Mở trình đơn chính

Ang Mey (tiếng Khmer: ក្សត្រីអង្គម៉ី, pronounced [kʰsat.trəj ʔɑŋ.məj], 1815 – 1874) là một nữ vương tại ngôi ở Cao Miên hơn mười năm từ 1835 đến 1847. Vương hiệu của bà là Samdech Preah Maha Rajini Ang Mey. Bà là con gái thứ hai của vua Ang Chan II (Nặc Chân) của Chân Lạp.

Ang Mey
Vua Campuchia
Ang Mei, Queen of Cambodia.jpeg
Ngọc Vân quận chúa và thuộc hạ
Vua Campuchia
Tại vị1834
Đăng quang1834
Tiền nhiệmAng Chan II
Kế nhiệmAng Duong
Thông tin chung
Tên đầy đủ
Ang Mey
Thụy hiệu
Ngọc Vân
Tước hiệuquận chúa
Tước vịChân Lạp quận chúa, Mỹ Lâm quận chúa
Thân phụAng Chan II
Thân mẫuVương phi Krachap
Sinh1815
Mất1874

Ang Mey hoặc Ksat Trey, được sử sách Việt Nam đương thời gọi là Công chúa Ngọc Vân (玉雲)[1], sau còn được gọi là Quận chúa Mỹ Lâm (美林, khi nước Chân Lạp bị giải tán thành Trấn Tây Thành).

Tiểu sửSửa đổi

Sau khi phụ vương Ang Chan II mất năm 1834 mà không có con trai nối dõi, Ang Mey được triều đình nhà Nguyễn đưa lên ngôi, hiệu là Chân Lạp quận chúa.[2]

Trước đó, sau chiến tranh Việt – Xiêm (1833-1834), nhà Nguyễn dự định cho công chúa cả là Ang Pen (Ngọc Biện) lên ngôi nữ vương Cao Miên. Nhưng theo Biên niên sử Campuchia, Ang Pen là người thuộc phe thân Xiêm và không đồng ý kết hôn với hoàng tử nhà Nguyễn nên bị loại trừ.[3][4][5] Tuy nhiên, sử triều Nguyễn không hề đề cập đến vấn đề kết hôn này.

Năm 1835, Trương Minh Giảng nhân danh quan Bảo hộ Cao Miên đề nghị đưa Ngọc Vân (Ang Mey) lên làm Quận chúa Chân Lạp trong khi củng cố quyền lực của nhà Nguyễn trên đất Cao Miên. Sau đó, nhà Nguyễn cho đổi nước Cao Miên thành Trấn Tây Thành. Khu vực nhà Nguyễn kiểm soát là vùng Đông Nam Biển Hồ, Nam Vang và kinh đô U Đông gọi chung là Trấn Tây.

Do nước Cao Miên không còn nữa, đổi Quận chúa Chân Lạp là Ngọc Vân làm Mỹ Lâm quận chúa; các huyện quân là Ngọc Biện làm Lư An huyện quân; Ngọc Thu làm Thâu Trung huyện quân; Ngọc Nguyên làm Tập Ninh huyện quân.

Trong khi đó Xiêm La mở cuộc xâm lăng Cao Miên để tranh giành ảnh hưởng. Cuộc chiến dai dẳng kéo dài từ năm 1834 đến 1845 bất phân thắng bại. Người Xiêm chiếm ưu thế ở vùng Tây Bắc còn người Việt cai trị gián tiếp qua triều đình Ang Mey vùng Đông Nam.

Do Minh Mạng áp dụng mạnh tay và hà khắc chế độ bảo hộ trên đất Cao Miên, cộng thêm việc ép buộc người Chân Lạp phải đổi sửa phong tục, tập quán theo người Việt nên Trấn Tây Thành luôn bất ổn.

Năm 1840, Ngọc Biện và gia nhân bị kết tội chết do liên lạc với phe thân Xiêm.[4] Các quan người Chân Lạp là Trà Long, Nhâm Vu và La Kiên đều bị vạ lây. Ngọc Vân, Ngọc Thu và Ngọc Nguyên thì bị giải về Gia Định quản thúc. Người Chân Lạp vì lẽ đó mà đã uất ức lại thêm phần chán ghét. Tới sang đầu năm 1841, Ngọc Vân mới được trở về Nam Vang.

