Mở trình đơn chính

Đồng (đơn vị tiền cổ)

đơn vị tiền tệ cổ Việt Nam
Đồng tiền cuối cùng của triều đại phong kiến Việt Nam với bốn chữ "Bảo Đại Thông Bảo" (保大通寶)
Bảo Đại (1925-1945); mặt kia ghi "thập văn" tức mệnh giá 10 đồng

Đồng (chữ Nho: ) là đơn vị tiền đồng cổ Việt Nam của người Việt dùng trong thời gian 1000 năm từ thế kỷ 10 đến thập niên 1940. Đồng cũng là đơn vị nhỏ nhất trong cách đếm.

Đơn vị tiền cổ (trước năm 1945)
Tên gọi đơn vị Chữ Nho Giá trị tại Việt Nam Giá trị tại Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Hoa,
đồng 文 Văn - -
Xu (thời Pháp thuộc) 分 Phân 10 đồng 10 đồng
1 tiền 陌 Mạch 36-60 đồng 100 đồng
1 quan 貫 Quán, 元 Nguyên 360-600 đồng 1000 đồng

Đồng hình tròn, dẹp, đúc bằng đồng hoặc đôi khi bằng quý kim hay hợp kim. Ở giữa khoét lỗ hình vuông. Một mặt thường đúc chữ với niên hiệu vị vua trị vì.

Ngoài chức năng kinh tếtiền tệ dùng trong việc mua bán, trao đổi hàng hóa, việc đúc tiền đồng còn là biểu hiện chủ quyền của triều đình.

Loại tiền tương tự cũng lưu hành ở Trung Hoa (621-1924), Triều Tiên (1633-1892) và Nhật Bản (1336-1870).

Lịch sửSửa đổi

Nhà Đinh (968-981) là triều đại người Việt đầu tiên đúc tiền với niên hiệu Thái Bình.

Từ thời nhà Mạc năm 1528 tiền đồng lại chia thành hai hạng: tiền gián và tiền quý.[1] Tiền gián mỏng và xấu hơn nên giá trị thấp hơn, chủ yếu chỉ dùng trong dân gian buôn bán với nhau còn trao đổi với triều đình như việc đóng thuế thân hay các lệ phí thì phải nộp bằng tiền quý.

Đến thời Pháp thuộc thì loại tiền cổ dần bị đồng bạc Đông Dương thay thế và những đơn vị quan, tiền cũng bỏ dần.

Chú thíchSửa đổi