Iz*One

Nhóm nhạc nữ Hàn Quốc–Nhật Bản

Iz*One (/ˈz wʌn/ EYEZ-wun, tiếng Triều Tiên: 아이즈원, tiếng Nhật: アイズワン, được cách điệu thành IZ*ONE) là một nhóm nhạc nữ thần tượng Hàn QuốcNhật Bản[2][3][4] được thành lập vào ngày 31 tháng 8 năm 2018 bởi công ty CJ E&M thông qua chương trình truyền hình thực tế sống còn Produce 48 của kênh Mnet và được đồng quản lý bởi hai công ty Off The Record Entertainment và Swing Entertainment.[5][6] Nhóm gồm 12 thành viên được khán giả Hàn Quốc bình chọn từ 96 thực tập sinh đến từ nhiều công ty giải trí khác nhau của Hàn QuốcAKB48 Group của Nhật Bản, đội hình chính thức bao gồm Kwon Eun-bi, Miyawaki Sakura, Kang Hye-won, Choi Ye-na, Lee Chae-yeon, Kim Chae-won, Kim Min-ju, Yabuki Nako, Honda Hitomi, Jo Yu-ri, An Yu-jinJang Won-young.[7] IZ*ONE chính thức ra mắt vào ngày 29 tháng 10 năm 2018 với mini-album đầu tay Color*Iz và dự kiến hoạt động đến ngày 29 tháng 4 năm 2021.[8] Âm nhạc của nhóm là sự kết hợp giữa các thể loại nhạc EDM như electropop, house, moombahton, future bass, với synth-pop, dance, acousticballad.[2][9][10][11]

IZ*ONE
Thông tin nghệ sĩ
Nguyên quánSeoul,  Hàn Quốc
Thể loại
Năm hoạt động2018 (2018)–nay
Công ty quản lý
Hãng đĩa
Hợp tác với
Ca khúc tiêu biểu
Websiteiz-one.co.kr (tiếng Triều Tiên)
izone-official.com (tiếng Nhật)
Thành viên
Tên tiếng Hàn
Hangul
아이즈원
Tên tiếng Nhật
Katakanaアイズワン

Chỉ vài tháng sau khi ra mắt, IZ*ONE đã đạt được những thành công về mặt thương mại, như bán 225.000 đơn vị album và đạt thứ hạng cao nhất là thứ hai trên Gaon Album Chart.[12] Cùng với đó cả album Color*Iz lẫn đĩa đơn chủ đề "La Vie en Rose" đều lần lượt xuất hiện trên bảng xếp hạng Billboard World Albums và World Digital Songs.[13] Những thành tích ngay từ khi mới ra mắt đã đem về cho nhóm giải thưởng Nghệ sỹ Mới của Năm tại một số lễ trao giải như Golden Disc AwardsSeoul Music Awards.

Đĩa đơn tiếng Nhật đầu tiên của nhóm, "Suki to Iwasetai", được phát hành vào ngày 6 tháng 2 năm 2019 bởi hãng đĩa EMI Records của UMG. Đạt thứ hạng cao nhất là thứ hai trên Oricon Singles Chart và với hơn 250.000 bản được bán ra, đĩa đơn đã nhận được chứng nhận Bạch Kim của Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Nhật Bản (RIAJ).[14]

Hoàn cảnh ra đờiSửa đổi

Tên của nhóm, IZ*ONE, được cư dân mạng đề xuất thông qua trang web chính thức của Produce 48 và được chọn bởi CJ E&M.[15] "IZ" được cách điệu từ số 12, ám chỉ đến việc nhóm có mười hai thành viên, "ONE" là một,[16] và dấu hoa thị (*) được đặt giữa "IZ" và "ONE" tượng trưng cho mười hai cung Hoàng Đạo của đai Hoàng Đạo,[17][18] tổng thể mang ý nghĩa "khoảnh khắc những ngôi sao với mười hai màu sắc khác nhau hòa làm một".[19]

Lịch sửSửa đổi

Trước khi được thành lậpSửa đổi

Trước khi tham gia Produce 48, một số thành viên đã có hoạt động nghệ thuật và thành tích nhất định. Miyawaki Sakura từng tham gia vào vở nhạc kịch Vua sư tử (2008–2009) của Shiki Theatre Company;[20][21] Yabuki Nako từng xuất hiện trong phiên bản live-action của Touch (2005), tham gia một số bộ phim truyền hình và quảng cáo khác;[22][23] trước khi cả hai gia nhập HKT48 lần lượt vào năm 2011 và 2013.[24][25] Honda Hitomi ra mắt vào năm 2014 với tư cách là thành viên của AKB48.[26] Kwon Eun-bi ra mắt cùng nhóm nhạc Ye-A dưới nghệ danh Ka.Zoo vào năm 2014 nhưng nhóm tan rã vào năm 2015.[27] Lee Chae-yeon từng là thí sinh của K-pop Star 3 (2013-2014) và Sixteen (2015) nhưng đều bị loại.[28] Sau đó cô rời JYP Entertainment và chuyển đến WM Entertainment. Jo Yu-ri từng tham gia chương trình Idol School vào năm 2017 nhưng xếp thứ 15 trong đêm chung kết và bị loại.[29] Kim Min-ju từng góp mặt trong một vài video âm nhạc và bộ phim truyền hình, nổi bật là Trò chơi tình yêu (2018) của đài MBC, cô đóng vai Choi Soo-ji (Moon Ga-young thủ vai) lúc trẻ.[30][31] An Yu-jin từng được đào tạo tại Jellyfish Entertainment trong 5 tháng, trước khi gia nhập Starship Entertainment. Cô cũng tham gia đóng nhiều quảng cáovideo âm nhạc, nổi bật là quảng cáo kính áp tròng Acuvue Vita.[32][33] Kang Hye-won từng thực tập tại HYWY Entertainment và nằm trong dự án ra mắt nhóm nhạc nữ DAYDAY nhưng sau đó bị loại và kế hoạch ra mắt nhóm cũng bị hủy.[34] Cô gia nhập 8D Creative sau khi rời HYWY Entertainment. Choi Ye-na từng là thực tập sinh của Polaris Entertainment, được đào tạo cùng với thành viên HeejinHyunjin của nhóm nhạc nữ Loona.

2018: Thành lập và ra mắt chính thức với Color*IzSửa đổi

IZ*ONE được thành lập thông qua chương trình truyền hình thực tế sống còn Produce 48 được phát sóng trên kênh Mnet từ ngày 15 tháng 6 đến ngày 31 tháng 8 năm 2018. Chương trình là sự hợp tác giữa loạt chương trình Produce 101 Hàn Quốc và nhóm nhạc chị em của AKB48 đến từ Nhật Bản. Từ 96 thí sinh tham gia chương trình, chỉ mười hai thí sinh có thứ hạng cao nhất trong đêm chung kết trực tiếp được lựa chọn và thành lập nên IZ*ONE.[35][36]

 
IZ*ONE tại lễ trao giải Asia Artist Awards 2018

IZ*ONE chính thức ra mắt vào ngày 29 tháng 10 năm 2018 với mini-album đầu tay Color*Iz cùng bài hát chủ đề "La Vie en Rose" (Hangul라비앙로즈; RomajaRa Bi Ang Rojeu).[37][38][39] Cùng ngày, nhóm tổ chức buổi show-con "COLOR*IZ Show-Con" tại Olympic Hall, Seoul, Hàn Quốc, và bán hết vé chỉ trong vòng vài phút mở bán.[40][41] IZ*ONE có cúp âm nhạc tuần đầu tiên trong sự nghiệp sau mười ngày chính thức ra mắt trên M Countdown, và phá kỷ lục lúc bấy giờ trở thành nhóm nữ có chiến thắng tuần sớm nhất kể từ lúc ra mắt.[42] Color*Iz bán được 34.000 bản trong ngày đầu phát hành, giúp IZ*ONE lập kỷ lục trở thành nhóm nữ có số album ra mắt bán ra trong ngày đầu cao nhất,[43][44] trong khi đó video âm nhạc của bài hát chủ đề "La Vie en Rose" đạt được hơn 4.5 triệu lượt xem trong vòng một ngày kể từ khi phát hành trên YouTube, trở thành video âm nhạc ra mắt có lượng xem trong 24 giờ đầu cao nhất.[45] Mini-album còn đạt thứ hạng cao nhất là thứ hai trên Gaon Album Chart và bán tổng cộng hơn 225.000 bản.[46][47] Hiệp hội Nội dung Âm nhạc Hàn Quốc (KMCA) trao chứng nhận Bạch Kim cho Color*Iz vào ngày 9 tháng 7 năm 2020, 20 tháng kể từ khi phát hành sau khi album bán được hơn 250.000 bản.[48] Với thành công thương mại kể từ ngày đầu ra mắt, IZ*ONE đã thắng hạng mục "Nghệ sĩ Mới của Năm" tại một số giải thưởng âm nhạc, bao gồm Mnet Asian Music Awards, Golden Disc AwardsSeoul Music Awards.[49] Màn ra mắt của IZ*ONE được Billboard cho là một trong những màn ra mắt đỉnh nhất của K-pop trong năm 2018.[50]

