Thiền sư Nhật Bản
Tam.jpg

Bassui Tokusho sinh ra ở Nakamura, một huyện thuộc tỉnh Sagami, mà ngày nay là quận Kanagama, vào năm 1327, ngày mùng sáu tháng Mười (1). Họ của sư là Fujiwara (Đằng Nguyên). Sư sinh ra dưới triều đại Thiên hoàng Godaigo (Hậu Đề Hồ, 1318-1339), thời mà Hojo (Bắc Điều), một gia tộc quân sự đã cai trị Nhật Bản hơn một trăm năm, đang mất dần khả năng kiểm soát đất nước. Vào thời điểm này, Nhật Bản mấp mé bên bờ một cuộc nội chiến kéo dài hơn năm mươi năm.

Tương truyền mẹ của Bassui nằm mộng thấy sẽ sinh ra một đứa trẻ là quỷ. Không thể rũ bỏ nỗi sợ của điềm báo này, bà bỏ rơi Bassui mới sinh ở một cánh đồng gần nhà. Một người hầu của gia đình tìm thấy đứa trẻ ở đó, và đưa về nhà nuôi nấng (2). Khi Bassui bốn tuổi, cha cậu mất. Ba năm sau, vào ngày giỗ cha, Bassui hỏi vị tăng thực hiện nghi lễ làm thế nào cha mình có thể thọ hưởng đồ cúng trên bàn thờ. Được trả lời rằng linh hồn của cha sẽ thọ hưởng đồ cúng, cậu bé hỏi: “Thứ gọi là linh hồn này là gì?” Đây là khởi đầu sự truy tìm mà Bassui sẽ theo đuổi trong phần lớn cuộc đời. Khoảng chín tuổi, kinh sợ khi nghe giảng về nỗi thống khổ của ba đường xấu (3), sư truy tìm sâu hơn ý nghĩa của linh hồn. Sau vài năm, sự truy tìm này đưa đến một câu hỏi khác: “Ai là người thấy, nghe, và hiểu?” Sư ngồi thiền trong thời gian dài, quên cả thân mình, cho đến ngày nhận ra không có gì có thể nắm bắt để được gọi là linh hồn. Với cái thấy mới về tính rỗng không của mọi sự vật, Bassui không còn cảm thấy gánh nặng của thân và tâm nữa, các mối hồ nghi về pháp (chân lý; lời dạy của Phật) đã được xoá bỏ. Thời kỳ yên bình này kéo dài cho đến ngày sư đọc được trong một cuốn sách câu: “Tâm là chủ nhà, thân là khách”. Một lần nữa, các nghi ngờ lại bắt đầu khởi lên. Nếu tâm là chủ nhà, sư nghĩ, vậy không phải mọi thứ trống rỗng. Người chủ nhà này phải là người thấy, nghe và hiểu rằng mọi thứ trống rỗng. Nhưng ai là chủ? Sư không thể giải thoát bản thân khỏi mối nghi mới ấy. Khoảng năm hai mươi tuổi, Bassui tới học thiền sư Oko ở chùa Jifukuji (Địa Phúc Tự) tại quê nhà của mình, Sagami. Tuy nhiên, phải đến năm hai mươi chín tuổi, sư mới trở thành tu sĩ. Khi trở thành tu sĩ, sư chẳng màng tới nghi lễ, chối bỏ những mê tín vổn bao bọc nhiều tổ chức tôn giáo thời bấy giờ. Sư không mặc cà sa cũng không tụng kinh như các tu sĩ khác, mà chỉ quyết liệt hành thiền bất kể thời tiết. Đây là cách sống của Bassui xuyên suốt cuộc đời thiền giả.

Làm bạn với TokukeiSửa đổi

Có một tu sĩ cùng quê với Bassui là Tokukei Jisha, người đã xa lánh thế gian, lui về núi, thực hành khổ hạnh nhiều năm. Nghe tới tu sĩ này, Bassui quyết dinh ghe tham. Tokukei, thấy Bassui đầu cạo trọc và mặc đồ dân thường, đã hỏi đầy vẻ nghi ngờ: “Sao ông không mặc áo thầy tu?”

Bassui: Tôi trở thành tu sĩ để hiểu về sinh tử, không phải để mặc áo thầy tu.

Tokukei: Vậy ông có tham cứu công án của các thiền sư đời trước không?

