Convair, trước đó là Consolidated Vultee, là một nhà sản xuất máy bay của Mỹ, sau đó công ty mở rộng lĩnh vực sản xuất sang tên lửa và tàu vũ trụ. Convair được thành lập vào năm 1943 từ sự sáp nhập của Consolidated AircraftVultee Aircraft. Năm 1953, công ty được General Dynamics mua lại, và trở thành một bộ phận của công ty này.

Consolidated Vultee
Convair
Ngành nghềHàng không vũ trụ
Tình trạngNgừng hoạt động
Tiền thân
Thành lập1943 (1943)
Giải thể1996 (1996)
Trụ sở chínhSan Diego, California, Mỹ
Công ty mẹ
Convair F-106 Delta Dart
Convair 880
Tên lửa phòng không RIM-2 Terrier trên boong tàu USS Providence
Tên lửa Atlas đang phóng lên trong sứ mệnh Friendship 7, sứ mệnh bay đưa người lên quỹ đạo đầu tiên của Mỹ.
Atlas-Centaur cùng với tàu vũ trụ Pioneer 10 trên bệ phóng.

Convair được biết đến qua các loại máy bay quân sự mà công ty sản xuất, ví dụ như máy bay ném bom chiến lược Convair B-36 PeacemakerConvair B-58 Hustler, và máy bay đánh chặn Convair F-102 Delta DaggerConvair F-106 Delta Dart. Công ty cũng là nhà sản xuất các tên lửa Atlas thế hệ đầu, chính những tên lửa đẩy này đã đưa các nhà du hành lên vũ trụ trong Chương trình Mercury. Các tên lửa đẩy Atlas-Centaur do Convair thiết kế sau đó cũng rất thành công và các thiết kế tên lửa dẫn xuất của nó vẫn còn được sử dụng đến năm 2020.

Convair cũng tham gia thị trường máy bay phản lực chở khách thương mại với thiết kế Convair 880Convair 990. Đây là những mẫu máy bay nhỏ hơn so với các máy bay khác đương thời như Boeing 707Douglas DC-8, nhưng lại bay nhanh hơn. Sự kết hợp của các tính năng này đã không tìm được một thị trường thích hợp có lợi nhuận và công ty đã rời khỏi lĩnh vực máy bay chở khách thương mại. Tuy nhiên, kinh nghiệm trong sản xuất các mẫu máy bay này đã giúp công ty trở thành một nhà thầu phụ chính sản xuất thân máy bay.

Năm 1994, hầu hết các bộ phận của công ty được General Dynamics bán cho McDonnell Douglas và tập đoàn Lockheed, các bộ phận còn lại ngừng hoạt động vào năm 1996.

Lịch sửSửa đổi

Nguồn gốcSửa đổi

Công ty chế tạo máy bay Consolidated Aircraft đã sản xuất nhiều loại máy bay quan trọng trong chiến tranh thế giới thứ 2, đặc biệt là máy bay ném bom hạng nặng B-24 Liberator và máy bay thủy phi cơ PBY Catalina cho Không quân Mỹ (Lúc này vẫn còn trực thuộc trong Lục quân Mỹ) và các nước đồng minh. Chiếc Catalina vẫn còn được sản xuất đến tháng 5 năm 1945 và đã có tổng cộng 4000 chiếc được chế tạo. Cái mà sau này gọi là "Convair", đã được thành lập vào năm 1943 nhờ sự hợp nhất của Consolidated AircraftVultee Aircraft. Việc hợp nhất này đã tạo ra một công ty sản xuất máy bay lớn, xếp thứ 4 trong số các tập đoàn của Mỹ xét về tổng giá trị hợp đồng sản xuất vũ khí trong chiến tranh, lớn hơn nhiều những gã khổng lồ như Douglas Aircraft, Boeing, và Lockheed.[1] Convair luôn là công ty dẫn đầu trong việc nghiên cứu, thiết kế, và sản xuất tại San Diego, Nam California, và các thành phố lân cận.

Kỷ nguyên phản lực, chiến tranh Lạnh, thời đại vũ trụSửa đổi

Tháng 3 năm 1953, toàn bộ công ty Convair đã bị Tập đoàn General Dynamics mua lại, một tập đoàn gồm các công ty quân sự và công nghệ cao, và nó chính thức trở thành Convair Division thuộc General Dynamics.[2]

Sau khi bắt đầu Kỷ nguyên phản lực của máy bay chiến đấu và máy bay ném bom quân sự, Convair là hãng tiên phong trong thiết kế máy bay cánh bằng, cùng với công ty máy bay Dassault, là công ty đã thiết kế chế tạo máy bay tiêm kích Dassault Mirage.

