Mở trình đơn chính

Các thay đổi

n
Adele phát hành album phòng thu thứ hai, ''[[21 (album của Adele)|21]],'' vào ngày 24 tháng 1 năm 2011 tại Anh và vào ngày 22 tháng 2 tại Hoa Kỳ.<ref name=billboard21>{{Chú thích web|url=http://www.billboard.com/articles/news/952006/adele-to-release-21-sophomore-album-in-february|tiêu đề=Adele to Release '21' Sophomore Album in February |work=Billboard |ngày=ngày 2 tháng 11 năm 2010 |ngày truy cập=ngày 8 tháng 5 năm 2011}}</ref><ref name="SecondAlbum">{{Chú thích web|url=http://www.digitalspy.co.uk/music/news/a285526/adele-announces-second-album-details.html|tiêu đề=Adele announces second album details|họ 1=Levine|tên 1=Nick|ngày=ngày 2 tháng 11 năm 2010|nhà xuất bản=[[Digital Spy]]|ngày truy cập=ngày 2 tháng 11 năm 2010| url lưu trữ= https://web.archive.org/web/20101105024406/http://www.digitalspy.co.uk/music/news/a285526/adele-announces-second-album-details.html| ngày lưu trữ=ngày 5 tháng 11 năm 2010 | url hỏng= no}}</ref> Adele tiết lộ rằng album lấy cảm hứng từ cuộc tình đã lỡ với người bạn trai cũ.<ref name=VanMeter/> Âm điệu của album được miêu tả là [[nhạc đồng quê]] cổ điển và đương đại cùng folk. Sự thay đổi này so với album đầu tiên đến từ lần Adele tình cờ nghe thấy người lái xe buýt bật nhạc đương đại từ [[Nashville]] khi đang lưu diễn tại miền Nam nước Mỹ. Tên của album cũng chỉ ra sự chuyển mình mà cô trải qua đã diễn ra hai năm trước khi album phát hành.<ref name="SecondAlbum"/> Adele nói trên tạp chí ''[[Spin (tạp chí)|Spin]]:'' "Tôi thấy điều đó thật thú vị vì tôi chưa bao giờ lớn lên cùng [thứ âm nhạc ấy]."<ref name="Spin21"/> ''21'' đạt vị trí số một tại 26 quốc gia, trong đó có Anh và Hoa Kỳ.<ref name="Independent2012">{{chú thích báo|author=Nick Clark |url=http://www.independent.co.uk/arts-entertainment/music/news/adele-surges-past-the-dark-side-of-the-moon-on-inexorable-voyage-to-stardom-7578154.html |title=Adele surges past The Dark Side of the Moon on inexorable voyage to stardom |work=[[The Independent]] |date=ngày 20 tháng 3 năm 2012 |accessdate=ngày 29 tháng 6 năm 2012 |location=Luân Đôn}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=http://www.chartstats.com/release.php?release=49903 |tiêu đề=ChartArchive – Adele – 21 |nhà xuất bản=Chartstats.com |ngày=ngày 25 tháng 6 năm 2012 |ngày truy cập=ngày 29 tháng 6 năm 2012}}</ref><ref>{{Chú thích web|họ 1=Kaufman |tên 1=Gil |url=http://www.mtv.com/news/articles/1660010/lupe-fiasco-lasers-billboard.jhtml |tiêu đề=Lupe Fiasco's Lasers Blasts To Top Of Billboard 200 |nhà xuất bản=MTV |ngày=ngày 16 tháng 3 năm 2011 |ngày truy cập=ngày 8 tháng 5 năm 2011| url lưu trữ= https://web.archive.org/web/20110514012938/http://www.mtv.com/news/articles/1660010/lupe-fiasco-lasers-billboard.jhtml| ngày lưu trữ=ngày 14 tháng 5 năm 2011 | url hỏng= no}}</ref>
 
