAN (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2019.
  248. ^ Jeff Benjamin (9 tháng 1 năm 2014). “AKB48, Morning Musume Win Big at Billboard Japan Music Awards”. Billboard. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2014.
  249. ^ Billboard Staff (20 tháng 12 năm 2012). “AKB48, Carly Rae Jepsen Win Big at Billboard Japan Music Awards”. Billboard. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2014.
  250. ^ “「第18回SPACE SHOWER MUSIC VIDEO AWARDS」にて特別賞ほか受賞!!”. AOI Pro. Inc. (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2019.
  251. ^ “AKB48 Tops Billboard Japan's 2016 Artist Ranking: See the List”. Billboard. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2019.
  252. ^ “「第11回大正琴音楽大賞」授与式を行いました”. 琴伝流からのお知らせ | 琴伝流大正琴 (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2019.
  253. ^ “ドラマソング賞 受賞結果 1位:365日の紙飛行機、AKB48 | 第88回 - ザテレビジョンドラマアカデミー賞”. ザテレビジョン (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2019.
  254. ^ “The Winners of The Japan Gold Disc Award 2018 Announced”.
  255. ^ “Namie Amuro, BTS, AKB48, & more win at 33rd "Japan Gold Disc Award".
  256. ^ “34th Japan Gold Disc Awards”.
  257. ^ “AKB48 becomes best-selling singles female artist ever in Japan”. Asahi Shimbun. ngày 22 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2014.
  258. ^ “AKB48's latest single 'Heart Ereki' sells over a million copies in one day”. tokyohive. ngày 30 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2014.
  259. ^ “AKB48 score their 16th million-selling single”. tokyohive. ngày 16 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2014.
  260. ^ “King Records Official Site Give Me Five! profile” (bằng tiếng Nhật). King Records. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2012. Truy cập 7 tháng 5 năm 2012.
  261. ^ “SKE松井珠理奈、NMB渡辺美優紀がAKB48に期間限定加入”. Natalie (bằng tiếng Nhật). Natasha, Inc. ngày 25 tháng 3 năm 2012. Truy cập 25 tháng 3 năm 2012.
  262. ^ “SKE松井珠理奈、NMB渡辺美優紀がAKB48に期間限定加入”. Natalie (bằng tiếng Nhật). Natasha, Inc. ngày 25 tháng 3 năm 2012. Truy cập 25 tháng 3 năm 2012.
  263. ^ “SKE48 profile”. Natalie (bằng tiếng Nhật). Natasha, Inc. Truy cập 7 tháng 5 năm 2012.
  264. ^ a ă "AKB48公式ライバル"乃木坂46結成 一般公募でメンバー決定” (bằng tiếng Nhật). Oricon Inc. ngày 29 tháng 6 năm 2011. Truy cập 22 tháng 8 năm 2011.
  265. ^ “Ra mắt nhóm nhạc thần tượng nữ SGO48”.

Liên kết ngoàiSửa đổi