Một trong số các sản phẩm nổi tiếng nhất của Convair là máy bay ném bom chiến lược 10 động cơ Convair B-36, sử dụng 4 động cơ turbojets và 6 động cơ piston cánh quạt Pratt & Whitney R-4360 Wasp Major. Chiếc Convair B-36 là chiếc máy bay ném bom động cơ piston lớn nhất trên thế giới. Tên lửa ICBM SM-65 Atlas, máy bay đánh chặn cánh delta F-102 Delta DaggerF-106 Delta Dart, và máy bay ném bom hạt nhân siêu âm B-58 Hustler. Trong một khoảng thời gian thập niên 1960, Convair đã sản xuất dòng máy bay chở khách thương mại, chiếc Convair 880Convair 990 Coronado, nhưng không mang lại nhiều lợi nhuận. Tuy nhiên, Convair lại thu được nhiều lợi nhuận khi là nhà thầu phụ sản xuất thân máy bay cho các công ty khác như McDonnell Douglas, Boeing, và Lockheed.

Những năm 1950, Convair đã dành nhiều tiền và nỗ lực vào các dự án tên lửa, kết quả là sự ra đời của tên lửa phòng không hạm RIM-2 Terrier cho Hải quân Mỹ vào những năm 1960, 1970. Convair cũng phát triển tên lửa SM-65 Atlas từ năm 1957, sau trở thành tên lửa ICBM đầu tiên của Không quân Mỹ. Năm 1962, SM-65 được thay thế bằng tên lửa nhiên liệu lỏng LGM-25C Titan II và tên lửa nhiên liệu rắn LGM-30 Minuteman. Tên lửa Atlas về sau trở thành tên lửa đẩy phục vụ trong chương trình bay vào vũ trụ có người lái của Mỹ (Chương trình Mercury) năm 1962 và năm 1963.

Tên lửa đẩy Atlas tiếp tục trở thành một tầng đẩy, kết hợp với tầng đẩy mang tải trọng Centaur, tạo thành tên lửa đẩy Atlas-Centaur để phóng vệ tinh viễn thông và các tàu thăm dò vũ trụ. Centaur cũng được thiết kế, phát triển và sản xuất bởi Convair, và nó là tên lửa không gian đầu tiên sử dụng nhiên liệu siêu lạnh Hydro lỏngLOX được sử dụng rộng rãi. Đây cũng là tiền đề để các kỹ sư sử dụng cùng một loại nhiên liệu/chất oxy hóa trên tầng đẩy thứ 2 (S-II) của tên lửa đẩy Saturn và tầng đẩy thứ 3 (S-IVB) của tên lửa đẩy Saturn V trong chương trình Apollo đưa người lên Mặt trăng của Mỹ. Tầng đẩy S-IVB trước đó cũng được sử dụng làm tầng đẩy thứ hai của tên lửa Saturn IB nhỏ hơn, chẳng hạn như tên lửa được sử dụng để phóng tàu Apollo 7. Tầng đẩy Centaur được thiết kế và phát triển từ năm 1966 để đưa tàu đổ bộ mặt trăng Surveyor lên quỹ đạo, để bổ sung lực đẩy cho tên lửa Atlas và tăng thêm tải trọng mà tên lửa mang được lên Mặt trăng.

Đã có hơn 100 tên lửa Atlas-Centaur được Convair sản xuất (bao gồm cả những tên lửa có tên kế nhiệm) và được sử dụng để phóng thành công hơn 100 vệ tinh. Tên lửa Atlas-Centaur cũng là tên lửa đẩy đã phóng tàu thăm dò không gian Pioneer 10Pioneer 11.

Ngoài máy bay, tên lửa và phương tiện phóng tàu vũ trụ, Convair đã phát triển các ống chân không Charactron, một dạng màn hình máy tính hiển thị ống tia âm cực (CRT)[3] cùng với thuật toán CORDIC và các hệ thống điện tử khác.

Giải thểSửa đổi

General Dynamics tuyên bố bán Bộ phận hệ thống tên lửa của Convair cho Hughes Aircraft Company vào tháng 5 năm 1992 [4] và Bộ phận hệ thống vũ trụ cho Martin Marietta vào năm 1994.[5] Tháng 7 năm 1994, General Dynamics và McDonnell Douglas đã thỏa thuận cùng nhau ngừng hợp đồng cung cấp thân vỏ máy bay 300 chỗ ngồi MD-11 của Convair.[6] Việc sản xuất sẽ được chuyển sang cho McDonnell Douglas. General Dynamics đã cố gắng trong hai năm để bán mảng kết cấu máy bay của Convair, nhưng nỗ lực cuối cùng đã thất bại.