Ngày 6 tháng 12, công ty quản lý Off the Record thông báo nhóm đã ký hợp đồng thu âm với EMI Records Japan, công ty con của Universal Music Japan, nhằm chuẩn bị cho kế hoạch tấn công thị trường Nhật Bản của nhóm vào ngày 6 tháng 2 năm 2019.[51]

2019: Ra mắt tại Nhật bản, Heart*Iz và tạm ngừng hoạt độngSửa đổi

Ngày 20 tháng 1, IZ*ONE tổ chức buổi showcase ra mắt tại Nhật Bản ở Tokyo Dome City Hall để quảng bá cho đĩa đơn tiếng Nhật đầu tay "Suki to Iwasetai" (好きと言わせたい? n.đ "Muốn anh nói rằng anh thích em").[52] Năm ngày sau sự kiện, ngày 25 tháng 1, nhóm phát hành video âm nhạc cho đĩa đơn, trong khi đó đĩa đơn được chính thức phát hành vào ngày 6 tháng 2.[53] Nó đạt thứ hạng cao nhất là thứ 2 trên cả Oricon Singles Chart lẫn Billboard Japan Hot 100 và bán được hơn 200.000 bản trong tuần đầu tiên.[54][55] Ngày 8 tháng 3, Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Nhật Bản (RIAJ) trao chứng nhận Bạch Kim cho đĩa đơn với hơn 250.000 đơn vị được bán ra, đây cũng là chứng nhận Bạch kim đầu tiên trong sự nghiệp của nhóm.[14]

IZ*ONE chính thức trở lại sân khấu Hàn Quốc vào ngày 1 tháng 4 với mini-album thứ hai Heart*Iz cùng bài hát chủ đề "Violeta" (Hangul비올레타; RomajaBiolleta).[56] Số lượng đặt trước album nội địa vượt 200.000 bản.[57] Sau khi được phát hành, Heart*Iz đứng đầu hai bảng xếp hạng Gaon Album và Oricon Overseas Album Charts, bán hơn 130.000 bản trong tuần đầu tiên, một kỷ lúc mới của nhóm nhạc K-pop nữ thời điểm đó.[58][59] KMCA trao chứng nhận Bạch Kim cho album vào ngày 10 tháng 10 sau khi bán được hơn 250.000 đơn vị.[60] Heart*Iz còn đạt thứ hạng cao nhất là thứ sáu trên bảng xếp hạng Billboard World Albums.[61] Trong khi đó, ca khúc chủ đề "Violeta" đạt thứ hạng cao nhất lần lượt là thứ mười tám và thứ năm trên Gaon Digital Chart và Billboard K-pop Hot 100.[62][63] Bài hát cũng đạt thứ hạng cao nhất là thứ tám trên Billboard World Digital Songs.[61] "Violeta" nhận được chiến thắng tuần đầu tiên trên SBS The Show vào ngày 9 tháng 4.[64]

 
IZ*ONE tại thảm đỏ lễ trao giải Gaon Chart Music Awards 2019

IZ*ONE chính thức thông báo về chuyến lưu diễn châu Á đầu tiên của mình mang tên Eyes On Me thông qua các trang mạng xã hội, với buổi hòa nhạc đầu tiên được tổ chức tại Nhà thi đấu Jamsil, Seoul, Hàn Quốc trong hai ngày 8 và 9 tháng 6 năm 2019.[65] Tuy nhiên cả hai đêm diễn này đều bán hết sạch vé nên công ty quản lý Off the Record phải bổ sung thêm một buổi diễn nữa vào ngày 7 tháng 6.[66] Trong chuyến lưu diễn, nhóm biểu diễn hai bài hát mới chưa được phát hành trước đó, "Ayayaya" và "So Curious".[67] Nhìn chung, IZ*ONE biểu diễn tại tám thành phố nằm trong năm vùng lãnh thổ, và thu hút được tổng cộng 81.000 khán giả.

Nhóm phát hành đĩa đơn tiếng Nhật thứ hai mang tên "Buenos Aires" vào ngày 26 tháng 6.[68] Đĩa đơn đứng đầu hai bảng xếp hạng nội địa Oricon Singles Chart và Billboard Japan Hot 100.[69][70] RIAJ trao chứng nhận Bạch Kim cho "Buenos Aires" vào tháng 7 năm 2019.[71] Ngày 25 tháng 9, IZ*ONE phát hành đĩa đơn tiếng Nhật thứ ba của nhóm "Vampire".[72] Giống như đĩa đơn trước đó, "Vampier" đứng đầu hai bảng xếp hạng nội địa của Nhật và doanh số tuần đầu tiên đạt 200.000 bản,[73][74] nhờ đó nhận được chứng nhận Vàng của RIAJ.[71] "Vampier" cũng là sản phẩm tiếng Nhật duy nhất của nhóm xuất hiện trong bản xếp hạng Billboard K-pop Hot 100, đạt thứ hạng cao nhất là 52.[75] Tiếp nối thành công thương mại trước đó, nhóm trở thành nghệ sĩ mới bán đĩa chạy nhất của Oricon trong nửa đầu năm 2019,[76] với doanh thu hơn 510 triệu yên Nhật (xấp xỉ 110 tỷ đồng Việt Nam vào thời điểm đó) tổng cộng tại Nhật từ ngày 10 tháng 12 năm 2018 đến ngày 9 tháng 6 năm 2019.[77][78]

IZ*ONE dự kiến tiếp đó sẽ phát hành album phòng thu tiếng Hàn đầu tay của mình, Bloom*Iz, vào ngày 11 tháng 11 năm 2019.[79] Tuy nhiên album bị hoãn ngày phát hành do cuộc điều tra thao túng phiếu bầu của Mnet, liên quan đến cả Fromis 9 từ Idol SchoolX1 từ Produce X 101.[80][81] Cuộc điều tra cho rằng 12 thành viên của nhóm đã được lựa chọn sẵn từ trước.[82] Do đó tất cả hoạt động của IZ*ONE, từ showcase đến quảng bá hay xuất hiện khách mời cũng đều hoãn vô thời hạn hoặc hủy bỏ,[81][83][84][85][86][87] kể cả bộ phim concert đầu tiên của nhóm IZ*ONE: Ngước nhìn tôi cũng hoãn ngày phát hành,[88] nhóm cũng không được quảng bá tại Nhật,[89][90] và IZ*ONE có nguy cơ phải tan rã.

2020: Quay trở lại hoạt động, Bloom*Iz, Oneiric DiaryTwelveSửa đổi

Ngày 6 tháng 1 năm 2020, công ty quản lý của các thành viên cùng với CJ ENM đi đến thỏa thuận cho nhóm tiếp tục hoạt động.[91][92] IZ*ONE phát hành album phòng thu đầu tiên của mình Bloom*Iz với bài hát chủ đề "Fiesta" vào ngày 17 tháng 2.[93][94] Ngày 23 tháng 2, một tuần sau đó, Bloom*Iz phá kỷ lục trở thành album của nhóm nhạc nữ có số lượng bán ra tuần đầu cao nhất trên Hanteo với 356.313 bản trong bảy ngày; và cũng là nhóm nhạc nữ đầu tiên trong lịch sử bảng xếp hạng Hanteo vượt mốc 300.000 bản tuần đầu. KMCA trao chứng nhận Bạch Kim cho Bloom*Iz vào ngày 9 tháng 4 sau khi bán được 390.000 đơn vị.[95][96] Bên cạnh thành tích nội địa, Bloom*Iz tiếp nối hai mini-album trước đó đứng đầu Oricon Overseas Album Chart.[97] "Fiesta" có chiến thắng tuần đầu tiên trên SBS The Show vào ngày 25 tháng 2.

