Axit béo không bão hòa đơn

Trong sinh hóa họcdinh dưỡng học, axit béo không bão hòa đơn (monounsaturated fatty acid, viết tắt là MUFA) là loại axit béo mà phân tử của nó có một liên kết đôi trong chuỗi axit béo với tất cả các nguyên tử cacbon, còn lại là liên kết đơn.[1][2] Phân biệt với axit béo không bão hòa đa (polyunsaturated fatty acid, viết tắt là PUFA) có hơn một liên kết đôi. Khái niệm này thường dùng trong đời sống dưới tên gọi "chất béo không bão hòa đơn".[1] Loại chất béo này thường gặp nhiều ở dầu ôliu, mỡ gà.[2]

Cấu tạoSửa đổi

Mỗi phân tử axit béo là một chuỗi dài có một nhóm ankyl ở một đầu và nhóm axit cacbôxylic ở đầu kia. Độ nhớt của axit béo và nhiệt độ nóng chảy tăng khi số lượng liên kết đôi giảm; do đó, axit béo không bão hòa đơn có điểm nóng chảy cao hơn axit béo không bão hòa đa (có liên kết đôi nhiều hơn) và điểm nóng chảy thấp hơn axit béo bão hòa (không có liên kết đôi). Axit béo không bão hòa đơn là chất lỏng ở nhiệt độ trong phòng và là dạng nửa chất rắn hoặc rắn hoàn toàn khi được làm lạnh, lúc đó nó có cấu trúc mạng tinh thể đồng vị.

Các axit béo không bão hòa đơn thường gặp là axit palmitôlêicaxit ôlêic.

Axit palmitôlêic có 16 nguyên tử carbon với liên kết đôi đầu tiên xảy ra 7 nguyên tử cacbon ra khỏi nhóm mêtyl và 9 nguyên tử cacbon từ đầu cacbôxyl.

Axit olêic có 18 nguyên tử cacbon với liên kết đôi đầu tiên xuất hiện ở 9 nguyên tử cacbon xa nhóm axit cacbôxylic. Hình dưới đây minh họa cấu tạo chuỗi của một phân tử axit olêic ở dạng công thức Lewis.

   

Danh sách axit béo không bão hòa đơnSửa đổi

Tên chung Kí hiệu tên chất béo Tên hoá học
Axit myristôlêic 14:1 (n-5) cis-Tetradec-9-enoic acid
Axit palmitôlêic 16:1 (n-7) cis-Hexadec-9-enoic acid
cis-Vaccenic acid 18:1 (n-7) cis-Octadec-11-enoic acid
Vaccenic acid 18:1 (n-7) trans-Octadec-11-enoic acid
Paullinic acid 20:1 (n-7) cis-13-Eicosenoic acid
Axit ôlêic 18:1 (n-9) cis-Octadec-9-enoic acid
Elaidic acid (trans-oleic acid) 18:1 (n-9) trans-Octadec-9-enoic acid
11-Eicosenoic acid (gondoic acid) 20:1 (n-9) cis-Eicos-11-enoic acid
Erucic acid 22:1 (n-9) cis-Tetracos-15-enoic acid
Brassidic acid 22:1 (n-9) trans-Tetracos-15-enoic acid
Nervonic acid 24:1 (n-9) cis-Tetracos-15-enoic acid
Sapienic acid 16:1 (n-10) cis-6-Hexadecenoic acid
Gadoleic acid 20:1 (n-11) cis-9-Icosenoic acid
Petroselinic acid 18:1 (n-12) cis-Octadec-6-enoic acid

Với sức khoẻSửa đổi

 
Thành phần chính để làm món gazpacho: dầu ô liu, muối, giấm, tỏi và rau (cà chua, hạt tiêu, hành tây, dưa chuột).

Thực phẩm chứa chất béo không bão hòa đơn làm giảm cholesterol lipoprotein mật độ thấp (LDL),[3] nhưng lại có thể làm tăng cholesterol lipoprotein mật độ cao (HDL).[4] Nghiên cứu KANWU quy mô lớn cho thấy việc tăng chất béo không bão hòa đơn và giảm lượng chất béo bão hòa có thể cải thiện độ nhạy insulin, nhưng chỉ khi lượng chất béo tổng thể của chế độ ăn uống thấp.[5]

Tuy nhiên, một số axit béo không bão hòa đơn (giống như chất béo bão hòa) có thể tăng cường sưc kháng insulin, trong khi axit béo không bão hòa đa lại có thể bảo vệ chống lại kháng insulin.[6]