Việc chấm dứt hợp đồng có nghĩa là sự chấm dứt của Bộ phận Convair và sự hiện diện của General Dynamics tại San Diego, cũng như truyền thống chế tạo máy bay lâu đời của thành phố. Nhà thầu quốc phòng đã từng tuyển dụng 18.000 người nhưng con số đó giờ là con số không. General Dynamics cũng đóng cửa khu phức hợp của mình ở Kearny Mesa, phá dỡ nhà máy từ năm 1994 đến năm 1996, nhường chỗ cho nhà ở và các khu văn phòng. Nhà máy Lindbergh Field từng là nơi sản xuất những chiếc B-24 trong Thế chiến thứ hai cũng bị phá bỏ nhường chỗ cho cơ sở cho thuê ô tô.

Nhà máy tại Fort Worth, Texas, là nơi chế tạo máy bay ném bom B-24 Liberator, đã từng sản xuất hàng trăm chiếc máy bay ném bom Consolidated B-24, máy bay tiêm kích bom General Dynamics F-111 Aardvark và tiêm kích General Dynamics F-16 Fighting Falcon, cùng với hàng tá các dự án nhỏ hơn khác — bị bán cùng với tất cả tài sản trí tuệ và quyền hợp pháp đối với các sản phẩm được thiết kế và chế tạo cho Lockheed Corporation.[7] Năm 1996, General Dynamics cho ngừng hoạt động toàn bộ Division Convair còn lại.

Mốc thời gianSửa đổi

[8][9][10][11][12]

  • 1923 Consolidated Aircraft Corporation được thành lập bởi Thiếu tá Reuben H. Fleet
  • 1934 AVCO mua lại Airplane Development Corporation từ Cord và thành lập Aviation Manufacturing Corporation (AMC)
  • 1936 AMC thanh lý để thành lập Vultee Aircraft Division, một công ty con của AVCO
  • 1939 Vultee Aircraft Division của AVCO tái cơ cấu thành một công ty độc lập mang tên Vultee Aircraft, Inc.
  • 1941 Consolidated Aircraft Corporation được bán cho AVCO
  • 1943 Consolidated-Vultee thành lập từ sự sáp nhập của Consolidated Aircraft và Vultee Aircraft; vẫn do AVCO quản lý.
  • 1947 Convair bị mua lại bởi Atlas Corporation
  • 1953-1954 Convair bị mua lại bởi General Dynamics[13][14]
  • 1985 General Dynamics thành lập "Space Systems Division" từ Convair Space Program
  • 1992 Missile Systems Division được bán cho Hughes Aircraft Company
  • 1994 Space Systems Division được bán cho Martin Marietta (nay là Lockheed Martin)
  • 1994 Cơ sở tại Fort Worth được bán cho Lockheed Corporation
  • 1994 Đơn vị Convair Aircraft Structures được bán cho McDonnell Douglas (nay là Boeing)

Các sản phẩm đã chế tạoSửa đổi

Máy baySửa đổi

 
Convair B-36 Peacemaker, sử dụng cả động cơ piston và động cơ phản lực ở các phiên bản sau này
 