Ngày 19 tháng 5, IZ*ONE xác nhận mini-album thứ ba Oneiric Diary sẽ được phát hành vào ngày 15 tháng 6.[98] Ngày 15 tháng 6 năm 2020, nhóm phát hành Oneiric Diary cùng với bài hát chủ đề "Secret Story of the Swan" (Hangul환상동화; RomajaHwansangdonghwa; Hán-Việt: Huyễn Tưởng Đồng Thoại), tuy nhiên video âm nhạc của bài hát lùi ngày phát hành sang trưa ngày hôm sau, ngày 16 tháng 6. Cùng ngày phát hành album, nhóm tổ chức buổi showcase trên kênh YouTube thứ hai của Mnet M2. Ngày 22 tháng 6, IZ*ONE được xác nhận một lần nữa phá kỷ lục doanh số album tuần đầu của nhóm nhạc nữ trên Hanteo lúc bấy giờ, nhóm bán được 389.334 bản trong vòng một tuần kể từ ngày phát hành.[99] Oneiric Diary ghi nhận hơn 510.000 bản được bán ra trên Gaon và nhận được chứng nhận Bạch Kim Kép vào ngày 6 tháng 8, trở thành một trong những album của nhóm nhạc nữ đầu tiên ở Hàn Quốc nhận được chứng nhận này, cùng với album More & More của Twice.[100][101]

Ngày 6 tháng 8, Stone Music Entertainment chính thức thông báo về một buổi hòa nhạc trực tuyến diễn ra trong tháng 9 và bắt đầu mở bán vé từ ngày 11 tháng 8.[102] Ngày 13 tháng 9, IZ*ONE tổ chức buổi hòa nhạc trực tuyến solo đầu tiên của nhóm mang tên Oneiric Theater, đêm diễn kéo dài 160 phút và được hỗ trợ bởi công nghệ thực tế tăng cườngthực tế mở rộng nhằm tăng trải nghiệm cho người xem.[103][104]

Ngày 2 tháng 9, IZ*ONE tiết lộ nhóm sẽ phát hành album phòng thu tiếng Nhật đầu tiên của mình, Twelve, vào ngày 21 tháng 10.[105] Ngày 7 tháng 10, IZ*ONE phát hành video âm nhạc cho bài hát chủ đề của album, "Beware" trên kênh YouTube chính thức của nhóm.[106]

Các hoạt động khácSửa đổi

Trước khi chính thức ra mắt, IZ*ONE đã làm đại sứ và hợp tác với một số nhãn hàng như trò chơi điện tử Overhit,[107] thương hiệu quần áo Salewa,[108] và đồng phục trường học Skoolooks.[109] Sang đến năm 2019, nhóm tiếp tục trở thành gương mặt đại diện cho mỹ phẩm colorgram:TOK,[110] nền tảng thương mại điện tử G-Market,[111][112] trò chơi điện tử Fever Basket,[113] Sudden Attack[114][115] và ứng dụng di động LG U+ AR. Tuy nhiên, do vướng phải lùm xùm gian lận phiếu bầu của Mnet vào cuối năm 2019, mọi hoạt động của IZ*ONE, bao gồm cả đại sứ và quảng cáo, đều bị đóng băng cho đến khi nhóm hoạt động trở lại tháng 2 năm 2020.[116] Tháng 7 năm 2020, sáu thành viên của IZ*ONE được mời làm người mẫu quảng cáo cho thương hiệu kính áp tròng Miche Bloomin’.[117] Nhóm cũng xuất hiện trên một số tạp chí như Nylon[118]Non-no.[119]

Phong cách nghệ thuậtSửa đổi

Âm nhạcSửa đổi

Kể từ khi mới ra mắt, IZ*ONE đã hợp tác với hai nhà sản xuất nổi tiếng Han Sung-soo và Akimoto Yasushi, ông Han Sung-soo chịu trách nhiệm cho sản phẩm tiếng Hàn, còn ông Akimoto Yasushi chịu trách nhiệm cho sản phẩm tiếng Nhật của nhóm.[120] Dòng nhạc chính mà IZ*ONE theo đuổi là EDM, cụ thể hơn là electropophouse.[2][9][10][11] Đĩa đơn ra mắt của nhóm, "La vie en Rose", được miêu tả như "một ca khúc electropop sôi động và uyển chuyển, hấp dẫn từ lúc bắt đầu cất lên và pha trộn giữa nhiều yếu tố". Đĩa đơn tiếp theo, "Violeta", là một ca khúc pop kết hợp cùng tropical house với phần mở đầu mang hơi hướng future bass. Sau đó là "Fiesta", một ca khúc future house sôi động với âm bass và âm synth bùng nổ. Sau khi sản xuất xong album Bloom*Iz và khép lại chuỗi tác phẩm Flower series, ông Han Sung-soo thông báo rằng mình sẽ ngừng việc sản xuất âm nhạc cho IZ*ONE kể từ tháng 4 năm 2020.[121]

Các thành viên của IZ*ONE bắt đầu tham gia vào quá trình sản xuất âm nhạc bắt đầu từ mini-album thứ hai Heart*Iz, khi Kim Min-ju và Honda Hitomi cùng tham gia viết lời cho bài hát "Really Like You", Kim Min-ju tham gia viết lời cho phiên bản tiếng Hàn của "Neko ni Naritai" và Lee Chae-yeon tham gia viết lời cho phiên bản tiếng Hàn của "Gokigen Sayonara".[122] Tiếp sau đó, trong album phòng thu đầu tiên của nhóm Bloom*Iz, Jang Won-young tham gia viết lời cho bài hát "Dreamlike", Kwon Eun-bi tham gia sáng tác và viết lời cho bài hát "Spaceship", Kim Min-ju tham gia viết lời cho bài hát "You&I" và Jo Yu-ri viết lời cho bài hát "Someday".[123] Sang đến mini-album thứ ba Oneric Diary, Honda Hitomi viết lời cho bài hát "Merry-Go-Round" cả phiên bản tiếng Hàn lẫn tiếng Nhật, Kwon Eun-bi tham gia sáng tác và các thành viên của IZ*ONE viết lời cho bài hát "With*One", và Miyawaki Sakura cùng với Yabuki Nako tham gia viết lời cho phiên bản tiếng Nhật của bài hát "Secret Story of the Swan".[124]

Chủ đề và hình tượngSửa đổi

 
Đội hình kết thúc trong video âm nhạc "La Vie en Rose"

Ba album tiếng Hàn đầu tay của IZ*ONE là Color*Iz, Heart*Iz, Bloom*Iz đều nằm trong một chuỗi tác phẩm được gọi là Flower series và mang chủ đề về hoa. Color*Iz, phát âm giống như "colorize" có nghĩa là tô màu, mang ý nghĩa mỗi thành viên đều mang một màu sắc riêng biệt. Album chọn màu đỏ, qua trung gian là bông hoa hồng để thể hiện lòng nhiệt huyết của IZ*ONE. Trong video âm nhạc của bài hát chủ đề "La Vie en Rose", các cô gái "mang trên mình bộ trang phục đỏ và trang phục da, giống như chính bài hát tạo nên hai cảm giác đối lập, đó là có sức ảnh hưởng và nữ tính mềm mại", theo Tamar Herman.[10] Nối tiếp Color*IzHeart*Iz, kết hợp giữa "heart" và "IZ*ONE". Bài hát chủ đề "Violeta" được truyền cảm hứng từ câu chuyện cổ tích "Hoàng tử Hạnh phúc" và đại diện cho hoa tím, hay những người mà nhóm muốn gửi gắm tình cảm; còn IZ*ONE là chú chim én đem viên Saphir hạnh phúc đến cho ai cần; ngoài ra bài hát còn đem đến thông điệp mỗi cá nhân đều có giá trị của riêng mình.[125][126] Những điều đó đều được thể hiện ở vũ đạo con én của "Violeta".[127] Video âm nhạc của bài hát sử dụng "hình ảnh sống động mang chủ đề thiên nhiên", với "cảnh quay technicolor đầy mộng mơ cùng hoa cỏ, lăng kính tỏa sáng, nước té lung linh, và những thiết kế đầy tính thẩm mỹ khác".[128] Khép lại Flower seriesBloom*Iz, kết hợp giữa "bloom" và "IZ*ONE", mang ý nghĩa mười hai thành viên đang ở đỉnh cao nhan sắc và đã đến lúc nở rộ.[129] Đĩa đơn chủ đề "Fiesta" như mở ra một lễ hội hoa, "lấy những hào nhoáng lấp lánh của những năm 1920 rồi cập nhật thành phiên bản năm 2020, dọn ra một bữa tiệc toát lên vẻ sang trọng và xa hoa bậc nhất khi mười hai cô gái trình diễn ca khúc sôi động và vũ đạo ấn tượng của mình."[130]