Bassui: Tất nhiên không. Làm sao tôi có thể hiểu đúng lời người khác khi thậm chí không biết chính tâm mình? Tokukei: Vậy ông tu tập như thế nào?

Bassui: Trở thành tu sĩ, tôi muốn sáng tỏ nguồn gốc của đạo pháp đã được chư Phật và chư tố truyền lại. Sau khi đạt giác ngộ, tôi muốn cứu độ cả người trí lẫn kẻ mê, tuỳ căn cơ mỗi người. Mong ước thật sự của tôi là giải thoát người khác khỏi đau khố dù bản thân tôi có thể xuống địa ngục.

Nghe những lời này, Tokukei chỉ biết chắp tay cúi mình. Từ ấy trở đi, tình bạn giữa hai vị tăng nảy nở. Bassui nguyện không thuyết pháp cho người khác chừng nào còn chưa được một bậc thầy chân thực ấn chứng cho giác ngộ của mình. Một khi có được ấn chứng như vậy, sư sẽ dâng hiến cả đời cho sự cứu độ người khác. Để hoàn thành ý nguyện này, sư tiếp tục hành trì miệt mài, tự nhủ rằng cái tâm nghi ngờ này rốt ráo cũng được xả bỏ. Sư hết sức truy tìm nhưng không đạt được nhận thức đích thực nào. Thế rồi một ngày, sau khi ngồi thiền suốt đêm, âm thanh của dòng suối buổi bình minh đã xuyên thấu toàn thân, và Bassui đột nhiên tỏ ngộ. Lập tức, sư đi tìm thầy ấn chứng cho mình. Nghe nói có một thiền sư nổi tiếng là Khải Sơn Văn Ngộ (Kozan Mongo) trự trì chùa Kenchoji ở Kamakura, Bassui lên đường tìm gặp. Kozan xác nhận chứng ngộ của sư. Thời điểm này vào khoảng tháng Hai, năm 1358, Bassui ba mươi mốt tuổi. Từ lúc này sư mới bắt đầu mặc cà sa, bắt đầu hành hương vòng quanh đất nước tham vấn các thiền sư. Bassui tới gặp Phục Am Tông Kỉ (Fukuan Soki), chùa Hounji tại tỉnh Hitachi, một thiền sư có tiếng đã tu học tại Trung Quốc. Đệ tử theo học Phục Am lên tới khoảng hai ngàn người. Bassui, không ấn tượng gì với Phục Am, nên quay lại quê nhà và tới gặp bạn mình, Tokukei. Sư nói với Tokukei rằng mình không thích hợp với Phục Am, và định tự tu tập ẩn cư ở một ngọn núi hẻo lánh nào đó. Tokukei, với hơn hai mươi năm thực hành khổ hạnh ẩn dật, đã sinh ra kiêu mạn về công phu của mình. Sự kiêu mạn trở thành nguyên nhân cho nhiều đau khổ của ông. Ông cảnh báo Bassui về những mối nguy của sự ẩn dật trước khi hoàn toàn thấu hiểu “đại sự” hoặc trước khi nhận trao truyền từ một vị thầy đích thực (4). Mặc dù Bassui đã được Khải Sơn ấn chứng, ông vẫn làm theo lời khuyên của bạn mình, từ bỏ ý định ẩn dật trên núi, mà dành mùa hè và mùa đông năm ấy tu tập “nhiếp tâm” (sesshin) với Tokukei. Tokukei nói với Bassui về một vị sư là Cô Phong Giác Minh (Koho Kakumyo), tại chùa Ưnjuji (Vân Thụ Tự) ở Izumo, được coi là một vị thầy lớn. Bassui liền lên đường tới chùa Unjuji.

