Khác biệt giữa các bản “Andrey Mitrofanovich Kizhevatov”

→‎Cuộc đời và sự nghiệp: AlphamaEditor, Executed time: 00:00:02.9070213 using AWB
(→‎Cuộc đời và sự nghiệp: AlphamaEditor, Executed time: 00:00:02.9070213 using AWB)
 
 
Năm 1939, Kizhevatov được thăng cấp thiếu úy, và vào tháng 9 cùng năm đó, ông được bổ nhiệm làm quyền chỉ huy trưởng đồn biên phòng tại Brest. Cùng trong năm này, ông gia nhập [[Đảng Cộng sản Liên Xô]]. Vào ngày 17 tháng 7 năm 1940, ông được bổ nhiệm làm trưởng đồn biên phòng thứ 9 của phân khu biên giới Brest số 17 đóng tại Pháo đài Brest. Ngày 25 tháng 2 năm 1941, ông được thăng cấp trung úy.
[[FileTập tin:A sign with the name of Hero of the Soviet Union, Lieutenant Andrew Kizhevatova on graves participants Brest Fortress Square ceremonies.JPG|thumb|trái|300px|Tấm biển có tên Kizhevatov tại Quảng trường tưởng niệm những người tham gia bảo vệ Pháo đài Brest.]]
Ngày 22 tháng 6 năm 1941, Trung úy Kizhevatov chỉ huy bảo vệ tiền đồn và bị thương lần đầu. Vào ngày 23 tháng 6, khi chỉ còn lại đống đổ nát từ tòa nhà tiền đồn, ông và các binh sĩ của mình di chuyển đến khu căn cứ của Trung đoàn bộ binh 333, nằm gần doanh trại, nơi có một toán chiến đấu dưới sự chỉ huy của Thượng úy [[Aleksandr Yefremovich Potapov|Aleksandr Potapov]]. Những ngày sau đó, ông tiếp tục cùng với Potapov chỉ huy việc phòng thủ doanh trại của Trung đoàn 333 và Cổng Terespol. Vào ngày 29 tháng 6, khi đạn gần hết, toán quyết định thực hiện một nỗ lực tuyệt vọng cuối cùng để phá vây. Potapov dẫn đầu nhóm đột kích, trong khi 17 binh sĩ bị thương do Kizhevatov chỉ huy đã bị thương nặng yểm trợ từ trong pháo đài. Trung úy Kizhevatov tử trận trong trận chiến sau đó. Cuộc đột phá vây cũng kết thúc trong thất bại - hầu hết những người tham gia đều chết hoặc bị bắt.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.warheroes.ru/hero/hero.asp?Hero_id=2440|tựa đề=Кижеватов Андрей Митрофанович|tác giả=Kargapoltsev|tên=Sergey|website=www.warheroes.ru|ngôn ngữ=ru|ngày truy cập=2019-06-03}}</ref>
 
Mùa thu năm 1942, cả gia đình Kizhevatov bị quân Đức xử bắn tại làng Velikorit thuộc Quận Malorita: mẹ, vợ và các con của ông - Nyura 15 tuổi, Vanya 11 tuổi và Galya hai tuổi.<ref>{{Citechú thích web |url=http://www.fire-of-war.ru/Brest-fortress/citadelnames_families.htm |title=Семьи комначсостава Брестского гарнизона 1941 г., расстрелянные в годы оккупации на территории Брестской области. |accessdate = ngày 9 tháng 5 năm 2011-05-09 |archiveurl=https://web.archive.org/web/20110515101630/http://www.fire-of-war.ru/Brest-fortress/citadelnames_families.htm |archivedate =2011-05- ngày 15 tháng 5 năm 2011 |deadlink=yes }}</ref>.
 
==Vinh danh==