Chuyết Am Đức Quang

Thiền sư Trung Quốc
Tam.jpg

Bồ-đề-đạt-ma đến Huệ Năng

Ngưu Đầu Thiền

Nhánh Thanh Nguyên Hành Tư

Nhánh Nam Nhạc Hoài Nhượng

Lâm Tế tông

Hoàng Long phái

Dương Kì phái

Tào Động tông

Quy Ngưỡng tông

Vân Môn tông

Pháp Nhãn tông

Không tông phái

Thiền sư ni

Cư sĩ


Thiền sư Chuyết Am Đức Quang (zh: 拙庵德光, ja: Settan Tokkō, 1121-1203), còn có hiệu là Phật Chiếu. Thiền sư nổi tiếng Trung Quốc thuộc tông Lâm Tế, từng sống dưới thời nhà Tống. Sư là đệ tử nối pháp của Thiền sư Đại Huệ Tông Cảo nổi danh, dưới sư có nhiều đệ tử ngộ đạo xuất sắc như: Triết Ông Như Diễm, Vô Tế Liễu Phái, Bắc Nhàn Cư Giản...

Cơ duyênSửa đổi

họ Bành (彭), quê ở Tân Dụ, Lâm Giang, tỉnh Giang Tây. Năm 1136 (15 tuổi), sư theo Thiền sư Cát ở Đông Sơn Quang Hóa Tự (東山光化寺) xuất gia và học Thiền.

Một hôm, sư vào thất tham vấn, Thiền sư Cát hỏi: "Chẳng phải tâm, hẳng phải vật, chẳng phải phật. Là cái gì?". Sư nghe xong mù mịt không đáp được, suốt đêm không ngủ và tự khởi nghi tình. Hôm sau sư đến phương trượng thưa hỏi: "Hôm qua đội ơn hòa thượng ban cho câu hỏi “Đã chẳng phải tâm, lại chẳng Phật, cũng chẳng phải vật, rốt cuộc là cái gì?" Mong hòa thượng từ bi khai thị!". Thiền sư Cát nghiêm mặt hét lên một tiếng rồi nói: " Sa Di này! Còn muốn ta chú thích cho ngươi sao?" và cầm gậy đánh đuổi sư ra ngoài, sư ngay đó liền đại ngộ.

Sau đó, sư đến tham vấn với nhiều vị Thiền sư nổi tiếng đương thời như Quả Nguyệt Am, Ứng Am Đàm Hoa, Bách Trượng Chân Khả nhưng cơ duyên không hợp.

Cuối cùng, sư đến tham học với Thiền sư Đại Huệ Tông Cảo (khi ấy Thiền sư Đại Huệ vừa mới đến trụ trì tại chùa A Dục Vương, núi Dục Vương (育王山)). Hôm đó, các tăng ni, cư sĩ đến tham học với Thiền sư Đại Huệ rất đông, sư cũng vào trong thất tham vấn. Thiền sư Đại Huệ hỏi sư: " Kêu là thanh tre (trúc bề) thì chạm, không kêu thanh tre (trúc bề) là trái, chẳng được hạ ngữ chẳng được không lời". Sư đang suy nghĩ thì bị Thiền sư Đại Huệ đánh, sư hoát nhiên triệt ngộ, bao nhiêu kiến giải, nghi tình trước nay đều tan hết và được Thiền sư Đại Huệ ấn khả.

Hoằng phápSửa đổi

Đầu tiên, sư đến trụ trì tại chùa Quang Hiếu (光孝寺) ở Thiều Châu và thuyết pháp, truyền bá Thiền tại nơi đây. Có vị tăng đến tham vấn hỏi: "Thênh thang trong trần (trần thế) làm sao biện chủ (giáo lý chủ khách của Tông Lâm Tế)?" sư đáp: "Khăn quấn trên đầu chót tháp nhọn".

Năm thứ 7 (1180) niên hiệu Thuần Hy (淳熙), sư đến trụ trì tại Linh Ẩn Thiền Tự ở Hàng Châu và sau đó đến trụ trì tại Kính Sơn (徑山). Vua Tống Hiếu Tông nhà Nam Tống từng thỉnh sư vào cung thuyết pháp, hỏi đạo và quy y với sư. Vua ban cho sư hiệu là Phật Chiếu Thiền Sư (佛照禪師).và những lời hỏi đáp giữa vua và sư về đạo được ghi lại đầy đủ trong Ngữ Lục.

Vào năm thứ 3 (1203) niên hiệu Gia Thái (嘉泰), sư an nhiên tọa Thiền thị tịch, hưởng thọ 83 tuổi. Vua ban hiệu là Phổ Tuệ Tông Giác Đại Thiền Sư (普慧宗覺大禪師), môn đệ xây tháp thờ nhục thân sư tại Đông Am, Tư Phong. Hàng trạng và pháp ngữ của sư được ghi lại trong Phật Chiếu Thiền Sư Tấu Đối Lục (佛照禪師奏對錄) 1 quyển, Phật Chiếu Quang Hòa Thượng Ngữ Yếu (佛照光和尚語要) 1 quyển.

Tham khảoSửa đổi

  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-Guang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Thích Thanh Từ: Thiền sư Trung Hoa I-III. TP HCM 1990, 1995.