Thành viênSửa đổi

  • In đậm là nhóm trưởng.[131]
Danh sách thành viên của IZ*ONE
Tên khai sinh Ngày sinh Quốc tịch và nơi sinh Công ty quản lý Màu đại diện[132]
Latinh Hangul Kana Hanja
Kanji
[133]
Hán–Việt
Kwon Eun-bi[a] 권은비 クォン・ウンビ 權恩菲 Quyền Ân Phi 27 tháng 9, 1995 (25 tuổi)   Geumcheon, Seoul, Hàn Quốc Woollim
Miyawaki Sakura 미야와키 사쿠라 みやわきさくら 宮脇咲良 Cung Hiếp Tiếu Lương 19 tháng 3, 1998 (22 tuổi)   Kagoshima, Kagoshima, Nhật Bản Mercury[135]
(HKT48)
Kang Hye-won 강혜원 カン・ヘウォン 姜惠元 Khương Huệ Nguyên 5 tháng 7, 1999 (21 tuổi)   Yangsan, Gyeongsang Nam, Hàn Quốc 8D Creative
Choi Ye-na 최예나 チェ・イェナ 崔叡娜 Thôi Duệ Na 29 tháng 9, 1999 (21 tuổi)   Gangdong, Seoul, Hàn Quốc Yuehua
Lee Chae-yeon 이채연 イ・チェヨン 李彩讌 Lý Thái Yến 11 tháng 1, 2000 (20 tuổi)   Yongin, Gyeonggi, Hàn Quốc WM
Kim Chae-won 김채원 キム・チェウォン 金采源 Kim Thái Nguyên 1 tháng 8, 2000 (20 tuổi)   Gangnam, Seoul, Hàn Quốc Woollim
Kim Min-ju 김민주 キム・ミンジュ 金珉周 Kim Mân Châu 5 tháng 2, 2001 (19 tuổi)   Gwanak, Seoul, Hàn Quốc Urban Works
Yabuki Nako 야부키 나코 やぶきなこ 矢吹奈子 Thỉ Xuy Nại Tử 18 tháng 6, 2001 (19 tuổi)   Tokyo, Nhật Bản Mercury[135]
(HKT48)
Honda Hitomi 혼다 히토미 ほんだひとみ 本田仁美 Bản Điền Nhân Mỹ 6 tháng 10, 2001 (19 tuổi)   Tochigi, Nhật Bản DH[136]
(AKB48)
Jo Yu-ri 조유리 チョ・ユリ 曺柔理 Tào Nhu Lý 22 tháng 10, 2001 (18 tuổi)   Namgu, Busan, Hàn Quốc Stone Music
An Yu-jin 안유진 アン・ユジン 安兪真 An Du Chân 1 tháng 9, 2003 (17 tuổi)   Cheongju, Chungcheong Bắc, Hàn Quốc Starship
Jang Won-young[b] 장원영 チャン・ウォニョン 張員瑛 Trương Viên Anh 31 tháng 8, 2004 (16 tuổi)   Yongsan, Seoul, Hàn Quốc

Danh sách đĩa nhạcSửa đổi

Danh sách phimSửa đổi

Phim điện ảnhSửa đổi

Năm Tên phim Vai Tham khảo
2020 IZ*ONE: Ngước nhìn tôi Chính mình [137][138]

Chương trình thực tếSửa đổi

Năm Kênh Tên chương trình Ghi chú Tham khảo
2018 Mnet
BS Sky PerfecTV
Produce 48 Chương trình thực tế sống còn thành lập nên IZ*ONE
Mnet IZ*ONE Chu Chương trình truyền hình thực tế ra mắt [139]
2019 AbemaTV IZ*ONE's First Steps in Japan [140]
Pooq IZ*ONE City [141]
Mnet IZ*ONE Chu – Secret Friend [142]
2020 IZ*ONE Chu – Fantasy Campus [143]
U+ Idol Live IZ*ONE Eat-ing Trip [144]
Mnet IZ*ONE Chu – On:Tact [145]

Chương trình truyền hìnhSửa đổi

Năm Kênh Tên chương trình Thành viên Chú thích
2018 KBS World Hello Counselor Yena, Wonyoung Tập 386
JTBC Idol Room Cả nhóm Tập 25
MBC Every 1 Weekly Idol Tập 379
TvN Comedy Big League Hyewon, Chaeyeon, Hitomi, Yujin Tập 286
XtvN Heol Quiz Cả nhóm
SBS Baek Jong Won's Alley Restaurant Eunbi, Nako, Yuri Tập 43
JTBC Human Intelligence - The Most Perfect A.I Cả nhóm
Mwave Meet&Greet
Olleh TV Amigo TV Season 4
MBC King of Mask Singer Yujin Thí sinh (tập 181)
2019 Eunbi. Wonyoung Khách mời (tập 193)
JTBC Let's Eat Dinner Together Wonyoung Tập 121
KBS 2 Music Bank Sakura, Wonyoung, Minju MC đặc biệt
MBC Show! Music Core Chaewon
KBS Hello Counselor Eunbi, Minju Tập 407
Happy Together Wonyoung, Minju Tập 584
KBS Immortal Songs: Singing the Legend Cả nhóm Tập 400
Mnet Produce X 101 Eunbi Tập 5
Cả nhóm Tập chung kết
KBS Open Concert
MBC Idol Star Athletics Championships Chaeyeon, Hyewon, Yena, Eunbi Tham gia chạy tiếp sức 400 m
Olive Origanal Everyone's Kitchen Sakura Thành viên chính
TvN Prison Life Of Fools Yena, Yujin Thành viên chính (tập 1–4)
JTBC Idol Room Cả nhóm Tập 44
MBC Every 1 Weekly Idol Tập 402
Mwave Meet&Greet
JTBC Knowing Bros Tập 178
TvN Problemantic Men Tập 205
Mnet Mnet TMI News Tập 1
MBC Idol Star Athletics Championships Chaeyeon, Chaewon, Yena, Eunbi, Wonyoung Chaeyeon, Chaewon, Yena, Eunbi tham gia chạy tiếp sức 400 m
Wonyoung tham gia ném bóng
Netflix Busted 2 Cả nhóm Tập 8
2020 KBS Immortal Songs: Singing the Legend Tập 451
MBC King of Mask Singer Yuri Thí sinh (tập 256)
Show! Music Core Minju MC cố định
Mnet M! Countdown Eunbi, Yujin MC đặc biệt
MBC King of Mask Singer Chaeyeon, Sakura Tập 263
JTBC Just Comedy Eunbi, Yena, Chaeyeon, Minju, Nako, Yuri, Yujin, Wonyoung Tập 3
SBS Running man Wonyoung Tập 513
Today's Delivery Eunbi Tập 1
KBS Immortal Songs: Singing the Legend Cả nhóm Tập 468
JTBC Hidden Singer Eunbi, Chaewon, Minju, Yuri, Wonyoung Mùa 6–Tập 4
MBC Idol Star Athletics (E-sports) Championships Eunbi, Sakura, Hyewon, Yena, Chaewon, Yuri, Nako Tham gia 2 nội dung gồm PUBG Moblie và Kartrider Rush+

Chuyến lưu diễnSửa đổi

Chuyến lưu diễn chínhSửa đổi

  • IZ*ONE 1st Concert "Eyes On Me" (2019)
Ngày Thành phố Quốc gia Địa điểm Số người tham dự
7 tháng 6 năm 2019 Seoul[65][66]   Hàn Quốc Jamsil Indoor Stadium 18,000[146]
8 tháng 6 năm 2019
9 tháng 6 năm 2019
16 tháng 6 năm 2019 Băng Cốc[147]   Thái Lan MCC Hall, The Mall Bangkapi 4,000[148]
29 tháng 6 năm 2019 Tân Bắc[149]   Đài Loan Xinzhuang Gymnasium 4,000[150]
13 tháng 7 năm 2019   Hồng Kông AsiaWorld–Expo 5,000[151]
21 tháng 8 năm 2019 Chiba   Nhật Bản[152] Makuhari Messe 14,000[153]
1 tháng 9 năm 2019 Kobe Kobe World Memorial Hall 20,000[154][155][153]
8 tháng 9 năm 2019 Fukuoka Marine Messe Fukuoka
25 tháng 9 năm 2019 Saitama Saitama Super Arena 16,000[155]
Tổng cộng 81,000

Buổi hòa nhạc và gặp gỡ fanSửa đổi

  • COLOR*IZ Show-Con Showcase (2018)[40][41]
  • Iz*One Japan Debut Showcase 1st Single "Suki to Iwasetai" Release Commemoration Event (2019)[156]
  • IZ*ONE Japan 1st Fan Meeting (2019)[157]
  • Oneiric Diary Digital Showcase In Japan (2020)[158]
  • IZ*ONE Online Concert "Oneiric Theater" (2020)

Các buổi hòa nhạc khácSửa đổi

Năm Ngày Tên hoạt động Thành phố Quốc gia Địa điểm
2019 4 tháng 4 Immortal Songs 400th Anniversary Special Concert in Japan Chiba   Nhật Bản Makuhari Messe
28 tháng 4 SBS Inkigayo Super Concert Gwangju   Hàn Quốc Sân vận động World Cup Gwangju
17–19 tháng 5 KCON 2019 Japan Chiba   Nhật Bản Makuhari Messe
6 tháng 7 KCON 2019 USA NY New York   Hoa Kỳ Madison Square Garden
3 tháng 8 KB Kookmin Bank Liiv Concert Seoul   Hàn Quốc Olympic Gymnastics Hall
17 tháng 8 KCON 2019 USA LA Los Angeles   Hoa Kỳ Staples Center
30–31 tháng 8 Mnet Presents Aichi Impact! 2019 Kpop Festival Aichi   Nhật Bản Aichi Sky Expo
29 tháng 9 KCON 2019 Thailand Nonthaburi   Thái Lan IMPACT Arena
2020 22 tháng 6 KCON:Tact 2020 Summer Seoul   Hàn Quốc Buổi hòa nhạc trực tuyến
4 tháng 10 SBS Super On:Tact Concert
17 tháng 10 KCON:Tact Season 2

