Mở trình đơn chính

Candy Pop là một bài hát được thu âm bởi nhóm nhạc nữ Hàn Quốc Twice. Đây là đĩa đơn maxi tiếng Nhật thứ hai của nhóm với 3 bài hát khác. Bài hát được phát hành dưới dạng nhạc số vào ngày 12 tháng 1 năm 2018 và đĩa CD phát hành vào ngày 7 tháng 2 năm 2018 bởi Warner Music Japan.[3][4]

"Candy Pop"
Phiên bản thường
Đĩa đơn của Twice
Mặt B"Brand New Girl"
Phát hành7 tháng 2 năm 2018
Định dạngTải nhạc số, CD
Thể loại
Thời lượng3:22
Hãng đĩaWarner Music Japan
Sáng tác
Thứ tự đĩa đơn của Twice
"Heart Shaker"
(2017)
"Candy Pop"
(2018)
"What Is Love?"
(2018)
Video âm nhạc
"Candy Pop" trên YouTube

Bối cảnh và phát hànhSửa đổi

Ngày 22 tháng 12 năm 2017, Twice thông báo về việc phát hành đĩa đơn thứ hai của họ mang tên "Candy pop" cùng vài hình ảnh teaser cho đĩa đơn.[3][5] Một đoạn nhỏ bài hát B-side "Brand New Girl" thuộc đĩa đơn cũng được phát hành trong cùng ngày, đồng thời được dùng cho quảng bá thương mại cho Line's Clova Friends speaker.[6] Ngày 12 tháng 1, năm 2018, "Candy Pop" đã được phát hành dưới dạng kĩ thuật số trên các trang âm nhạc trực tuyến.[2][4] Ngày 23 tháng 1, "Brand New Girl" cũng đã được phát hành dưới dạng một đĩa đơn kĩ thuật số trên trang âm nhạc Line Music.[7]

Ngày 7 tháng 2, "Candy Pop" chính thức được phát hành ở dạng đĩa cứng. Đồng thời, trong cùng ngày, "Candy Pop" cũng như "Brand New Girl" đều được phát hành trên các trang nhạc số lớn tại Hàn Quốc.[8][9]

Sáng tácSửa đổi

"Candy Pop" được sáng tác bởi Min Lee "collapsedone" và Mayu Wakisaka, người trước đó đã từng hợp tác với Twice cùng bài hát "Knock Knock".

Video âm nhạcSửa đổi

Video âm nhạc đầy đủ "Candy Pop" đã được đăng tải trực tuyến vào ngày 12 tháng 1 2018. Phần video anime đã được chỉ đạo thực hiện bởi Takahiko Kyōgoku, người được biết đến rộng rãi với vai trò là đạo diễn của serie anime truyền hình Love Live!, ông hợp tác Naive Creative Production, đại diện đứng sau thực hiện hầu hết các MV trước đây của Twice.[10] Mạch truyện được viết bởi Park Jin-young. Ngoài ra còn có các ký tự ẩn được phát họa bởi thành viên Chaeyoung.[11]

MV có bối cảnh với 9 thành viên là những ca sĩ hoạt hình trong một vương quốc kẹo ngọt, đang quay video âm nhạc mà cô bé người thật đang xem. Họ thấy cô bé trông cô đơn và buồn bã, và muốn động viên cô bé. Với sự giúp đỡ của nhân vật anime Park Jin-young, Twice biến hóa trở thành con người, thoát khỏi vùng đất kẹo ngọt và đi đến thế giới con người trong một chiếc xe bằng kẹo để gặp cô bé.[2][12]

Quảng báSửa đổi

"Candy Pop" và "Brand New Girl" lần đầu được biểu diễn trong tour diễn Twice Showcase Live Tour 2018 "Candy Pop", bắt đầu vào ngày 19 tháng 1 năm 2018 tại Seto, Aichi. "Candy Pop" cũng đã được biểu diễn trên chương trình Music Station vào ngày 2 tháng 2.[13][14] "Candy Pop" và "Brand New Girl" cũng đã được lên sóng trên chương trình Count Down TV của TBS lần lượt vào ngày 3 và 10 tháng 2.[15]