Gặp Cô PhongSửa đổi

Cô Phong Giác Minh (Koho Kakumyo, 1271-1361) là đệ tử nối pháp của quốc sư Hatto, tức thiền sư Tâm Địa Giác Tâm (Shinchi Kakushin, 1227-1298), người đã thọ pháp từ Vô Môn Huệ Khai (Mumon Ekai) - tác giả của tuyển tập các công án kinh điển nổi tiếng trong Thiền tông, Vô Môn Quan. Tâm Địa Giác Tâm từng tu tập theo Chân Ngôn tông (Shingon) trên núi Koya, sau đó học thiền với Đạo Nguyên (Dogen, 1200-1253), người sáng lập dòng Thiền Tào Động của Nhật Bản, và Viên Nhĩ Biện Viên (Enni Bennen, 1202-1280) trước khi tới Trung Quốc. Đệ tử Cô Phong của ông cũng tu học một thời gian ở Trung Quốc với thiền sư Trung Hoa, Trung Phong Minh Bản (5). Cô Phong, thọ bồ tát giới nơi Oánh Sơn Thiệu Cẩn (Keizan Jokin), vị tổ thứ tư của dòng Tào Động Nhật Bản, là một vị thầy nghiêm khắc và đề cao giới luật. Tuy nhiên, ông không ấn chứng cho Bassui ngay lập tức, mà yêu cầu sư ở một thời gian tại chùa Unjuji. Bassui ở lại, nhưng như thường lệ, sư từ chối ở trong khuôn viên chùa. Sư sống trong một chòi tranh gần đó và hàng ngày vào tham vấn sư phụ.

Một lần, trong buổi tham vấn, Cô Phong hỏi Bassui tại sao Triệu Châu trả lời câu hỏi “Con chó có Phật tính không?” bằng một từ “” (không), Bassui đáp lại bằng mấy câu:


Núi, sông, đại địa,

Cỏ, cây, rừng,

Tất cả đều là Vô.

Khi Cô Phong quở trách sư vì trả lời bằng cái đầu lý trí, Bassui cảm thấy nền tảng thân tâm của minh đổ sập như cái thùng lủng đáy. Sư diễn tả trải nghiệm của mình bằng bài thơ:


Sáu cửa tự mở ra, một đoá hoa cô đơn lạnh lẽo.

Vân Thụ (6) xua tan rác rưởi khỏi mắt ta,

Đập nát viên ngọc trong bàn tay ta, ngay trước mắt ta,

Thế là xong, vàng đã trở thành thép cứng.

Chứng ngộ sâu xa của Bassui cho thấy cái nhìn về tính không trước đây của sư hạn hẹp như thế nào. Cô Phong ấn chứng và ban cho sư pháp danh Bassui (Bạt Đội), nghĩa là vượt trên tầm thường. Bassui khi ấy ba mươi hai tuổi.

Chỉ sau hai tháng ở tại chùa Unjuji, Bassui lại lên đường tìm các thiền sư để tham vấn Phật pháp. Sư được đề nghị ở lại thọ bồ tát giới mà Cô Phong đã được Tâm Địa Giác Tâm trao truyền. Vốn ít quan tâm đến nghi lễ, Bassui quyết định đi tiếp vì mong muốn ẩn dật trên núi để đào sâu hiểu biết vẫn sống động trong sư.

Bassui rời chùa Unjuji và xin gặp một thiền sư tiếng tăm là Dozen từ Inaba. Không ấn tượng với Dozen, sư quay trở lại gặp bạn mình, Tokukei. Sư kể với Tokukei về thời gian ở cùng Cô Phong và mô tả cho ông về thiền pháp của Cô Phong. Tokukei nói rằng ông tiếc vì đã không gặp được người thầy như vậy khi còn trẻ. Ông nói, giờ là một ông già, ông không còn cơ hội gặp được một người như Cô Phong nữa.

Khoảng thời gian này, Bassui xây dựng chỗ ẩn cư đầu tiên ở Nanasawa tại quê nhà Sagami. Tokukei đến thăm, và lần này có vẻ hài lòng với quyết định của Bassui khi lui về một nơi ẩn cư để tiếp tục hành trì. Có vẻ ông đã nói với Bassui rằng, do giờ đây đủ hai điều kiện — đã sáng tỏ đạo pháp và nhận ấn chứng từ một vị thầy đích thực - nên Bassui có thể thực hiện lối tu tập này.

Bassui nằm mộng thấy thầy mình, Cô Phong, sắp viên tịch. Sư tới thăm Cô Phong ở Daiyuji (Đại Hùng Tự), ngôi chùa mà Cô Phong đã dựng nên và đang ở đó. Sau khi đảnh lễ và thấy tình trạng không khoẻ của thầy, Bassui muốn ở lại nơi này. Tuy nhiên, sau đó sư rời đi có lẽ do quan hệ căng thẳng với một vài đệ tử lâu năm của thầy. Các đệ tử lâu năm hơn có thể đã không bằng lòng với quyết định sống ngoài khuôn viên chùa của Bassui trước đây. Một số người có lẽ ghen tị vì sư được nhận ấn chứng từ Cô Phong chỉ sau một thời gian ngắn. Tất cả những bực bội này có thể đã bị nhân lên bởi thực tế rằng Bassui từ chối tham gia những hoạt động mang tính nghi thức của chùa. Cô Phong qua đời năm 1361, thọ chín mươi mốt tuổi. Bassui khi ấy ba mươi lăm.

