Khác biệt giữa các bản “Ancol”

n
không có tóm lược sửa đổi
n (Etanol là một loại ancol, phân biệt?)
n
:''Bài này viết về rượu nhìn theo phương diện hóa học như là một nhóm chất hữu cơ. Trong Wikipedia tiếng Việt còn có bài viết về [[thức uống có cồn|các loại đồ uống có chứa cồn]] và [[etanol|cồn (etanol)]].''
 
[[Tập tin:Alcohol general.svg|250px|nhỏ|phải|Nhóm chức Hydroxylhydroxyl (-OH) trong phân tử ancol.]]
'''Ancol''', còn gọi là '''rượu''', trong [[hóa học]] là một [[hợp chất hữu cơ]] chứa nhóm -[[Hydroxyl|OH]] gắn vào một nguyên tử [[cacbon]] mà nó đến lượt mình lại gắn với một nguyên tử [[hydro]] hay cacbon khác.
 
;Theo chức ancol:
:Có ancol đơn chức và ancol đa chức
::Ví dụ: CH<sub>3</sub>-CH<sub>2</sub>-OH (êtanoletanol) là ancol một lần ancol còn OH-CH<sub>2</sub>-CH<sub>2</sub>-OH (êtilenetylen glycol) là ancol hai lần ancol.
 
Lưu ý là một số tài liệu cho rằng [[phenol]] C<sub>6</sub>H<sub>5</sub>OH là một dạng ancol, tuy nhiên phênol có một số tính chất hóa học khác hẳn tính chất hóa học chung của ancol và một số nhà khoa học đã xếp phenol và các [[dãy đồng đẳng]] của nó vào nhóm phenol do các chất này thể hiện tính axítaxit rõ rệt. Ví dụ phenol có phản ứng với chất [[bazơ]] như NaOH còn ancol thì không có phản ứng như thế.
 
== Tính chất vật lý và hóa học ==
 
Nhóm hiđrôxylhydroxyl làm cho phân tử ancol [[chất phân cực|phân cực]]. Nhóm này có thể tạo ra những liên kết [[hiđrô|hydro]] với nhau hoặc với chất khác. Hai xu hướng hòa tan đối chọi nhau trong các ancol là: xu hướng của nhóm -OH phân cực tăng tính hòa tan trong nước và xu hướng của chuỗi cacbon ngăn cản điều này. Vì vậy, mêtanolmetanol, êtanoletanolprôpanolpropanol dễ hòa tan trong nước vì nhóm hiđrôxylhydroxyl chiếm ưu thế. Butanol hòa tan vừa phải trong nước do sự cân bằng của hai xu hướng. Pentanol và các butanol mạch nhánh hầu như không hòa tan trong nước do sự thắng thế của chuỗi cácbon. Vì lực liên kết hóa học cao trong liên kết của ancol nên chúng có nhiệt độ bốc cháy cao. Vì liên kết hiđrôhydro, ancol có nhiệt độ sôi cao hơn so với hiđrôcácbon và ête tương ứng. Mọi ancol đơn giản đều hòa tan trong các dung môi hữu cơ.
 
ancolAncol còn được coi là những dung môi. Chúng có thể mất [[proton|prôton]] H+ trong nhóm hiđrôxylhydroxyl và vì vậy chúng có tính [[axít]]axit rất yếu: yếu hơn [[nước]] (ngoại trừ mêtanolmetanol), nhưng mạnh hơn [[amoniac|amôniắc]] (NH<sub>4</sub>OH hay NH<sub>3</sub>) hay [[axêtylenacetylen]] (C<sub>2</sub>H<sub>2</sub>).
 
Một phản ứng hóa học quan trọng của ancol là [[phản ứng thế nuclêôphinnucleophin]] (''nucleophilic substitution''), trong đó một nhóm nuclêôphin liên kết với nguyên tử cácbon được thay thế bởi một nhóm khác.
 