Hiệu suất thương mạiSửa đổi

Ngay khi vừa ra mắt, đĩa đơn đã đứng đầu bảng xếp hạng hằng ngày Oricon Singles Chart với 117,486 bản bán ra ngay trong ngày phát hành. Đĩa đon đã lập kỉ lục doanh số bán ra cao nhất trong ngày đầu tiên đối với tất cả các nhóm nhạc nữ Hàn Quốc ra mắt tại Nhật Bản.[16][17] cũng có thông báo rằng đĩa đơn đã bán được 333,633 bản đặt trước, trong khi Billboard Japan ghi nhận được 303,746 bản từ ngày 5–11 tháng 2 năm 2018.[18][19][20] Ngày 24 tháng 2, "Candy Pop" vượt quá 400,000 bản được giao đi.[21]

Danh sách bài hátSửa đổi

Digital download EP
STT Tên bài hátPhổ lờiPhổ nhạc Sản xuất Thời lượng
1. "Candy Pop"  
  • Min Lee "collapsedone"
  • Mayu Wakisaka
  3:22
2. "Brand New Girl"      3:33
3. "Candy Pop" (Instrumental) 
  • Min Lee "collapsedone"
  • Mayu Wakisaka
  3:22
4. "Brand New Girl" (Instrumental)    3:33
Tổng thời lượng:
13:50

Sản xuất nội dungSửa đổi

Công trạng được ghi chú trên đĩa đơn CD.[22]

Địa điểmSửa đổi

Thu âm
  • JYPE Studios, Seoul, South Korea
Hòa âm
  • Mirrorball Studios, Seoul, South Korea
  • I to I Communications, Tokyo, Japan
Giám sát
  • Sterling Sound, New York City, New York

Nhân lựcSửa đổi

nhân viên JYP Entertainment
  • Song Ji-eun "Shannen" (JYP Entertainment Japan) – executive producer
  • Jimmy Jeong (JYP Entertainment) – executive producer
  • Cho Hae-sung (JYP Entertainment) – executive producer
  • J. Y. Park "The Asiansoul" – producer
  • Yasuhiro Suziki (JYP Entertainment Japan) – strategic planning
  • Rinko Narita (JYP Entertainment Japan) – A&R
  • Lee Ji-hoon (JYP Entertainment Japan) – A&R
  • Choi Ji-yeon (JYP Entertainment Japan) – A&R
  • Ayumi Saiki (JYP Entertainment Japan) – artist and fan marketing
  • Lee Seong-ah (JYP Entertainment Japan) – artist and fan marketing
  • Kim Sung-bub (JYP Entertainment Japan) – artist and fan marketing
  • Hong Mina (JYP Entertainment Japan) – artist and fan marketing
  • Kang Min-ju (JYP Entertainment Japan) – artist and fan marketing
  • Jung Kyoung-hee (JYP Entertainment Japan) – administration
  • Park Nam-yong (JYP Entertainment) – performance director
  • Kim Hyung-woong (JYP Entertainment) – performance director
  • Yun Hee-so (JYP Entertainment) – performance director
  • Na Tae-hoon (JYP Entertainment) – performance director
  • Yoo Kwang-yeol (JYP Entertainment) – performance director
  • Kang Da-sol (JYP Entertainment) – performance director
  • Lee Tae-sub (JYP Entertainment) – recording engineer
  • Choi Hye-jin (JYP Entertainment) – recording engineer
  • Eom Se-hee (JYP Entertainment) – recording engineer
  • Lim Hong-jin (JYP Entertainment) – recording engineer
  • Jang Han-soo (JYP Entertainment) – recording engineer
  • Lee Jeong-yun "Lia" (JYP Publishing) – publishing
  • Kim Min-ji (JYP Publishing) – publishing