Năm 1841, vua Minh Mạng qua đời, vua Thiệu Trị lên thay. Vì thấy việc binh bị tốn kém, vua Thiệu Trị sai bỏ Trấn Tây thành, rút binh về An Giang. Ang Mey và các em gái theo quan quân Đại Nam về ở thôn Châu Phú, thành Châu Đốc, tỉnh An Giang[6]. Biết tướng Đại Nam rút quân về nước, quân Xiêm đưa Ang Duong (Nặc Ông Đôn, Nặc Giun, chú của Ngọc Vân) về Chân Lạp lên ngôi vua và không bỏ lỡ cơ hội, Phi Nhã Chất Tri (Chao Phraya Bodin Decha) dẫn quân sang đánh phục thù (Chiến tranh Việt- Xiêm (1841-1845)).

Năm 1844, dời nhà ở của Quận chúa Ngọc Vân đem làm ở bên hữu thành tỉnh An Giang. Trước kia, Lạp man quận chúa là Ngọc Vân, huyện quân là Ngọc Thu, Ngọc Nguyên, theo quan quân ta chuyển về tỉnh An Giang, ngụ tạm ở chỗ đồn đất thôn Chu Phú; đến đây, quan tỉnh cho rằng đất ấy ẩm thấp, xin chi của kho giao cho thổ dân làm lại nhà ở tại chỗ điếm Giang Phước gần tỉnh. Vua y cho[7].

Ba năm sau (1844) quân Việt lại kéo lên giao chiến với quân Xiêm. Nguyễn Tri PhươngDoãn Uẩn vây hãm thành U Đông, đánh bại quân Xiêm La do Phi Nhã Chất Tri (tướng Chakri Chao Phraya Bodin) chỉ huy, buộc người Xiêm phải giảng hòa. Hai bên đình chiến.

Năm 1845, cho dời chỗ ở của quận chúa Ngọc Vân và mẹ tên Giun đến thành Nam Vang. (Ngọc Vân và mẹ tên Giun và người nhà, nguyên trước ở thành An Giang)[8].

 
Bản đồ Nam Kỳ và một phần nước Cao Miên năm 1841-1889.

Tháng 2 âm lịch năm Đinh Mùi (1847), vua Thiệu Trị phong cho Ang Duong làm Cao Miên quốc vương (ý trao cho làm chủ toàn cõi Cao Miên gồm cả Nam Vang lẫn Oudong) và phong cho Ang Mey làm Cao Miên quận chúa (ý trao cho làm chủ vùng Trấn Tây (Nam Vang) nhà Nguyễn kiểm soát). VUa Thiệu Trị lệnh cho quân nhà Nguyễn ở Trấn Tây (vùng Nam Vang đến biên giới với Nam Kỳ của Đại Nam) rút về An Giang. Triều đình Cao Miên được coi là độc lập nhưng phải chịu triều cống cả hai nước Việt lẫn Xiêm.

Từ sau giai đoạn này cho đến cuối đời của Ang Mey, gần như không có tài liệu nào đề cập tới bà nữa.

Gia phổ Miên triều thế kỷ 19Sửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  • Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục. Bản dịch của Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện sử học Quốc sử quán triều Nguyễn, Tổ Phiên dịch Viện Sử học phiên dịch. Nhà xuất bản Giáo Dục xuất bản năm 2007.
  • Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện. Nhà Xuất Bản Thuận Hóa.
  • Theam, Bun Srun (1981). Cambodia in the Mid-Nineteenth Century: A Quest for Survival (PDF). Unpublished dissertation, Australian National University.
  • David Chandler - A History Of Cambodia, 4th Edition Westview Press ( 2009)

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Đáng ra, Nak Ang Mey phải phiên âm là Nặc Ông Mây, hoặc Nặc Ngọc Mây theo thông lệ phiên âm tên vua chúa Campuchia sang Hán Việt. Có lẽ sử quan triều Nguyễn phiên âm Mây thành Vân, và vì bà là nữ nên đổi chữ lót Ông thành Ngọc như các bà Ngọc Vạn, Ngọc Hoa,...
  2. ^ Việt Nam sử lược - Thánh Tổ nhà Nguyễn
  3. ^ David Chandler - A History Of Cambodia, 4th Edition Westview Press ( 2009).
  4. ^ a ă Theam, Bun Srun (1981). Cambodia in the Mid-Nineteenth Century: A Quest for Survival (PDF). Unpublished dissertation, Australian National University.
  5. ^ Ngọc Biện là cháu ngoại của Chiêu Chuỳ Biện, một đồng mình lớn của Xiêm. Mẹ Ngọc Biện là Neang Tep sống bên phần đất do Xiêm chiếm đóng.
  6. ^ Đại Nam Thực Lục ghi: Cho bọn quận chúa là Ngọc Vân đến ở tại thôn Chu Phú, phái người coi giữ.
  7. ^ Đại Nam Thực Lục.
  8. ^ Đại Nam Thực Lục