:Ví dụ: CH<sub>3</sub>-Br + OH<sup>-</sup> -> CH3-OH + Br<sup>-</sup> (trong môi trường kiềm)
Đây là một trong các phương pháp tổng hợp ancol. Hay:
 
:CH<sub>3</sub>-OH + Br<sup>-</sup> -> CH3-Br + OH<sup>-</sup> (trong môi trường axítaxit)
 
ancol bản thân nó là những chất [[nuclêôphin]]nucleophin, vì vậy chúng có thể phản ứng với nhau trong một số điều kiện nhất định về nhiệt độ, áp suất, môi trường v.v để tạo thành [[ete]] và nước. Chúng cũng có thể phản ứng với các axítaxit [[hydroxy]] (hay axítaxit [[halogen|halôgen]]) để sản xuất hợp chất [[este]], trong đó este của các axítaxit hữu cơ là quan trọng nhất. Với nhiệt độ cao và môi trường axítaxit (ví dụ H<sub>2</sub>SO<sub>4</sub>), ancol có thể mất nước để tạo thành các [[anken|alken]]. Ngược lại, việc thêm nước vào alken với xúc tác axítaxit thì tạo thành ancol nhưng ít được sử dụng để tổng hợp ancol do tạo thành một hỗn hợp. Một số công nghệ kỹ thuật khác để chuyển alken thành ancol có độ tin cậy cao hơn.
 
== Độc tính ==
;[[Etanol]]
 
Các hình thức đồ uống chứa cồn được sử dụng từ rất lâu trong lịch sử loài người vì nhiều nguyên nhân như hội hè, ăn kiêng, y tế, tôn giáo v.v. Việc sử dụng một lượng vừa phải êtanoletanol thì không có hại hoặc có thể có lợi cho cơ thể nhưng một lượng lớn ancol có thể dẫn đến tình trạng [[say ancol]] hay [[ngộ độc ancol cấp tính]] và các tình trạng nguy hiểm cho sức khỏe như: nôn ọe, khó thở do thiếu ôxioxy, lạnh, đột tử hoặc tình trạng [[nghiện ancol]] đẫn đến tổn thương gan, não nếu sử dụng thường xuyên.
 
Các loại ancol khác độc hơn êtanoletanol rất nhiều, một phần vì chúng tốn nhiều thời gian hơn để phân hủy cũng như trong quá trình phân hủy chúng tạo ra nhiều chất độc cho cơ thể. MêtanolMetanol (ancol gỗ) được ôxioxy hóa bởi các enzimenzyme khử hiđrôhydro trong gan tạo ra phoócmanđêhitfomandehit ([[phoóc môn]]formol) có thể gây mù hoặc tử vong.
 
Uống nhiều ancol rất có hại với sức khoẻ, người nghiện ancol có thể mắc bệnh suy sinh dưỡng, giảm thị lực...
;[[Methanol|Metanol]]
 
[[Methanol|Metanol]] rất độc, chỉ một lượng nhỏ xâm nhập vào cơ thể cũng có thể gây mù lòa, lượng lớn hơn có thể gây tử vong. Một điều thú vị là để ngăn chặn ngộ độc do dùng nhầm mêtanolmetanol thì người ta cho người bị ngộ độc dùng etanol. ÊtanolEtanol sẽ liên kết với các [[enzym|enzimenzyme]] khử hiđrôhydro và ngăn không cho mêtanolmetanol liên kết với các enzimenzyme này
 
== Sử dụng ==
Ancol có công dụng trong việc sản xuất đồ uống (êtanoletanol). '''Lưu ý là phần lớn các loại ancol không thể sử dụng như đồ uống vì độc tính (toxicitytoxycity) của nó''' hay làm nguồn nhiên liệu (mêtanolmetanol) hoặc dung môi hữu cơ cũng như nguyên liệu cho các sản phẩm khác trong công nghiệp ([[nước hoa]], [[xà phòng]] v.v).
 
'''Metanol''' chủ yếu được dùng để sản xuất Andehit Fomic nguyên liệu cho công nghiệp chất dẻo.
 