  • Shin Da-ye (JYP Publishing) – publishing
  • Cho Hyun-woo (JYP Publishing) – publishing
nhân viên Warner Music Japan
  • Kaz Kobayashi – executive producer
  • Hayato Kajino – supervisor
  • Rie Sawaoka – supervisor
  • Yukiyasu "German" Fujii – chief A&R
  • Toshio Kai – A&R
  • Nao Fuse – A&R
  • Norihiro Fukuda – A&R
  • Hidetsugu Sato – sales promotion
  • Naoki Takami – digital planning and marketing
  • Mamoru Fukumitsu – WMJ "JYP room"
  • Han Gui-taek – WMJ "JYP room"
  • Kimi Yoneda – WMJ "JYP room"
  • Eom Eun-kyung – WMJ "JYP room"
  • Hong Mina – WMJ "JYP room"
  • Kim Jang-ho – WMJ "JYP room"
  • Masayo Kuroda – product coordination
  • Mizuho Makizaka – A&R secretary
  • Momoko Kitasato – A&R secretary
nhân viên thu âm người Nhật
  • Goei Ito (Obelisk) – music director
  • Yu-ki Kokubo (Obelisk) – recording director
  • Satoshi Sasamoto – pro tools operation
nhân viên thiết kế
  • Toshiyuki Suzuki (United Lounge Tokyo) – art direction
  • Yasuhiro Uaeda (United Lounge Tokyo) – design
  • Tommy – photography
  • Masaaki Mitsuzono – jacket photo style director
  • Choi Hee-sun (F. Choi) - music video style director
  • Lim Ji-hyun (F. Choi) - music video style director
  • F. Choi - music video style director
  • Lee Jin-young (F. Choi) - music video assistant stylist
  • Heo Su-yeon (F. Choi) - music video assistant stylist
  • Jung Nan-young (Lulu Hair Makeup Studio) – hair director
  • Choi Ji-young (Lulu Hair Makeup Studio) – hair director
  • Son Eun-hee (Lulu Hair Makeup Studio) – hair director
  • Jo Sang-ki (Lulu Hair Makeup Studio) – makeup director
  • Jeon Dallae (Lulu Hair Makeup Studio) – makeup director
  • Zia (Lulu Hair Makeup Studio) – makeup director
  • Won Jung-yo – makeup director
  • Choi Su-ji – assistant makeup director
nhân viên quay phim
  • Kim Young-jo (Naive Production) – music video director
  • Yoo Seung-woo (Naive Production) – music video director
  • Takahiko Kyōgoku – music video animation director
  • Hiroyuki Katō (OLM Team Kato) – music video animation producer
  • Han Gui-taek – music video making movie director
  • Yu Yamaguchi (Warner Music Mastering) – DVD authoring
Các cá nhân khác
  • Min Lee "collapsedone" – all instruments and computer programming (on "Candy Pop")
  • Na.Zu.Na – all instruments (on "Brand New Girl")
  • Twice – background vocals (on "Candy Pop" and "Brand New Girl")
  • Ikuko Tsutsumi – background vocals (on "Candy Pop" and "Brand New Girl")
  • Mayu Wakisaka – background vocals and vocal recording director (on "Candy Pop")
  • Tony Maserati at Mirrorball Studios – mixing engineer (on "Candy Pop")
  • Naoki Yamada at I to I Communications – mixing engineer (on "Brand New Girl")
  • Ted Jensen at Sterling Sound – mastering engineer (on "Candy Pop" and "Brand New Girl")

