Thiền sư Mật Am Hàm Kiệt

Thiền sư Mật Am Hàm Kiệt (zh: 密庵咸傑, ja: Mittan Kanketsu, 1118-1186) là một vị cao tăng thời Nhà Tống, thuộc phái Hổ Khâu, hệ phái Dương Kì, Tông Lâm Tế. Sư là đệ tử nối pháp của Thiền sư Ứng Am Đàm Hoa, dưới sư có nhiều môn đệ nổi trội như các vị: Tùng Nguyên Sùng Nhạc, Tào Nguyên Đạo Sinh, Phá Am Tổ Tiên...

Cơ duyênSửa đổi

Thiền sư Trung Quốc

Bồ-đề-đạt-ma đến Huệ Năng

Ngưu Đầu Thiền

Nhánh Thanh Nguyên Hành Tư

Nhánh Nam Nhạc Hoài Nhượng

Lâm Tế tông

Hoàng Long phái

Dương Kì phái

Tào Động tông

Quy Ngưỡng tông

Vân Môn tông

Pháp Nhãn tông

Không tông phái

Thiền sư ni

Cư sĩ


Sư họ Trịnh, sinh năm Canh Dần (1110) nhằm niên hiệu Đại Quán thứ 4, đời Vua Tống Huy Tông, tại đất Phước Châu. Từ nhỏ thông minh khác người, thường chán cảnh trần lao, mong muốn được giải thoát.

Sau đó , sư xuất gia và đến tham học dưới với Thiền sư Ứng Am Đàm Hoa. Ngài thầm biết Sư là bậc pháp khí nên tận tình chỉ dạy, chờ thời cơ khai ngộ cho sư.

Một hôm, Tổ hỏi sư : Thế nào là chánh pháp nhãn tạng? Sư đáp : Đập vỡ bồn cát !

Tổ gật đầu ấn khả chứng minh và truyền đăng Tông Lâm Tế cho sư

Sau khi đắc pháp, Sư khai đàn thuyết pháp ở chùa Ô Cự của xứ Vệ Quốc, kế đến chấn tích độ chúng tại chùa Tương Phù Hoa Tạng ở Tưởng Sơn, rồi lại phụng chiếu của vua đến làm Trụ trì chùa Linh Ẩn ở Kính Sơn.

Khi cao niên, Sư về trụ tại núi Thiên Đồng (Thái Bạch sơn) ở Chiết Giang để giáo hoá đồ chúng cho đến ngày viên tịch.

Vào ngày 12 tháng 6 năm Bính Ngọ (1186) nhằm niên hiệu Thuần Hi thứ 13, triều Vua Hiếu Tông nhà Nam Tống, Sư ngồi kiết già rồi an nhiên thi tịch, thọ 77 tuổi. Môn đồ lập tháp thờ Sư tại Trung Phong ở núi Thiên Đồng.

Tác phẩm có Mật Am Hòa thượng ngữ lục , do chúng đệ tử soạn.

Pháp ngữSửa đổi

Sư thượng đường nói:" Phật nói tất cả pháp để độ tất cả tâm. Ta không có tất cả tâm, đâu cần tất cả pháp. Đã không có tâm, lại không có Pháp. Núi sông đất đai, chỗ nào được. Thấy nghe hay biết, lại là vật gì?" Sư hét lên một tiếng, nói: "Đến bờ mắt xem nước, đặc biệt một trường sâu, trường sầu".

Sư thượng đường nói:" Chỗ cao cao không vật chịu suy lường, chỗ thấp thấp còn khó luận bàn. Trên đầu sợi lông lập cõi Bảo Vương, rộng lớn chẳng ngoài, trên đầu trăm cỏ, chợt xuất hiện thế giới Diệu Hỷ, vắng lặng chẳng phải trong, quyền thật chiếu dụng cùng thực hạnh. Gõ nát mắt trong đầu lâu, lấy ra xương tủy trong hư không, hãy nghe mọi người đoán đông đoán tây. Bỗng như cắt đứt sự quan trọng, làm sao tin chung, mùa thu tháng tám nơi nào nóng?"

Tham khảoSửa đổi

  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-Guang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.
  • Thích Thanh Từ: Thiền sư Trung Hoa I-III. TP HCM 1990, 1995.
  • Dumoulin, Heinrich:
Geschichte des Zen-Buddhismus I. Indien und China, Bern & München 1985.
Geschichte des Zen-Buddhismus II. Japan, Bern & München 1986.
Bảng các chữ viết tắt
bo.: Bod skad བོད་སྐད་, tiếng Tây Tạng | ja.: 日本語 tiếng Nhật | ko.: 한국어, tiếng Triều Tiên |

pi.: Pāli, tiếng Pali | sa.: Sanskrit संस्कृतम्, tiếng Phạn | zh.: 中文 chữ Hán