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng thay thế chất béo không bão hòa đơn trong chế độ ăn uống cho chất béo bão hòa có liên quan đến việc tăng hoạt động thể chất hàng ngày và sử dụng năng lượng hoặc nghỉ ngơi. Hoạt động thể chất nhiều cần chế độ ăn có nhiều axit ôlêic hơn so với chế độ ăn kiêng axit palmitic. Người ta cũng cho rằng chất béo không bão hòa đơn dẫn đến giảm tức giận và khó chịu.[7] Ở trẻ em, khả năng tiêu hoá loại chất béo này có liên quan đến lượng lipit trong huyết thanh nên cần thận trọng.[8]

Chế độ ăn Địa Trung Hải (như gazpacho) có nhiều chất béo không bão hòa đơn, nên người dân ở các nước Địa Trung Hải tiêu thụ rất nhiều chất béo loại này phần lớn là từ dầu ô liu và axit béo omega-3 từ cá, thịt cừu. Một đánh giá năm 2017 cho thấy người dân ăn "kiểu Địa Trung Hải" như vậy trong thời gian dài có thể giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, ung thư tổng thể, bệnh thoái hóa thần kinh, tiểu đường và tử vong sớm.[9] Một đánh giá kác vào năm 2018 cho thấy ăn "kiểu Địa Trung Hải" cũng giảm nguy cơ mắc các bệnh không lây nhiễm, do đó giảm chi phí sinh hoạt và giảm ngân sách quốc gia.[10]

Xem thêmSửa đổi

Nguồn trích dẫnSửa đổi

  1. ^ a ă Salami. “Monounsaturated Fat”. 
  2. ^ a ă “monounsaturated fatty acid”. 
  3. ^ “You Can Control Your Cholesterol: A Guide to Low-Cholesterol Living”. MerckSource. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2018. 
  4. ^ “Monounsaturated Fat”. American Heart Association. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2018. 
  5. ^ Vessby B, Uusitupa M, Hermansen K, Riccardi G, Rivellese AA, Tapsell LC, Nälsén C, Berglund L, Louheranta A, Rasmussen BM, Calvert GD, Maffetone A, Pedersen E, Gustafsson IB, Storlien LH (tháng 3 năm 2001). “Substituting dietary saturated for monounsaturated fat impairs insulin sensitivity in healthy men and women: The KANWU Study”. Diabetologia 44 (3): 312–9. PMID 11317662. doi:10.1007/s001250051620. 
  6. ^ Fukuchi S, Hamaguchi K, Seike M, Himeno K, Sakata T, Yoshimatsu H (tháng 6 năm 2004). “Role of fatty acid composition in the development of metabolic disorders in sucrose-induced obese rats”. Experimental Biology and Medicine 229 (6): 486–93. PMID 15169967. doi:10.1177/153537020422900606. 
  7. ^ Pala V, Krogh V, Muti P, Chajès V, Riboli E, Micheli A, Saadatian M, Sieri S, Berrino F (tháng 7 năm 2001). “Erythrocyte membrane fatty acids and subsequent breast cancer: a prospective Italian study”. Journal of the National Cancer Institute 93 (14): 1088–95. PMID 11459870. doi:10.1093/jnci/93.14.1088. 
  8. ^ Sanchez-Bayle M, Gonzalez-Requejo A, Pelaez MJ, Morales MT, Asensio-Anton J, Anton-Pacheco E (tháng 2 năm 2008). “A cross-sectional study of dietary habits and lipid profiles. The Rivas-Vaciamadrid study”. European Journal of Pediatrics 167 (2): 149–54. PMID 17333272. doi:10.1007/s00431-007-0439-6. 
  9. ^ Dinu M, Pagliai G, Casini A, Sofi F (tháng 1 năm 2018). “Mediterranean diet and multiple health outcomes: an umbrella review of meta-analyses of observational studies and randomised trials”. European Journal of Clinical Nutrition 72 (1): 30–43. PMID 28488692. doi:10.1038/ejcn.2017.58. 
  10. ^ Martinez-Lacoba R, Pardo-Garcia I, Amo-Saus E, Escribano-Sotos F (tháng 10 năm 2018). “Mediterranean diet and health outcomes: a systematic meta-review”. European Journal of Public Health 28 (5): 955–961. PMID 29992229. doi:10.1093/eurpub/cky113. 

Liên kết ngoàiSửa đổi