Màn trình diễn đầy cảm xúc bài hát "[[Someone Like You (bài hát của Adele)|Someone Like You]]" tại [[BRIT Awards 2011]] vào ngày 15 tháng 2 năm 2011 góp phần đưa bài hát vươn lên vị trí số một tại Vương quốc Anh.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.mtv.co.uk/news/adele/259080-adele-number-1-single-album-someone-like-you-brits |tiêu đề=Adele's 'Someone Like You' Tops UK Singles Chart &#124; Adele &#124; News &#124; MTV UK |nhà xuất bản=Mtv.co.uk |ngày=ngày 21 tháng 2 năm 2011 |ngày truy cập=ngày 29 tháng 6 năm 2012}}</ref> Album đầu tay ''19'' trở lại trên [[UK Albums Chart]] cùng ''21'' trong khi hai đĩa đơn "[[Rolling in the Deep]]" và "Someone Like You" có mặt trong top 5 [[UK Singles Chart]], đưa Adele trở thành nghệ sĩ còn sống đầu tiên có hai bản thu trong top năm Official Singles Chart và Official Albums Chart cùng một lúc kể từ thời của [[The Beatles]] năm 1964.<ref>{{chú thích báo|author=Sean Michaels |url=http://www.guardian.co.uk/music/2011/feb/22/adele-matches-beatles-chart-success |title=Adele matches the Beatles in latest chart success |work=[[The Guardian]] |location=Luân Đôn |date=22 February
2011 |accessdate=ngày 29 tháng 6 năm 2012}}</ref> Cả hai bài hát đều dẫn đầu tại nhiều thị trường và phá vỡ nhiều kỉ lục về doanh thu. Sau màn biểu diễn "Someone Like You" tại [[Giải Video âm nhạc của MTV|MTV Video Music Awards]] [[Giải Video âm nhạc của MTV 2011|2011]], bài hát trở thành đĩa đơn quán quân thứ hai của Adele trên [[Billboard Hot 100|''Billboard'' Hot 100]].<ref>{{Chú thích web|url=http://www.billboard.com/articles/news/467566/adeles-someone-like-you-soars-to-no-1-on-hot-100 |tiêu đề=Adele's 'Someone Like You' Soars To No. 1 On Hot 100 |work=Billboard |ngày=ngày 14 tháng 9 năm 2009 |ngày truy cập=ngày 29 tháng 6 năm 2012}}</ref> Cho tới tháng 12 năm 2011, ''21'' đã bán ra 3,4 triệu bản tại Anh Quốc, trở thành album bán chạy nhất thế kỷ XXI, vượt qua ''[[Back to Black]]'' của [[Amy Winehouse]],<ref name=Jones>{{Chú thích web|họ 1=Jones|tên 1=Alan|tiêu đề=Official Album Chart analysis: Olly Murs becomes 10th X-Factor No.1|url=http://www.musicweek.com/story.asp?sectioncode=1&storycode=1047728&c=1|work=[[Music Week]]|ngày truy cập=ngày 4 tháng 12 năm 2011|ngày=ngày 4 tháng 12 năm 2011}}</ref><ref>{{Chú thích web|tiêu đề=Adele's album is century's biggest|url=http://music.uk.msn.com/news/adeles-album-is-centurys-biggest|work=[[MSN#MSN.com|MSN.co.uk]]|ngày truy cập=ngày 5 tháng 12 năm 2011|ngày=ngày 5 tháng 12 năm 2011}}</ref> còn Adele trở thành nghệ sĩ đầu tiên bán được ba triệu album tại Anh Quốc trong một năm.<ref>{{Chú thích web|họ 1=Smirke |tên 1=Richard |url=http://www.billboard.biz/bbbiz/record-labels/adele-makes-u-k-chart-history-first-artist-1005340982.story |tiêu đề=Adele Makes U.K. Chart History: First Artist To Sell 3 Million Albums In Same Year |nhà xuất bản=Billboard.biz |ngày=ngày 7 tháng 9 năm 2011 |ngày truy cập=ngày 29 tháng 6 năm 2012}}</ref><ref>{{Chú thích web | ngày =ngày 7 tháng 9 năm 2011 | url=http://www.officialcharts.com/press/adele-breaks-official-charts-history-with-3-million-album-sales/ | tiêu đề = 07/09/2011 – Adele breaks Official Charts history with 3 million album sales | nhà xuất bản = Official Charts Company | ngày truy cập =ngày 22 tháng 6 năm 2012}}</ref> "[[Set Fire to the Rain]]" trở thành đĩa đơn quán quân thứ ba của Adele trên bảng xếp hạng ''Billboard'' Hot 100, giúp Adele trở thành nghệ sĩ đầu tiên có album vừa giữ vị trí quán quân trên ''Billboard'' 200 cùng lúc với ba đĩa đơn quán quân.<ref name="CapitalFM">{{Chú thích web|url=http://www.capitalfm.com/artists/adele/news/billboard-history/ |tiêu đề=Adele Makes Billboard History After 'Set Fire To The Rain' Tops US Chart |nhà xuất bản=Capital FM |ngày=ngày 27 tháng 1 năm 2012 |ngày truy cập=ngày 29 tháng 6 năm 2012}}</ref>
 
