Thiền sư Ứng Am Đàm Hoa (zh: 應菴曇華, 1103-1163), là Thiền sư Trung Quốc, thuộc dòng Hổ Khâu, Dương Kỳ phái, Tông Lâm Tế. Sư là môn đệ đắc pháp duy nhất của Thiền sư Hổ Khâu Thiện Long, dưới sư có đệ tử nối pháp là Thiền sư Mật Am Hàm Kiệt.

Cơ duyênSửa đổi

Thiền sư Trung Quốc

Bồ-đề-đạt-ma đến Huệ Năng

Ngưu Đầu Thiền

Nhánh Thanh Nguyên Hành Tư

Nhánh Nam Nhạc Hoài Nhượng

Lâm Tế tông

Hoàng Long phái

Dương Kì phái

Tào Động tông

Quy Ngưỡng tông

Vân Môn tông

Pháp Nhãn tông

Khác


họ Giang, quê ở huyện Kì Châu, tỉnh Hồ Bắc, cũng có thuyết nói sư người Hoàng mai, tỉnh Hồ bắc. Năm 17 tuổi, sư xuống tóc xuất gia ở chùa Đông thiền, năm 18 tuổi thụ giới cụ túc.

Đầu tiên, sư đến học thiền nơi Thiền sư Thủy Nam Thành Toại, sau đó đến tham học khắp nhiều vị thiện tri thức, rồi đến yết kiến và tham vấn nơi Thiền sư Viên ngộ Khắc cần, và chịu sự dạy bảo nghiêm khắc của ngài.

Sau Thiền sư Viên Ngộ bảo sư đến y chỉ tu hành với Thiền sư Hổ Khâu Thiệu Long ở Chương Giáo, đến khi Thiện Long dời đến Hổ Khâu sư cũng đi theo thị giả. Qua nửa năm tham học nơi Thiền sư Hổ Khâu, sự được đại ngộ và ấn chứng, nối pháp của Tông Lâm Tế.

Sư đến yết kiến Thiền sư Thử Am được phân tòa thuyết pháp ở chùa Liên Vân. Sau sư đến giáo hóa ở chùa Diệu Nghiêm và từng trụ trì tại nhiều ngôi chùa nổi tiếng.

Tương truyền khi sư trụ trì ở núi Quy Tông, Thiền sư Đại Huệ Tông Cảo, nhân vật kiệt xuất trong Tông Lâm Tế, khi ấy đang ở tại Mai Dương. Có vị tăng đem lời dạy chúng của sư đến Đại Huệ. Đại Huệ xem qua rất hài lòngi. Sau lại dùng kệ gửi để khen ngợi sư:

                       Ngồi đoạn kim luân đệ nhất phong,

                       Ngàn yêu trăm quái thảy tiềm tung,

                       Năm về lại được chân tiêu tức,

                       Thưa bảo Dương Kỳ chính mạch thông.

Ngày giỗ của Thiền sư Hổ Khâu Thiện Long, Sư cầm hương rồi niêm:''Bình sanh không khởi chụp được cái vô ý trí này, lão Hòa thượng đem hết tài năng nghĩ suy chẳng đến. Từ đây cổi hết binh khí, tùy phần mặc áo ăn cơm, hai mươi năm rồi ngồi trên giường gỗ, treo đầu dê bán thịt chó, biết kia có băng cứ chắc. Tuy nhiên, mỗi năm một lượt đốt hương nến, thiên cổ khiến người hận thêm sâu''.

Sư dạy chúng tham Thiền rất tận tâm, người thời bấy giờ gọi chổ giáo hóa của Thiền sư Đại Huệ với chỗ của sư ở là hai cửa cam lồ. Sư thường nhắc nhở dạy chúng rằng: ''Hàng Tăng sĩ mang giày cỏ trụ viện, cớ sao như con rắn mến hang vậy''. Ý của sư là muốn người tu học phải nên siêng năng tin tấn tu hành, không nên chấp tâm ham thích nơi ở mà quên đi việc lớn sinh tử đại sự.

Cuối đời, sư đến trụ trì tại Thiên Đồng Cảnh Đức Thiền Tự, núi Thái Bạch, Ninh Ba, Triết Giang. Ngày 13 tháng 6, niên hiệu Long Hưng thứ nhất(1163), đời vua Tống Hiếu Tông, sư an nhiên thị tịch, trụ thế 61 năm, hạ lạp 43 năm, môn đệ đem nhục thân của sư nhập tháp ở chùa Thiền Đồng trước đỉnh Thái Bạch.

Hành trạng, pháp ngữ của sư được môn đệ ghi lại trong quyển Ứng Am Đàm Hoa Thiền sư Ngữ lục (應菴曇華禪師語錄).

Pháp ngữSửa đổi

Sư thượng đường nói: ''Chín năm xây mặt vào vách, hoại hết cháu con ở Đông độ; chiếc giày về Tây, cùn lụt ông già mặt vàng. Sư cầm gậy vẽ một vạch nói: Trâu đá ngang đường xưa, một ngựa sanh ba cọp''.

Sư thượng đường nói: ''Lâm Tế khi ở chỗ Hoàng Bá, ý chỉ ba phen ăn gậy, mọi người các ông lại xem được thấu hay chưa? Dù cho một phen cắn liền đứt, cũng chưa là kẻ đại trượng phu. Chư Phật ba đời miệng treo trên vách, các Hòa thượng già trong thiên hạ lấy cái gì ăn cơm?''.

Tham khảoSửa đổi

  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-Guang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.
  • Thích Thanh Từ: Thiền sư Trung Hoa I-III. TP HCM 1990, 1995.
  • Dumoulin, Heinrich:
Geschichte des Zen-Buddhismus I. Indien und China, Bern & München 1985.
Geschichte des Zen-Buddhismus II. Japan, Bern & München 1986.
Bảng các chữ viết tắt
bo.: Bod skad བོད་སྐད་, tiếng Tây Tạng | ja.: 日本語 tiếng Nhật | ko.: 한국어, tiếng Triều Tiên |

pi.: Pāli, tiếng Pali | sa.: Sanskrit संस्कृतम्, tiếng Phạn | zh.: 中文 chữ Hán