Giải thưởng và đề cửSửa đổi

Chỉ vài tháng sau khi ra mắt, IZ*ONE đã nhận được nhiều giải thưởng tân binh ở các lễ trao giải lớn như Asia Artist Awards,[159] Gaon Chart Music Awards,[160] Golden Disc Awards,[161] Mnet Asian Music Awards[162]Seoul Music Awards.[163] Ngoài ra trong suốt quá trình hoạt động, nhóm còn được đề cử và nhận được một số giải thưởng tại Genie Music Awards,[164] Japan Gold Disc Award,[165][166] MTV Europe Music Awards[167]Soribada Best K-Music Awards.[168][169]

Trên các chương trình âm nhạc hàng tuần, IZ*ONE đã giành được tổng cộng 21 chiếc cúp. Nhóm nhận được chiếc cúp tuần đầu tiên trong sự nghiệp của mình vào ngày 8 tháng 11 trên chương trình M Countdown với ca khúc "La Vie en Rose", chỉ mười ngày kể từ khi chính thức ra mắt, và lập kỷ lục trở thành nhóm nhạc nữ đạt được cột mốc này nhanh nhất.[42]

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ Trong tập thứ hai của Iz*One Chu, Kwon Eun-bi được các thành viên lựa chọn làm nhóm trưởng.[134]
  2. ^ Đứng thứ nhất chung cuộc Produce 48, Jang Won-young trở thành gương mặt đại diện của nhóm.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “AKSが国内AKB全グループから撤退…HKTなど6グループは独立採算制に”. Daily Sports (bằng tiếng Nhật). Ngày 20 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2020. 
  2. ^ a ă â Herman, Tamar (ngày 29 tháng 10 năm 2018). “Korean-Japanese Girl Group IZ*ONE Releases First Single 'La Vie en Rose'. Billboard. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2018. 
  3. ^ Kwak, Yeon-soo (ngày 30 tháng 10 năm 2018). 'Produce 48' project group IZ*ONE makes debut”. The Korea Times. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2018. 
  4. ^ “Fresh out of idol competition show, girl band Iz One debuts with 'Color*Iz'. The Korea Herald. Ngày 29 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2018. 
  5. ^ “아이즈원·프로미스나인, 오프더레코드서 한솥밥(공식)”. NAVER (bằng tiếng Hàn). Ngày 21 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2018. 
  6. ^ “[단독] 아이즈원, 플레디스 떠나 CJ+'워너원 소속사' 스윙+오프더 손잡는다”. Sports Chosun (bằng tiếng Hàn). 10 tháng 3 năm 2020. Truy cập 12 tháng 4 năm 2020. 
  7. ^ Yim, Hyun-su (ngày 2 tháng 9 năm 2018). “Meet the 12 members of IZ*ONE as 'Produce 48' wraps up”. Kpop Herald. Herald Corporation. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  8. ^ “「PRODUCE48」"丸わかりガイド"<システム・今後のスケジュール・出演メンバー等>” (bằng tiếng Nhật). Ngày 15 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  9. ^ a ă “IZ*ONE DISCOGRAPHY” (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2020. 
  10. ^ a ă â b “IZ*ONE Bloom Back on World Albums & World Digital Song Sales Charts With Third Album” (bằng tiếng Anh). Ngày 27 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2020. 
  11. ^ a ă “Mãn nhãn với thế giới cổ tích trong MV “Secret Story of the Swan” của IZ*ONE”. Ngày 16 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2020. 
  12. ^ Benjamin, Jeff (ngày 8 tháng 11 năm 2018). “IZ*ONE Debut in Top 10 of World Albums & World Digital Song Sales Charts”. Billboard. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2019. 
  13. ^ Benjamin, Jeff (ngày 8 tháng 11 năm 2018). “IZ*ONE Debut in Top 10 of World Albums & World Digital Song Sales Charts”. Billboard. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2019. 
  14. ^ a ă “ハイスタ、欅坂46が3プラチナ キスマイ、IZ*ONE、STU48、NMB48がプラチナ 2月度レコ協認定”. Oricon News (bằng tiếng Nhật). Ngày 8 tháng 3 năm 2019. Bản gốc lưu trữ 10 tháng 8 năm 2019. Truy cập 20 tháng 7 năm 2019. 
  15. ^ “PRODUCE 48” (bằng tiếng Hàn). CJ ENM. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2018. 
  16. ^ '프로듀스48' 장원영·사쿠라에 이채연까지..12人 반전의 최종순위[종합]” (bằng tiếng Hàn). Ngày 31 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  17. ^ Jang, Woo-young (ngày 31 tháng 8 năm 2018). '프로듀스48', 데뷔 그룹명은 '아이즈원'. SpoTV News (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2020. 
  18. ^ “[이슈Q] '프로듀스48' 아이즈원의 '이모저모', 이름 뜻부터 장원영부터 이채연까지 韓 연습생 소속사는?”. SportsQ (bằng tiếng Hàn). Ngày 6 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2020. 
  19. ^ Ý nghĩa tên gọi IZ*ONE:
  20. ^ HKT48宮脇咲良の"魂が震える"名言集!常に最前線で戦ってきたパイオニアの覚悟とは!? [HKT48 Sakura Miyawaki's "soul trembling" words of wisdom! What is the resolution of this pioneer who has always fought on the forefront!?]. Nifty News (bằng tiếng Nhật). Nifty Corporation. Ngày 7 tháng 9 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2018. 
  21. ^ “WHAT'S NEW -NUTS PRODUCTION-” (bằng tiếng Nhật). Nuts Production. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2018. 
  22. ^ HKT矢吹奈子、映画「タッチ」南役にメンバー驚き [HKT's Nako Yabuki played Minami in the film "Touch", surprises members]. nikkansports.com (bằng tiếng Nhật). Nikkan Sports. Ngày 21 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2018. 
  23. ^ 矢吹奈子のCM出演情報 [Nako Yabuki's CM appearance information]. Oricon Style (bằng tiếng Nhật). Oricon. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2018. 
  24. ^ HKT48、地元博多で「手をつなぎながら」公演スタート [HKT48 begin start performing at their local Hakata theatre with "Te o Tsunagi nagara" stage]. Natalie (bằng tiếng Nhật). Natasha, Inc. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2018. 
  25. ^ HKT48ひまわり組の初日公演で3期生サプライズお披露目 [Third generation members make a surprise announcement at the HKT48 Sunflower Team opening day performance]. Natalie (bằng tiếng Nhật). Natasha, Inc. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2018. 
  26. ^ チーム8の始動メンバーは九州と関東の混成チーム! [Team 8's first members are a mixed team from Kyushu and Kanto]. エンタメNEXT (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2018. 
  27. ^ “권은비, 걸그룹 ‘예아’로 활동 당시 모습 보니 ‘핑크색 머리 눈길’”. MTN (bằng tiếng Hàn). Ngày 16 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  28. ^ “K팝3→식스틴→프듀48, 아이즈원 12등 이채연의 감동 스토리[스타와치]”. Newsen (bằng tiếng Hàn). Ngày 1 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  29. ^ “[아이즈원 매력 탐구①] 1위 장원영부터 6위 야부키 나코까지…"국프 사랑 내꺼야". MBN (bằng tiếng Hàn). Ngày 1 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  30. ^ “[TV캡처] '프로듀스 48' 김민주 "아이콘 MV·'위대한 유혹자' 출연". Stoo Asiae (bằng tiếng Hàn). Ngày 15 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2018. 
  31. ^ “김민주, '위대한 유혹자'서 첫 드라마 데뷔...문가영 아역”. tenasia (bằng tiếng Hàn). Ngày 13 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2018. 
  32. ^ Lee, Byul (ngày 29 tháng 8 năm 2017). “청순한 '여대생' 같은 아큐브 광고 모델의 놀라운 정체”. Insight (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2018. 
  33. ^ Kim, So-yeon (ngày 11 tháng 4 năm 2018). '프로듀스48' 출연하는 '올해 16살' 아큐브 모델 안유진”. Insight (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2018. 
  34. ^ “The Groups IZ*ONE Kang HyeWon Almost Debuted In Before Produce 48”. Kpopmap (bằng tiếng english). Ngày 4 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2018. 