Bảng xếp hạngSửa đổi

Bảng xếp hạng hàng tuầnSửa đổi

Bảng xếp hạng (2018) Vị trí
cao nhất
Nhật Bản (Japan Hot 100)[23] 1
Nhật Bản (Oricon)[24] 1
Japan Digital Singles Chart (Oricon)[25] 14
Bảng xếp hạng quốc tế Hàn Quốc (Gaon)[26] 80
Đài Loan (Five Music)[27] 1

Bảng xếp hạng cuối nămSửa đổi

Bảng xếp hạng (2018) Thứ hạng
Nhật Bản (Japan Hot 100)[28] 8
Nhật Bản (Oricon)[29] 20

Chứng nhậnSửa đổi

Quốc gia Chứng nhận Doanh số
Nhật (RIAJ)[30] Bạch kim 250.000^

^Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng
xChưa rõ ràng

Giải thưởngSửa đổi

Năm Giải thưởng Hạng mục Kết quả Ref.
2019 33rd Japan Gold Disc Award Song of the Year by Download (Asia) Đoạt giải [31]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “Candy Pop - EP”. iTunes Japan (bằng tiếng Nhật). Apple Inc. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2018. 
  2. ^ a ă â b Herman. “TWICE Turn Into Anime Characters for Japanese Single 'Candy Pop'. Billboard (Billboard). Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2018. 
  3. ^ a ă “TWICE JAPAN 2nd SINGLE「Candy Pop」”. Twice Official Japanese website (bằng tiếng Nhật). Warner Music Japan. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2018. 
  4. ^ a ă “JAPAN 2nd SINGLE「Candy Pop」の先行配信スタート!”. Twice Official Japanese website (bằng tiếng Nhật). Warner Music Japan. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2018. 
  5. ^ “TWICE to drop new Japanese single album”. Yonhap News (Yonhap News Agency). Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2018. 
  6. ^ “新曲「BRAND NEW GIRL」が「Clova Friends 双子ダンス篇」のCMソングに決定!”. Warner Music Japan (bằng tiếng Nhật) (Warner Music Japan Inc.). Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2018. 
  7. ^ “Brand New Girl – Line Music”. Line Music (bằng tiếng Nhật). 23 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2018. 
  8. ^ “Candy Pop”. Twice official Japanese website (bằng tiếng Nhật). Warner Music Japan. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2018. 
  9. ^ “Candy Pop”. Melon (bằng tiếng Hàn). LOEN Entertainment, Inc. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2018. 
  10. ^ “TWICE「Candy Pop」Music Video”. Studio Naive. 22 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2018. 
  11. ^ “TWICE「ラブライブ!」監督の手でアニメキャラに!新MVの舞台はキャンディの世界”. Natalie (bằng tiếng Nhật) (Natasha, Inc.). Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2018. 
  12. ^ “TWICE「ラブライブ!」の京極尚彦監督で初のアニメーション化!ニューシングル「Candy Pop」ミュージック・ビデオを公開”. Kstyle (bằng tiếng Hàn) (Line Corporation). Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2018. 
  13. ^ “2018年もTWICE旋風、初のショーケースツアーで1ヵ月ぶりのNHKホール”. Barks (bằng tiếng Nhật) (Japan Music Network). 29 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2018. 
  14. ^ Seon, Mi-gyeong (27 tháng 1 năm 2018). “[공식입장] 트와이스, 2월2일 日 '엠스테' 출격 확정..벌써 세번째”. OSEN (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2018. 
  15. ^ “Artist File”. Count Down TV (bằng tiếng Nhật). Tokyo Broadcasting System Television, Inc. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2018. 
  16. ^ “Daily Singles Chart (February 6, 2018)”. Oricon News (bằng tiếng Nhật). Oricon ME inc. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2018. 
  17. ^ Jeong, Ji-won. “[공식입장] "韓걸그룹 기록경신"…트와이스, '캔디팝' 日오리콘 1위”. Naver (bằng tiếng Hàn) (OSEN). Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2018. 
  18. ^ Hwang, Mi-hyun. “트와이스 日 싱글, 발매 당일 선주문 33만장 돌파”. Naver (bằng tiếng Hàn) (News1 Korea). Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2018. 
  19. ^ “TWICE tops Oricon weekly chart for 'Candy Pop'. Yonhap News (Yonhap News Agency). Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2018. 
  20. ^ “【ビルボード】TWICE『Candy Pop』が30万枚超の売上で週間シングル・セールス首位”. Billboard Japan (bằng tiếng Nhật) (Billboard Japan). Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2018. 
  21. ^ Jeong Ji-won (24 tháng 2 năm 2018). “[공식입장] 트와이스 '캔디팝', 전작 인기 넘어섰다…日 출고량 40만장 돌파”. OSEN (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2018. 
  22. ^ Candy Pop (CD). Twice. Warner Music Japan. 2018. 
  23. ^ “Billboard Japan Hot 100”. Billboard Japan. Billboard Music. 19 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2018. 
  24. ^ “Weekly Singles Chart (February 5–11, 2018)”. Oricon News (bằng tiếng Nhật). Oricon ME inc. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2018. 
  25. ^ “週間 デジタルシングル(単曲)ランキング – 2018年02月19日付”. Oricon News (bằng tiếng Nhật). Oricon ME inc. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2018. 
  26. ^ “2018년 06주차 Digital Chart (국외)”. Gaon Music Chart. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2018. 
  27. ^ “Five-Music Korea-Japan Album Chart” (bằng tiếng Trung). Five-Music. 2018 [9th Week]. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2018.  Để truy cập chọn tuần và năm tương thích ở góc trái bên dưới
  28. ^ “2018 Year-End Rankings”. Billboard Japan (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2018. 
  29. ^ “年間 シングルランキング – 2018年度”. Oricon News (bằng tiếng Nhật). Oricon ME Inc. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2018. 
  30. ^ ゴールドディスク認定 一般社団法人 日本レコード協会 (bằng tiếng Japanese). Recording Industry Association of Japan. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2018.  Ghi chú: Để truy xuất các chứng nhận, 1) nhập TWICE vào khung "アーティスト", 2) nhấn 検索
  31. ^ “第33回 日本ゴールドディスク大賞・受賞作品/アーティスト”. Japan Gold Disc Award (bằng tiếng Nhật). Recording Industry Association of Japan. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2019.