Để quảng bá album, Adele khởi động chuyến lưu diễn "[[Adele Live]]" với đợt diễn tại Bắc Mỹ cháy vé hoàn toàn.<ref>{{Chú thích web |url=http://www.allheadlinenews.com/articles/7020819787?Adele%20Announces%20European%20Tour%20In%20Support%20Of%20%2221%22 |tiêu đề=Adele Announces European Tour In Support Of "21"|tác giả 1=Jones, Anthony |ngày=ngày 15 tháng 12 năm 2010 |work=[[All Headline News]] |ngày truy cập=ngày 8 tháng 2 năm 2011}}</ref> Vào tháng 10 năm 2011, Adele buộc phải hủy hai chuyến lưu diễn vì lý do xuất huyết dây thanh quản. Cô thông báo rằng mình cần phải nghỉ ngơi một thời gian dài để tránh tổn thương dài hạn tới giọng hát của cô.<ref>{{Chú thích web|tác giả 1=Benjy Eisen |url=http://www.rollingstone.com/music/news/adele-cancels-u-s-tour-due-to-illness-20111004 |tiêu đề=Adele Cancels U.S. Tour Due to Illness |work=[[Rolling Stone]] |ngày=ngày 4 tháng 10 năm 2011 |ngày truy cập=ngày 29 tháng 6 năm 2012}}</ref> Trong tuần đầu tiên của tháng 11 năm 2011, [[Steven M. Zeitels]], giám đốc Trung tâm Phẫu thuật Thanh quản và Phục hồi giọng nói của [[Bệnh viện Tổng hợp Massachusetts]], [[Boston]] đã thực hiện ca phẫu thuật hiển vi laser cắt bỏ một khối u lành khỏi dây thanh quản của Adele.<ref>{{Citation | last = Colapinto | first = John | title = Giving Voice: A Surgeon Pioneers Methods to Help Singers Sing Again | journal = The New Yorker | volume = | pages = 48 to 57 |date = ngày 4 tháng 3 năm 2013 | url =http://www.newyorker.com}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=http://www.capitalfm.com/artists/adele/news/throat-operation-was-success/ |tiêu đề=Adele: 'Throat Operation Was a Success' |nhà xuất bản=Capital FM |ngày=ngày 14 tháng 11 năm 2011 |ngày truy cập=ngày 29 tháng 6 năm 2012}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=http://boston.cbslocal.com/2011/11/07/mgh-adele-to-make-full-recovery-after-vocal-surgery/ |tiêu đề=MGH: Adele To Make Full Recovery After Vocal Surgery « CBS Boston |nhà xuất bản=Boston.cbslocal.com |ngày=ngày 7 tháng 11 năm 2011 |ngày truy cập=ngày 29 tháng 6 năm 2012}}</ref>
 
Một bản thu cho chuyến lưu diễn của cô mang tên ''[[Live at the Royal Albert Hall (video của Adele)|Live at the Royal Albert Hall]]'' được phát hành vào tháng 11 năm 2011, ra mắt ở Hoa Kỳ tại vị trí số một với 96.000 bản được tiêu thụ. Đây là lượng doanh thu cao nhất cho một [[DVD]] trong vòng bốn năm trở lại đây, và trở thành DVD âm nhạc bán chạy nhất năm 2011.<ref>{{Chú thích web|tác giả 1=|url=http://abcnewsradioonline.com/music-news/2011/12/8/adeles-new-dvd-live-at-the-royal-albert-hall-is-best-selling.html |tiêu đề=Adele's New DVD "Live at the Royal Albert Hall" Is Best-Selling Music Video of 2011 – Music News – ABC News Radio |nhà xuất bản=Abcnewsradioonline.com |ngày=ngày 8 tháng 12 năm 2011 |ngày truy cập=ngày 29 tháng 6 năm 2012}}</ref> Adele là nghệ sĩ đầu tiên trong lịch sử [[Nielsen SoundScan]] có album quán quân của năm (''[[21 (album của Adele)|21]]''), đĩa đơn quán quân của năm ("[[Rolling in the Deep]]") và video âm nhạc số một của năm.