Gặp gỡ các thiền sư khácSửa đổi

Cũng năm ấy, Bassui tới một am thất ở tỉnh Ki. Trên đường, sư ghé ngang chùa Eigenji thuộc tỉnh Gô để gặp Tịch Thất Nguyên Quang (Jakushitsu Genko). Tịch Thất, một thiền sư nổi tiếng, đã tới Trung Quốc và cũng từng tu học với Trung Phong Minh Bản. Bassui bị thu hút bởi sự đơn giản thanh nhã trong thiền pháp của Tịch Thất. Họ nói về ý nghĩa của đời sống tu sĩ, về các tu tập của Bassui trước khi sư chính thức thọ giới. Bassui nói chuyện với các tu sĩ chùa Eigenji, rằng ý nghĩa của đời sống tăng lữ không phải là để tụng kinh, mà để đưa cuộc sống vào giới luật. Bassui muốn cảnh báo các mối nguy hại của tính hình thức vốn phổ biến trong các tổ chức tôn giáo lớn thời bấy giờ. Trong cuộc sống riêng, sư thích các chỗ ẩn cư nhỏ hơn là các tu viện lớn. Trong những năm sau này khi sống tại am Hướng Nhạc (Kogakuan) của mình ở Enzan, sư đã từ chối lời mời trụ trì Daiyuji và Unjuji, hai thiền viện lớn gắn liền với thiền sư Cô Phong.

Sau khi tạm biệt Tịch Thất, Bassui quay lại tỉnh Ki, đến một chỗ an cư trên núi Sudayama. Một vị tăng uyên bác là Chikugan Teizosu, người từng tu học lâu năm với Cô Phong, sống ở ngọn núi gần đó. Chikugan và Bassui có những cuộc nói chuyện dài. Khi không hiểu điều gì trong Bích Nham Lục hoặc Lâm Tế Ngữ Lục, sư sẽ trao đổi với Chikugan. Theo những gì được ghi chép lại, Chikugan nói rằng ông chưa từng gặp ai học đạo như Bassui; ông nói, trên thực tế Bassui vượt xa ông.

Năm tiếp theo, Bassui tới thăm thiền sư có tiếng của dòng Tào Động, Nga Sơn Thiều Nhạc ở chùa Eikoji. Bassui chỉ trích lối tu tập công án của dòng Lâm Tế, có lẽ vì chúng ngày càng bị hình thức hoá, do vậy mất đi tinh thần ban đầu. Ông có vẻ bị thu hút tới dòng Tào Động do dòng này nhấn mạnh sự chú tâm vào mọi hoạt động hàng ngày. Sau khi quan sát các tu sĩ chùa Eikoji, nơi Nga Sơn trụ trì, Bassui không tán thành các tu sĩ này bởi khuynh hướng lý tưởng hoá của họ. Tuy nhiên, sư vẫn tôn kính Nga Sơn và ở lại tu học với ông. Nga Sơn ấn chứng cho Bassui, nhưng Bassui, như thường lệ, từ chối ở lại nhận truyền thừa từ dòng thiền của Nga Sơn.

Từ am thất nọ tới am thất kiaSửa đổi

Bassui dành mười bảy năm tiếp theo đi khắp đất nước, sống ở nhiều am thất. Mặc dù sư không ở đâu lâu hơn ba năm, số người mộ đạo bắt đầu tụ tập xung quanh sư. Khi số lượng người theo học đã quá lớn, sư bí mật rời khỏi am thất ấy và tới sống ở chỗ khác. Dường như chỉ đến những năm cuối cùng tại nơi an cư của mình, Kogakuan, sư mới sẵn sàng nhận đệ tử theo học số lượng lớn.