  35. ^ “‘프로듀스48’ PD "투표는 한국에서만…최종 12인 국적 구분 NO". Hankook Ilbo (bằng tiếng Hàn). Ngày 11 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  36. ^ “[★밤TView]'프듀48' 장원영, 1등으로 아이즈원 데뷔..12등 이채연”. Star News (bằng tiếng Hàn). Ngày 31 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  37. ^ “[단독] "국민 픽" 아이즈원, 10월 29일 데뷔 확정…본격 韓日 걸그룹” (bằng tiếng Hàn). Ngày 4 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2018. 
  38. ^ “[단독]프듀48 '아이즈원', 첫 일정 'AKB48 프로듀서와 상견례'...4일 일본行”. Sports Seoul (bằng tiếng Hàn). Ngày 2 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2018. 
  39. ^ “아이즈원, 첫 미니 앨범 ‘컬러아이즈’ 오피셜 포토 공개…‘채연-민주-채원-히토미’”. Top Star News (bằng tiếng Hàn). Ngày 14 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2018. 
  40. ^ a ă Ahn, Yun-ji (ngày 16 tháng 10 năm 2018). “아이즈원 측 "29일 쇼콘으로 데뷔 확정"(공식입장)”. MBN (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2018. 
  41. ^ a ă “아이즈원, 데뷔 쇼콘 1분만에 전석 매진..'동시접속자 15만 육박'[공식입장]”. OSEN (bằng tiếng Hàn). Ngày 19 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2018. 
  42. ^ a ă “아이즈원, '엠카' 1위로 데뷔 첫 트로피..트와이스·케이윌 컴백 [종합]”. OSEN (bằng tiếng Hàn). Ngày 8 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2018. 
  43. ^ "역시 아이즈원"...하루만에 역대 걸그룹 데뷔앨범 초동 신기록 달성”. OSEN (bằng tiếng Hàn). Ngày 30 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2018. 
  44. ^ “아이즈원 데뷔곡 멜론 9위...주요 차트 상위권 안착”. EDaily (bằng tiếng Hàn). Ngày 30 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2018. 
  45. ^ “아이즈원, 데뷔 그룹 신기록... '라비앙로즈' MV 24시간 455만뷰”. Seoul Newspaper (bằng tiếng Hàn). Ngày 30 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2018. 
  46. ^ Color*Iz charting peak (see #2)”. Gaon Chart (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2018. 
  47. ^ Doanh số tích lũy của Color*Iz:
  48. ^ “Color*Iz Platinum Certification”. Gaon Music Chart. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2020. 
  49. ^ '최고의 루키' 아이즈원, 신인상 5관왕 쾌거…"모두 위즈원의 사랑 덕분". iMBC (bằng tiếng Hàn). Ngày 1 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2019. 
  50. ^ Herman, Tamar (29 tháng 12 năm 2018). “10 Best New K-Pop Acts of 2018”. Billboard. Truy cập 13 tháng 5 năm 2020. 
  51. ^ “아이즈원, 내년 2월 日 데뷔…글로벌 행보 시작”. Hankook Ilbo (bằng tiếng Hàn). Ngày 6 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2019. 
  52. ^ “IZ*ONE、日本デビューショーケースが大盛況!「世界の方に愛されるIZ*ONEでいたい」(M-ON!Press(エムオンプレス)) – …”. archive.is. Ngày 3 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2019. 
  53. ^ “YouTube Stats of IZ*ONE (아이즈원) – '好きと言わせたい (Suki to Iwasetai)' MV”. kworb.net. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2019. 
  54. ^ “IZ*ONEが合算シングルでも1位【オリコンランキング】”. Oricon News (bằng tiếng Nhật). Ngày 3 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2020. 
  55. ^ “【ビルボード】Kis-My-Ft2「君を大好きだ」が3冠で総合首位獲得 総合2位のIZ*ONE「好きと言わせたい」とわずか約250ポイント差”. Billboard Japan (bằng tiếng Nhật). Ngày 13 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2020. 
  56. ^ "글로벌 꽃길은 계속" 아이즈원, 韓日서 예고한 2번째 신드롬(종합)”. YTN (bằng tiếng Hàn). Ngày 1 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2019. 
  57. ^ Park, Jin-young (ngày 29 tháng 3 năm 2019). “아이즈원, 미니 2집 선주문 판매량 20만 돌파..대세 그룹 입증 [공식입장]”. OSEN (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2019 – qua Naver. 
  58. ^ Kim, Sun-woo (ngày 8 tháng 4 năm 2019). “아이즈원, 역대 걸그룹 앨범 초동 신기록…13만장 돌파”. Sports Seoul (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2020. 
  59. ^ Kim, Kyung-hee (ngày 11 tháng 4 năm 2019). “아이즈원(IZ*ONE), '하트아이즈(HEART*IZ)'으로 日 오리콘 해외 앨범 차트 1위”. Chosun Ilbo (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2019. 
  60. ^ Heart*Iz's Platinum certification”. Gaon Music Chart. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2020. 
  61. ^ a ă Benjamin, Jeff (ngày 15 tháng 4 năm 2019). “IZ*ONE Hits New Peak on World Albums Chart With 'HEART*IZ'. Billboard. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2020. 
  62. ^ "Violeta" on Gaon Digital Chart”. Gaon Chart (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2020. 
  63. ^ "Violeta" on Billboard K-pop 100”. Billboard. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2020. 
  64. ^ Jeong, An-ji (ngày 10 tháng 4 năm 2019). '더쇼' 아이즈원, 컴백 9일 만에 '비올레타' 1위…깜찍 제비 분장 공약”. Sports Chosun (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2019. 
  65. ^ a ă “아이즈원, 6월 데뷔 첫 단독 콘서트 개최..5월 티켓 오픈 [공식입장]”. OSEN (bằng tiếng Hàn). Ngày 25 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2019. 
  66. ^ a ă “아이즈원, 데뷔 첫 콘서트 선예매 전석 매진..역대급 티켓 전쟁 [공식]”. OSEN (bằng tiếng Hàn). Ngày 8 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2019. 
  67. ^ Jo, Sung-woon (ngày 10 tháng 6 năm 2019). “[종합] "또 다른 기적" 아이즈원 첫 단독 콘서트, 눈물의 마무리”. Sports DongA (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2020. 
  68. ^ “IZ*ONE、シングル『Buenos Aires』MV公開”. Billboard Japan (bằng tiếng Nhật). Ngày 13 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2020. 
  69. ^ "Bueno Aires" on Oricon Singles Chart” (bằng tiếng Japanese). Oricon. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2019. 
  70. ^ "Buenos Aires" on Billboard Japan Hot 100”. Billboard Japan (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2019. 
  71. ^ a ă “ゴールドディスク認定 一般社団法人 日本レコード協会” (bằng tiếng Nhật). Recording Industry Association of Japan. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2019.  Note: To retrieve all album certifications, 1) type in IZ*ONE in the box "アーティスト", 2) click 検索
  72. ^ “IZ*ONE 日本3rdシングル「Vampire」WIZ*ONE盤CD発売記念 「個別ハイタッチ会」「個別メッセージカードお渡し会」「個別サイン会」開催のご案内 | News”. Iz*One Japan Official Site. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2020. 
  73. ^ "Vampire" on Billboard Japan Hot 100”. Billboard Japan (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2019. 
  74. ^ “IZ*ONE、シングル2作連続1位 3作連続初週売上20万枚超え【オリコンランキング】”. Oricon News (bằng tiếng Nhật). Ngày 1 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2020. 
  75. ^ "Vampire" on Billboard K-pop Hot 100”. Ngày 21 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2020. 
  76. ^ “IZ*ONE、上半期新女王に手応え 宮脇咲良「まだまだ達成したいことがある」”. Oricon News (bằng tiếng Nhật). Ngày 22 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2020. 
  77. ^ “【オリコン上半期】IZ*ONE、新人部門総売上額1位”. Oricon News (bằng tiếng Nhật). Ngày 20 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2020. 
  78. ^ “[문화광장] 한일 합작 걸그룹 ‘아이즈원’ 일본 오리콘차트 1위”. KBS News (bằng tiếng Hàn). Ngày 28 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2020. 
  79. ^ “아이즈원, 11월 11일 첫 정규 앨범 '블룸아이즈'로 컴백...트레일러 영상 공개”. Naver (bằng tiếng Hàn). Ngày 30 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2019. 