== Sản xuất ==
Phần lớn các loại ancol được sản xuất bằng phương pháp hóa học từ các chất hữu cơ sẵn có trong tự nhiên như [[dầu mỏ]], [[hơi đốt]] hoặc [[than (định hướng)|than]]. Trong công nghiệp sản xuất đồ uống người ta sử dụng phương pháp khác: [[lên men]] hoa quả hoặc ngũ cốc để tạo ra đồ uống có chứa cồn (êtanoletanol). Ngoài ra, trong phòng thí nghiệm, nếu chỉ cần một lượng nhỏ, ta có nhiều cách để tạo như:
Ngoài ra, trong phòng thí nghiệm, nếu chỉ cần một lượng nhỏ, ta có nhiều cách để tạo như:
 
=== Các phương pháp chung cho ancol no đơn chức ===
* Tạo metanol: CO + 2H<sub>2</sub> → CH<sub>3</sub>OH (300-400&nbsp;°C và 250-300 at)
*: hoặc dùng: 2 CH<sub>4</sub> + O<sub>2</sub> → 2 CH<sub>3</sub>OH (200&nbsp;°C, 100 at)
* Thủy phân dầu mỡ động vật tạo glixeringlycerol.
 
== Cách đặt tên ==
=== Hệ thống hóa tên gọi ===
 
Tên chung cho các loại ancol thường được lấy theo tên của [[ankyl]] và thêm từ ancol vào trước cộng với hậu tố íc vào sau. Ví dụ ancol mêtylícmetylíc và ancol êtylíc. Đối với các loại ancol phức tạp, tên gọi chung phụ thuộc vào vị trí của nhóm chức ancol trong mạch cácbon mà gọi là ancol bậc nhất, bậc hai hay bậc ba.
 
Trong hệ thống tên gọi của [[IUPAC]], thì thêm hậu tố ol vào tên của ankan. Ví dụ mêtanmetan --> mêtanolmetanol. Trong trường hợp cần thiết thì vị trí của nhóm hiđrôxylhydroxyl được thêm vào trước hoặc sau tên gọi. Ví dụ 1-prôpanolpropanol hay prôpanolpropanol-1. Một cách đặt tên khác là thêm tiền tố hiđrôxyhydroxy vào tên của ankan: 1-hiđrôxyprôpanhydroxypropan, 2-hiđrôxyprôpanhydroxypropan.
 
ancolAncol bậc ba thì thêm tiền tố 3 trước tên của ankyl + íc.
 
:Ví dụ: (CH<sub>3</sub>)<sub>3</sub>COH là ancol 3-butylíc, hay 2-mêtylmetyl 2-prôpanolpropanol theo quy tắc của IUPAC, chỉ ra rằng cả hai nhóm mêtylmetyl và nhóm hiđrôxylhydroxyl cùng gắn với nguyên tử ở giữa (thứ hai) của chuỗi prôpanpropan.
 
ancolAncol với hai nhóm chức hiđrôxylhydroxyl được gọi chung là "glycol", ví dụ HO-CH<sub>2</sub>CH<sub>2</sub>-OH là êtylen glycol. Tên gọi của nó theo IUPAC là 1,2-êtanđioletandiol, "đioldiol" chỉ rằng có hai nhóm hiđrôxylhydroxyl, và 1,2 chỉ vị trí liên kết của chúng. Các glycol tương tự (với cả hai nhóm hiđrôxylhydroxyl liên kết với một nguyên tử cácbon), như 1,1-êtanđioletandiol, nói chung là không ổn định. Đối với ancol có ba hoặc bốn nhóm chức ancol, sử dụng hậu tố "triol" and "tetraol".
 
{| class="wikitable" border="1" cellpadding="2" cellspacing="0" style="width: 600px; border: 1px solid #aaaaaa; border-collapse: collapse; white-space: nowrap; text-align: center"
13.977

lần sửa đổi