Đỗ Hoằng Văn

Đỗ Hoằng Văn (chữ Hán: 杜弘文, ? – 427) là quan viên nhà Lưu Tống trong lịch sử Trung Quốc.

Cuộc đờiSửa đổi

Hoằng Văn có sanh quán ở huyện Chu Diên, quận Giao Chỉ [a]. Nhà họ Đỗ tự nhận là 1 nhánh của sĩ tộc họ Đỗ vào các đời HánNgụyTấn, nên các sử liệu đều chép nguyên quán của Hoằng Văn là Kinh Triệu [b]. Ông kỵ là Đỗ Nguyên, được làm đến Ninh Phố [c] thái thú nhà Tây Tấn [d], dời nhà đến Giao Chỉ. [1] [2]

Ông nội là Giao Châu thứ sử Đỗ Viện nhà Đông Tấn (cai trị 399 – 410). Cha là Đỗ Tuệ Độ, được kế tục làm Giao Châu thứ sử (cai trị 410 – 423). [1] [2]

Hoằng Văn là con trưởng của Tuệ Độ, ban đầu được làm Viên ngoại Tán kỵ thị lang. [1] Khi Lưu Dụ tiến hành bắc phạt Hậu Tần (416), Tuệ Độ tự ủy nhiệm Hoằng Văn làm Ưng dương tướng quân, Lưu dân đốc hộ, cấp 3000 binh, sai lên bắc tham gia đại quân. Hoằng Văn đi đến Quảng Châu thì Lưu Dụ đã tiêu diệt Hậu Tần, bèn quay về. Sau đó Tuệ Độ tự ủy nhiệm Hoằng Văn làm Hành Cửu Chân thái thú. [1] [2]

Tuệ Độ mất (423), triều đình lấy Hoằng Văn làm Chấn uy tướng quân, Giao Châu thứ sử, tập tước Long Biên huyện hầu. Hoằng Văn giống cha, cũng nhờ khoan hòa mà được lòng người. [1] [2]

Năm Nguyên Gia thứ 4 (427) thời Lưu Tống Văn đế, triều đình lấy Đình úy Vương Huy [e] làm Giao Châu thứ sử, trưng Hoằng Văn về triều. [1] [2] [3] Trước đó, Lâm Ấp vương Phạm Dương Mại xâm phạm Nhật Nam, Cửu Chân. Hoằng Văn dựng Nha kỳ, muốn đánh dẹp, thì nghe tin mình bị thay thế, bèn dừng lại. [4] Đúng lúc ấy Hoằng Văn phát bệnh nặng, cố chấp ngồi xe lên đường. Bạn bè thân thích thấy Hoằng Văn yếu ớt, khuyên ông dâng biểu xin chờ khỏi bệnh. Hoằng Văn nói: “Đến đời tôi nhận hoàng ân, là ba đời nắm cờ tiết, luôn muốn xả thần vì triều đình, để báo ơn đã nhận. Huống hồ đã được mệnh triệu, mà có thể nghỉ ngơi ru. Lỡ như trôi nổi, đây là mệnh vậy!” [1] [2] [3]

Mẹ Hoằng Văn họ Nguyễn, [2] tuổi đã cao, thấy con ôm bệnh lên đường, không chịu được ly biệt, nên cùng đi. Đến Quảng Châu, Hoằng Văn mất. Vào lúc lâm chung, Hoằng Văn sai em trai là Đỗ Hoằng Du lên kinh, triều đình rất thương xót. [1] [2] [3]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a b c d e f g h Tống thư quyển 92, liệt truyện 52, Lương lại truyện: Đỗ Tuệ Độ
  2. ^ a b c d e f g h Nam sử quyển 70, liệt truyện 60, Tuần lại truyện: Đỗ Tuệ Độ
  3. ^ a b c Tư trị thông giám quyển 120, Tống kỷ 2
  4. ^ Lương thư quyển 54, liệt truyện 48, Chư Di truyện: Lâm Ấp

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ Nay là vùng giáp ranh giữa các tỉnh Bắc Ninh, Hải DươngHưng Yên, Việt Nam.
  2. ^ Nay thuộc địa cấp thị Tây An, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc.
  3. ^ Nay huyện cấp thị Hoành Châu, địa cấp thị Nam Ninh, Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc.
  4. ^ An Nam chí lược quyển 15, Nhân vật, Những người làm quan ở Trung Quốc, Đỗ Viện, Đại Việt sử ký toàn thư quyển 4, Ngoại Kỷ 4: Thuộc Tấn – Tống – Tề – Lương đều chép “Hợp Phố thái thú”; Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Tiền biên quyển 3, Tống thư, tlđd, Nam sử, tlđd đều chép “Ninh Phố thái thú”.
  5. ^ Tống thư, tlđd và Nam sử, tlđd đều chép là “Vương Huy”. Thông giám, tlđd chép là “Vương Huy Chi”.