  80. ^ “Mnet 측 "아이즈원 컴백 연기 확정, 물의 일으켜 진심으로 사과"(공식입장)”. Naver (bằng tiếng Hàn). Ngày 7 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2019. 
  81. ^ a ă “Girl band IZ*ONE postpones release of new album amid vote-rigging scandal”. The Korea Herald. Ngày 7 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2019. 
  82. ^ Kang, Jin-goo (ngày 5 tháng 12 năm 2019). “[단독] 아이즈원ㆍ엑스원 멤버 전원 시청자 투표 전 결정”. news.naver.com (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2020. 
  83. ^ “tvN "'놀토' 9일 결방, 하이라이트 방송"..아이즈원 논란에 休(공식)”. Star News (bằng tiếng Hàn). Ngày 7 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2019. 
  84. ^ “[공식입장]MBC 측 "'마리텔2' 아이즈원, 안유진 포함 출연분 통편집 확정"(종합)”. Sports Chosun (bằng tiếng Hàn). Ngày 7 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2019. 
  85. ^ “아이즈원, 컴백쇼도 결국 취소…엠넷 재팬 발표 "대단히 죄송" 사과 [공식]”. My Daily (bằng tiếng Hàn). Ngày 7 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2019. 
  86. ^ “[공식입장]JTBC "아이즈원, '아이돌룸' 녹화 이미 완료…방송 여부 미정". Sports Chosun (bằng tiếng Hàn). Ngày 7 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2019. 
  87. ^ “아이즈원, 11일 컴백 쇼케이스 결국 취소(공식)”. Star News (bằng tiếng Hàn). Ngày 7 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2019. 
  88. ^ “IZ*ONEコンサートフィルム中止、関係者が逮捕”. Nikkan Sports (bằng tiếng Nhật). Ngày 8 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2019. 
  89. ^ “IZ*ONE、日本での各種イベントが延期に”. Oricon (bằng tiếng Nhật). Ngày 28 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2019. 
  90. ^ “IZ*ONE、ファンクラブサイト更新&新規受付を一時休止 投票不正操作疑惑の余波”. Oricon (bằng tiếng Nhật). Ngày 4 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2019. 
  91. ^ “[단독] 아이즈원, 이르면 1월 내 활동 재개…이미 합의 완료”. SpoTVNews (bằng tiếng Hàn). Ngày 6 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2020 – qua Naver. 
  92. ^ “[단독] 아이즈원, 활동 재개 합의 완료”. TenAsia (bằng tiếng Hàn). Ngày 6 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2020 – qua Naver. 
  93. ^ “아이즈원, 오늘(17일) 컴백…정규 1집 앨범 발매”. Asiae (bằng tiếng Hàn). Ngày 17 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2020 – qua Naver. 
  94. ^ “아이즈원, 오늘(17일) 정규 '블룸아이즈' 발매…컴백쇼 개최”. YTN (bằng tiếng Hàn). Ngày 17 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2020 – qua Naver. 
  95. ^ “2020년 02월 Album Chart”. Gaon Music Chart. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2020. 
  96. ^ “Bloom*Iz's Platinum Certification”. Gaon Music Chart. Ngày 9 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2020. 
  97. ^ Yonhap (ngày 26 tháng 2 năm 2020). “IZ*ONE's 'Bloom*Iz' tops Oricon weekly overseas album chart”. The Korea Herald (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2020. 
  98. ^ “아이즈원, 6월 15일 컴백 확정…준비된 콘텐츠 순차적으로 공개 [공식]”. Xportsnews (bằng tiếng Hàn). Ngày 18 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2020 – qua Naver. 
  99. ^ “걸그룹 아이즈원, ‘환상일기’ 38만9000장 판매 기록…역대 걸그룹 최고 기록”. Munhwa Ilbo (bằng tiếng Hàn). Ngày 22 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2020 – qua Naver. 
  100. ^ “2020년 06월 Album Chart”. Gaon Music Chart. Ngày 6 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2020. 
  101. ^ “Oneiric Diary's Double Platinum Certification”. Gaon Music Chart. Ngày 6 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2020. 
  102. ^ Ahn, Jin-yong (ngày 6 tháng 8 năm 2020). “아이즈원(IZ*ONE), 9월 온라인 콘서트 ‘ONEIRIC THEATER’ 개최… 11일 티켓 오픈”. Naver (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2020. 
  103. ^ “아이즈원, 온라인 콘서트 ’ONEIRIC THEATER’”. Naver News (bằng tiếng Hàn). Ngày 14 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2020. 
  104. ^ “IZ*ONEが生バンド従え新たな顔見せた配信ライブ、意外な選曲続出のユニットコーナーも”. Natalie (bằng tiếng Nhật). Ngày 15 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2020. 
  105. ^ “IZ*ONE日本1stアルバム「Twelve」 リリース決定”. Universal Music Japan (bằng tiếng Nhật). Ngày 2 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2020. 
  106. ^ “ガオガオダンスに注目!IZ*ONE(アイズワン)日本1stアルバム「Twelve」タイトル曲「Beware」MV公開”. K-Plaza (bằng tiếng Nhật). Ngày 7 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2020. 
  107. ^ “IZ*ONE put on their trainee uniforms once again for mobile game 'OVERHIT' CF shooting + interview”. Allkpop. Beansss. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2018. 
  108. ^ “IZ*ONE x SALEWA winter coat collaboration excites fans worldwide”. Neo-Tokyo 2099. Ngày 24 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2018. 
  109. ^ “아이즈원, 광고 모델로 화려한 나들이 '에쁜 애 옆에 또 예쁜 애'. Sports Chosun (bằng tiếng Hàn). Ngày 15 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2018. 
  110. ^ “올리브영, ‘아이즈원’과 K-뷰티 브랜드 ‘컬러그램톡’ 론칭”. Cos'in Korea. Ngày 16 tháng 4 năm 2019. Truy cập 12 tháng 9 năm 2018. 
  111. ^ “G마켓, 새 모델로 걸그룹 '아이즈원' 발탁”. Yonhap News. Ngày 4 tháng 1 năm 2019. Truy cập 12 tháng 9 năm 2018. 
  112. ^ “G마켓, 아이즈원 모델로 `G마켓은 됨` 캠페인 광고 온에어”. Ngày 19 tháng 6 năm 2019. Truy cập 12 tháng 9 năm 2018. 
  113. ^ “룽투, '피버 파스켓' 홍보모델로 '아이즈원' 선정”. Ngày 27 tháng 2 năm 2019. Truy cập 12 tháng 9 năm 2018. 
  114. ^ “넥슨 ‘서든어택’, ‘통합시즌 : 서든패스’ 업데이트…‘아이즈원’ 신규 캐릭터로 등장”. Ngày 1 tháng 8 năm 2019. Truy cập 12 tháng 9 năm 2018. 
  115. ^ “여성 아이돌 '아이즈원'이 서든어택 캐릭터로 나온다”. Ngày 1 tháng 8 năm 2019. Truy cập 12 tháng 9 năm 2018. 
  116. ^ ““아이즈원, 하룻밤새 방송·광고·영화계에서 '손절' 당했다”” (bằng tiếng Hàn). Ngày 8 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2020. 
  117. ^ “ミッシュブルーミン カラーコンタクトレンズのブランドミューズにIZ*ONEのメンバーから6名が決定!” (bằng tiếng Nhật). 31 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2018. 
  118. ^ “아이즈원, 데뷔 첫 패션지 표지모델 장식 ‘위즈원 궁금증에 답해요’”. Sports DongA (bằng tiếng Hàn). Ngày 16 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2020. 
  119. ^ “아이즈원, 데뷔 전 日 '논노' 화보 참여...독점 취재”. Sports DongA (bằng tiếng Hàn). Ngày 27 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2018. 
  120. ^ “"'우익 그룹' 아이즈원 방송 출연 그만" 여론 악화…청와대 국민청원까지”. Sports Today (bằng tiếng Hàn). Ngày 1 tháng 11 năm 2018. Truy cập Ngày 14 tháng 9 năm 2018. 
  121. ^ “플레디스 한성수 대표 "아이즈원 프로듀싱 내달 마무리"(종합)”. Yonhap News (bằng tiếng Hàn). Ngày 10 tháng 3 năm 2020. Truy cập Ngày 14 tháng 9 năm 2018. 
  122. ^ “IZ*ONE returns with new flower-themed album”. The Korea Herald (bằng tiếng Anh). Ngày 2 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 14 tháng 9 năm 2018. 
  123. ^ “아이즈원 권은비·조유리 자작곡에 장원영·김민주 작사 참여”. JoongAng Ilbo (bằng tiếng Hàn). Ngày 4 tháng 11 năm 2019. Truy cập Ngày 14 tháng 9 năm 2018. 
  124. ^ “‘15일 컴백’ 아이즈원, ‘Oneiric Diary’ 타이틀곡은 ‘환상동화’..멤버들 수록곡 작사[공식]”. Osen (bằng tiếng Hàn). Ngày 8 tháng 6 năm 2020. Truy cập Ngày 14 tháng 9 năm 2018. 
  125. ^ “IZ*ONE Calls You Their “Violeta””. The Kraze (bằng tiếng Anh). Ngày 3 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 14 tháng 9 năm 2018. 