Kogakuan: Những năm cuối cùng của BassuiSửa đổi

Năm 1378, Bassui chuyển tới một nơi ẩn cư ở núi Takomori, tỉnh Kai. Số lượng đệ tử tiếp tục tăng; thực tế, các tài liệu cho thấy tám trăm người theo học đã tập trung ở đó. Do đường lên núi dốc và hay có các cơn gió mạnh, Bassui chuyển tới nơi ẩn cư ở Enzan. Đây là một nơi ẩn cư nổi tiếng, Kogakuan, nơi Bassui sẽ dành phần còn lại của cuộc đời. Đó là năm 1380. Lúc này, rõ ràng Bassui đã sẵn sàng chấp nhận vai trò dẫn dắt một tổ chức. Mặc dù sư từ chối làm trụ trì hai thiền viện lớn, và ký tự cuối cùng của Kogakuan là chữ an (ý nói nó là cái am thay vì một tu viện), sư vẫn chấp nhận tất cả mọi người đến tu học. Số lượng người theo học lên đến hơn một ngàn tu sĩ và cư sĩ.

Chính tại Kogakuan mà tuyển tập Bùn và nước được ghi lại. Nó được công bố năm 1386 - một năm trước khi Bassui qua đời - không phải do Bassui yêu cầu mà là được sự chấp thuận của sư. Trong những năm cuối cùng, sư hình thành tín tâm lớn nơi Bồ tát Quán Âm, vị Bồ tát của từ bi (tiếng Phạn, Avalokitesvara). Cái tên Quán Âm (Kannon) là hình thức ngắn gọn của Quán Thế Âm (Kanzeon), nghĩa là người lắng nghe tiếng khóc của chúng sinh và ngay lập tức cứu độ họ. Trong Bùn và nước, Bassui nói tới Quán Thế Âm như được mô tả trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Suramgama Sutra): “Ngài là người mà với mỗi âm thanh nghe được đều quán chiếu tâm người nghe, từ đó thực chứng chân tính của mình”. Đây rõ ràng là cốt tuỷ giáo pháp của Bassui, do vậy mà sư có sự tôn kính với vị Bồ tát này. Bassui có một bàn thờ Quán Thế Âm xây ở phần phía bắc khuôn viên chùa Kogakuan, và sư đã yêu cầu được an táng ở đó. Năm 1387, ngày hai mươi tháng Hai, Bassui ngồi thẳng trong tư thế toạ thiền, quay sang đệ tử, nói: “Nhìn đi! Là cái gì? Nhìn như vậy và các ông sẽ không bị lừa”. Sư lớn tiếng lặp lại huấn thị này rồi viên tịch. Năm ấy, sư sáu mươi mốt tuổi, được an táng ngay dưới bàn thờ Bồ tát Quán Thế Âm.

(...)

______

Tham khảoSửa đổi

(1) Hầu hết các thông tin về Bassui ở đây được lấy từ Ngữ lục thiền Nhật Bản, tập 2, (Tokyo: Kodansha Press, 1979); Hệ thống tư tưởng Nhật Bản, tập 16: Tư tưởng Thiền thời Trung cổ (Tokyo: Ivvanami Shoten, 1970); Cao tăng Thiền, (Tokyo: Shunịũsha Press, 1979); Ba cột trụ của Thiền, (Boston: Beacon Press, 1967). (2) Có thể bà mẹ đã biết trước người hầu sẽ đón đứa trẻ. Trong trường hợp này, bỏ rơi là một cách để tránh các điều xấu. (3) Ba đường tái sinh: địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. (4) Những lời này cho thấy cả Bassui lẫn Tokukei đều có vẻ chưa hài lòng với ấn chứng mà Bassui nhận được từ Khải Sơn Văn Ngộ. (5) Trung Phong Minh Bản được biết như một người ẩn dật tại núi Thiên Mục ở Trung Quốc, người chủ trương hòa hợp giáo phái Tịnh Độ tông và Thiền tông. (6) Chùa Vân Thụ, nói tới Cô Phong bằng cách đề cập tên ngôi chùa mà thiền sư trụ trì. (7) Nga Sơn Thiều Nhạc (Gasan Joseki, 1275-1365) sinh ở tỉnh Kaga (quận Ishikawa). Ông tu học với Oánh Sơn Thiệu Cẩn ở chùa Daijoji tại Ishikawa, Năm 1324, sư trở thành trụ trì chùa Sojiji.
Bảng các chữ viết tắt
bo.: Bod skad བོད་སྐད་, tiếng Tây Tạng | ja.: 日本語 tiếng Nhật | ko.: 한국어, tiếng Triều Tiên |
pi.: Pāli, tiếng Pali | sa.: Sanskrit संस्कृतम्, tiếng Phạn | zh.: 中文 chữ Hán