<ref name=yahoomusic>{{Chú thích web| url=http://music.yahoo.com/blogs/chart-watch/week-ending-dec-4-2011-albums-headed-triple-164834637.html|tiêu đề= Week Ending Dec. 4, 2011. Albums: Headed for a Triple Crown|nhà xuất bản=[[Yahoo! Music]]}}</ref> Tại [[Giải thưởng Âm nhạc Mỹ|American Music Awards]] [[Giải thưởng Âm nhạc Mỹ 2011|2011]] vào ngày 20 tháng 11, Adele chiến thắng ba giải bao gồm Nghệ sĩ Nữ Pop/Rock Yêu thích, Nghệ sĩ Adult Contemporary Yêu thích, và Album Pop/Rock Yêu thích cho ''21.''<ref name="AMA">{{chú thích báo|url=http://www.bbc.co.uk/news/entertainment-arts-15815917 |title=Adele and Taylor Swift rule at American Music Awards |publisher=[[BBC]] |date=ngày 21 tháng 11 năm 2011 |accessdate=ngày 29 tháng 6 năm 2012}}</ref> Vào ngày 9 tháng 12, ''Billboard'' chọn Adele là Nghệ sĩ của năm, Album ''Billboard'' 200 của năm (''21'') và Bài hát ''Billboard'' Hot 100 của năm ("Rolling in the Deep"), trở thành người phụ nữ đầu tiên đứng đầu cả ba hạng mục.<ref name="KCaulfield">{{Chú thích web|tác giả 1=Keith Caulfield |url=http://www.billboard.com/articles/news/42119/the-year-in-pop-adele-makes-history |tiêu đề=The Year in Pop: Adele Makes History |work=Billboard |ngày=ngày 9 tháng 12 năm 2011 |ngày truy cập=ngày 29 tháng 6 năm 2012}}</ref><ref>{{chú thích báo|last=Sinha |first=Piya |url=http://www.reuters.com/article/2011/12/10/us-adele-billboard-idUSTRE7B81T320111210 |title=Adele makes Billboard history, named 2011 top artist |publisher=[[Reuters]] |date= ngày 10 tháng 12 năm 2011|accessdate=ngày 29 tháng 6 năm 2012}}</ref>
 
Sau cuộc phẫu thuật thanh quản, Adele trở lại trên sân khấu vào tháng 2 năm 2012 tại [[Giải Grammy lần thứ 54]].<ref>{{Chú thích web|url=http://www.bbc.co.uk/newsbeat/16809108 |tiêu đề=Adele to make comeback at Grammys after throat surgery |work=[[Newsbeat]] |nhà xuất bản=BBC |ngày=ngày 31 tháng 1 năm 2012 |ngày truy cập=ngày 29 tháng 6 năm 2012}}</ref> Cô giành chiến thắng ở cả sáu hạng mục được đề cử, trở thành nghệ sĩ nữ thứ hai trong lịch sử giải Grammy sau [[Beyoncé]] giành chiến thắng lớn đến vậy trong một đêm.<ref>{{chú thích báo|title=Grammy Awards 2012: Adele wins six awards tying with Beyoncé for most trophies won in one night|url=http://www.telegraph.co.uk/culture/music/music-news/9078334/Grammy-Awards-2012-Adele-wins-six-awards-tying-with-Beyonce-for-most-trophies-won-in-one-night.html|work=[[The Daily Telegraph]] |accessdate=ngày 13 tháng 2 năm 2012|date=ngày 13 tháng 2 năm 2012|location=Luân Đôn}}</ref> Sau thành công này, ''21'' đạt lượng tăng doanh số bán ra hàng tuần cao nhất sau chiến thắng tại giải Grammy kể từ khi Nielsen SoundScan bắt đầu lưu trữ dữ liệu vào năm 1991.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.billboard.com/articles/news/504474/adeles-21-earns-biggest-sales-gain-in-soundscan-history |tiêu đề=Adele's '21' Earns Biggest Sales Gain In SoundScan History |work=Billboard |ngày=ngày 14 tháng 9 năm 2009 |ngày truy cập=ngày 29 tháng 6 năm 2012}}</ref><ref name="PostGrammyRecord">{{Chú thích web|họ 1=Kaufman |tên 1=Gil |url=http://www.mtv.com/news/articles/1679672/adele-breaks-record-sales-grammy.jhtml |tiêu đề=Adele Breaks Record By Selling 730,000 After Grammys – Music, Celebrity, Artist News |nhà xuất bản=MTV.com |ngày=ngày 22 tháng 2 năm 2012 |ngày truy cập=ngày 29 tháng 6 năm 2012}}</ref>