  126. ^ “IZone shows special love for fans through 'Violeta'. Osen (bằng tiếng Anh). Ngày 2 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 14 tháng 9 năm 2018. 
  127. ^ '컴백' 아이즈원, 12색으로 피워낼 #비올레타 #콘서트 #소통 [종합]”. Xports news (bằng tiếng Hàn). Ngày 1 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 14 tháng 9 năm 2018. 
  128. ^ “IZ*ONE Return to the K-Pop Scene With Vibrant 'Violeta' Video: Watch”. Billboard (bằng tiếng Anh). Ngày 1 tháng 4 năm 2019. Truy cập Ngày 14 tháng 9 năm 2018. 
  129. ^ “아이즈원, 컴백 확정…정규 1집 커버 이미지 공개”. Kikmin Ilbo (bằng tiếng Hàn). Ngày 3 tháng 2 năm 2020. Truy cập Ngày 14 tháng 9 năm 2018. 
  130. ^ “IZ*ONE Return Following Hiatus with Celebratory 'Fiesta': Watch the Music Video”. Billboard (bằng tiếng Anh). Ngày 17 tháng 2 năm 2020. Truy cập Ngày 14 tháng 9 năm 2018. 
  131. ^ Official_IZONE (19 tháng 12 năm 2018). “大家好!我是权恩妃。我是IZ*ONE组合的队长。”. Sina Weibo (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2020. 
  132. ^ “Release of the Official Fan Club logo for WIZ*ONE”. 组合官方微博 (bằng tiếng Trung). 5 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2020. 
  133. ^ “[2018 MAMA]明星倒计时D-9之#IZONE#” (bằng tiếng Trung). Ngày 1 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2019. 
  134. ^ '아이즈원 츄' 권은비, 리더 몰카에 눈물...안유진X이채연 메소드 연기?”. MK Sports. Ngày 2 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2018. 
  135. ^ a ă “HKT48 運営会社独立のお知らせ” (bằng tiếng Nhật). Ngày 1 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020. 
  136. ^ “Corporate Profile” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020. 
  137. ^ Kim, Hyun-Jung (ngày 19 tháng 5 năm 2020). “[단독] '6월 15일 컴백' 아이즈원, 뮤직비디오 촬영 완료 '기대감↑'. X Sports News (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2020. 
  138. ^ Lee, Jung-bum (ngày 21 tháng 10 năm 2019). '아이즈 온 미', 예고편이 공개되는 순간 모두가 주목해 #11월극장으로가즈원 #아이즈원”. X Sports News (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2019. 
  139. ^ Hwang, Ji-young (ngày 12 tháng 10 năm 2018). “아이즈원 리얼리티 '아이즈원 츄', 25일 Mnet 첫 방송”. JoongAng Ilbo (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2019. 
  140. ^ Lee, Da-gyeom (ngày 8 tháng 1 năm 2019). “아이즈원, 첫 단독 웹예능 '입덕스쿨 아이즈원시티' 출격”. Maekyung (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2019 – qua Naver. 
  141. ^ Jeong, An-ji (ngày 8 tháng 1 năm 2019). “아이즈원, 첫 단독 웹예능 출격… 입덕스쿨 아이즈원시티”. Sports Chosun (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2019 – qua Naver. 
  142. ^ Kim, Ye-eun (ngày 15 tháng 3 năm 2019). '아이즈원츄2' 티저, 교복 입은 러블리 아이즈원”. Newsen (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2019 – qua Naver. 
  143. ^ Hwang, Ji-young (ngày 12 tháng 5 năm 2020). “아이즈원 리얼리티 '아이즈원츄3' 6월 편성..여름 컴백”. Ilgan Sports (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2020 – qua Daum. 
  144. ^ “U+아이돌라이브, 아이즈원 속초 '먹방' 여행 단독공개”. iNews24 (bằng tiếng Hàn). Ngày 26 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2020. 
  145. ^ Hwang, Mi-hyun (ngày 15 tháng 9 năm 2020). “엠넷 '아이즈원츄', 23일 첫방송 확정…온택트 시대 리얼 일상”. News1 (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2020. 
  146. ^ “아이즈원, 1만 8천여 팬과 함께한 첫 단독 콘서트 ‘아이즈 온 미’”. TenAsia (bằng tiếng Hàn). Ngày 10 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2019. 
  147. ^ “12 สาว IZONE แจกความสดใสก่อนเริ่มคอนเสิร์ตครั้งแรกในไทย 16 มิ.ย.นี้ (คลิป)”. Matichon (bằng tiếng Thái). Ngày 15 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2019. 
  148. ^ “아이즈원(IZ*ONE), 데뷔 첫 해외 콘서트 성료…태국까지 들썩인 ‘글로벌 파워’”. Hankyung (bằng tiếng Hàn). Ngày 17 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2019. 
  149. ^ “IZ*ONE真的要來了 6月29日相約台北”. Yahoo! News (bằng tiếng Trung). Ngày 25 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2019. 
  150. ^ “IZone successfully completes first concert in Taiwan”. OSEN on VLive. Ngày 30 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2019. 
  151. ^ “아이즈원, 데뷔 첫 홍콩 콘서트 성료..야경보다 빛난 ‘명품공연’”. OSEN (bằng tiếng Hàn). Ngày 15 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2019. 
  152. ^ “IZ*ONE 1ST CONCERT [EYES ON ME] IN JAPAN日程決定&チケット先行発売日程のご案内”. Izone Official (bằng tiếng Nhật). Ngày 1 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2019. 
  153. ^ a ă “IZ*ONE、日本初ツアー開幕 ダンス&トークで1万4000人魅了”. Oricon (bằng tiếng Nhật). Ngày 22 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2019. 
  154. ^ “아이즈원, 日투어 성료..5만 관객 열광 '전석 매진'. Naver (bằng tiếng Hàn). Ngày 26 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2019. 
  155. ^ a ă “IZ*ONE 初ツアーファイナルで涙 宮脇咲良&矢吹奈子が客席の指原に感謝”. Oricon (bằng tiếng Nhật). Ngày 25 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2019. 
  156. ^ “IZ*ONE、"グローバルアイドル"への大きな可能性 日本デビューショーケースイベントを観て”. Real Sound (bằng tiếng Nhật). Ngày 26 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2019. 
  157. ^ IZ*ONE、武道館で2DAYSファンミーティング. 音楽ナタリー (bằng tiếng Nhật). Ngày 10 tháng 4 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2019. 
  158. ^ 【ONEIRIC DIARY DIGITAL SHOWCASE IN JAPAN】配信日程決定&チケット発売日程のご案内. IZ*ONE JAPAN OFFICIAL SITE. Ngày 27 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2020. 
  159. ^
  160. ^ Lee, Eun-ho (ngày 23 tháng 1 năm 2019). '가온차트뮤직어워드' 방탄소년단·아이콘 3관왕…허전한 가수석은 아쉬워”. Kuki News (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2019. 
  161. ^ “(종합)방탄소년단, 음반 대상·본상·인기상 싹쓸이...'4관왕 기염'[2019 골든디스크]”. Sports MK (bằng tiếng Hàn). Ngày 6 tháng 1 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2019 – qua Naver. 
  162. ^ *Sung, Mi-kyung (ngày 2 tháng 11 năm 2018). “방탄소년단·워너원·트와이스·아이즈원, '2018 MAMA' 뜬다..초호화 라인업 확정[공식입장]”. OSEN (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2018 – qua Naver. 
  163. ^ Herman, Tamar (ngày 16 tháng 1 năm 2019). “BTS Wins Top Prize at 28th Seoul Music Awards”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2019. 
  164. ^ “[MGMA] 방탄소년단, 대상 포함 6관왕 폭주...트와이스 '2관왕' (종합)”. Maekyung (bằng tiếng Hàn). Ngày 1 tháng 8 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2019. 
  165. ^ “第34回日本ゴールドディスク大賞”. Japan Gold Disc Award (bằng tiếng Nhật). Recording Industry Association of Japan. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2020. 
  166. ^ “아이즈원, 日 골드 디스크 2관왕 달성.."응원해준 팬 여러분 덕분". Naver. Ngày 27 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2020. 
  167. ^ “Ateez named Best Korean Act at MTV EMAs 2019 one year after their debut”. Metro UK (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2020. 
  168. ^ '2019 SOBA' 박지훈vs방탄소년단, 트와이스vs마마무 남·녀 인기상 1위 경쟁 '치열'. Maekyung (bằng tiếng Hàn). Ngày 11 tháng 7 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2019. 
  169. ^ 'Winners Of 2020 Soribada Best K-Music Awards'. J.K (bằng tiếng Hàn). Ngày 13 tháng 8 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2020. 

Liên kết ngoàiSửa đổi