Convair CV-340
 
Chiếc XF-92A là chiếc máy bay cánh delta đầu tiên của Mỹ
 
Convair B-58 Hustler
Model Bay thử lần đầu Số lượng chế tạo Kiểu
Vultee XA-41 1944 1 Nguyên mẫu máy bay tấn công mặt đất 1 động cơ piston
Consolidated Vultee XP-81 1945 2 Nguyên mẫu máy bay tiêm kích hộ tống sử dụng kết hợp động cơ phản lực cánh quạt và động cơ phản lực
Convair 106 Skycoach 1946 1 Nguyên mẫu máy bay 1 động cơ piston hạng nhẹ 4 chỗ ngồi.
Stinson 108 1944 5.135 Máy bay một động cơ piston
Convair Model 110 1946 1 Nguyên mẫu máy bay chở khách hai động cơ piston
Convair Model 116 1946 1 máy bay kết hợp ô tô
Convair B-36 1946 384 Máy bay ném bom chiến lược kết hợp động cơ piston và động cơ phản lực
Convair CV-240 1947 Máy bay chở khách hai động cơ piston.
Convair XB-46 1947 1 Nguyên mẫu máy bay ném bom 4 động cơ phản lực
Convair Model 118 1947 2 Xe ô tô bay
Convair XC-99 1947 1 Nguyên mẫu máy bay chở khách
Convair XF-92 1948 1 Máy bay đánh chặn một động cơ phản lực thử nghiệm.
Convair C-131 Samaritan 1949 512 Máy bay chở hàng hai động cơ
Convair CV-340 1951 Máy bay chở khách hai động cơ
Convair YB-60 1952 1 Máy bay ném bom chiến lược 8 động cơ thử nghiệm
Convair F2Y Sea Dart 1953 5 Thủy phi cơ hai động cơ phản lực
Convair F-102 Delta Dagger 1953 1.000 Máy bay đánh chặn 1 động cơ
Convair R3Y Tradewind 1954 13 Thủy phi cơ 4 động cơ chở khách
Convair XFY Pogo 1954 1 Máy bay chiến đấu cất và hạ cánh thẳng đứng thử nghiệm
Convair NB-36H 1955 1 Máy bay ném bom thử nghiệm chạy bằng năng lượng hạt nhân
Convair CV-440 Metropolitan 1955 Máy bay động cơ piston đôi
Convair B-58 Hustler 1956 116 Máy bay ném bom chiến lược 4 động cơ phản lực
Convair F-106 Delta Dart 1956 342 Máy bay đánh chặn 1 động cơ phản lực
Convair 880 1959 65 Máy bay chở khách bốn động cơ phản lực
Convair 990 Coronado 1961 37 Máy bay chở khách bốn động cơ phản lực
Convair Model 48 Charger 1964 1 Nguyên mẫu máy bay tấn công hạng nhẹ động cơ phản lực cánh quạt
Convair CV-600 1965 ?? Máy bay 2 động cơ cánh quạt
Convair CV-640 1965 ?? Máy bay 2 động cơ tuốc bin cánh quạt
Convair XB-53 N/A 0 Máy bay chạy bằng năng lượng hạt nhân thử nghiệm chưa chế tạo
Convair X-6 N/A 0 Máy bay chạy bằng năng lượng hạt nhân thử nghiệm chưa chế tạo
Convair XP6Y N/A 0 Máy bay thủy phi cơ chống ngầm sử dụng kết hợp động cơ piston và động cơ phản lực.
Convair Kingfish N/A 0 Máy bay trinh sát hai động cơ phản lực.
Convair Model 58-9 N/A 0 Máy bay chở khách hai động cơ phản lực
Convair Model 49 N/A 0
Convair 660 N/A 0 Máy bay chở khách hai động cơ phản lực.
Convair Model 200 N/A 0 Máy bay chiến đấu một động cơ cất hạ cánh thẳng đứng.

Tên lửaSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Peck, Merton J.]] and Scherer, Frederic M. The Weapons Acquisition Process: An Economic Analysis (1962) Harvard Business School p. 619
  2. ^ “General Dynamics Corporation”. U.S. Centennial of Flight Commission. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2006.
  3. ^ “Charactron Tube”. Computing at Chilton, of Atlas Computer Laboratory, Chilton, Oxfordshire. ngày 5 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2006.
  4. ^ https://articles.latimes.com/1992-05-12/news/mn-1628_1_general-dynamics-pomona
  5. ^ “Bản sao đã lưu trữ”. Bản gốc lưu trữ 3 tháng Bảy năm 2018. Truy cập 8 tháng Bảy năm 2021.
  6. ^ https://articles.latimes.com/1994-07-02/business/fi-11075_1_san-diego
  7. ^ “Bản sao đã lưu trữ”. Bản gốc lưu trữ 3 tháng Bảy năm 2018. Truy cập 8 tháng Bảy năm 2021.
  8. ^ Textron Lycoming Turbine Engine, a company history of AVCO and Lycoming/Textron
  9. ^ Avco Financial Services, Inc. from the Lehman Brothers Collection – Twentieth Century Business Archives
  10. ^ Consolidated Vultee Aircraft Corporation Lưu trữ 2011-06-06 tại Wayback Machine, U.S. Centennial of Flight Commission
  11. ^ General Dynamics Corporation Lưu trữ 2008-11-12 tại Wayback Machine, U.S. Centennial of Flight Commission
  12. ^ Central Manufacturing Co. of Connersville, Indiana, a history of Cord, AVCO, and others
  13. ^ “Atlas to sell big block of Convair stock”. Pittsburgh Post-Gazette. United Press. ngày 31 tháng 3 năm 1953. tr. 17.
  14. ^ “General Dynamics, Vultee Directors Approve Merger”. The Day. New London, Connecticut. ngày 2 tháng 3 năm 1954. tr. 15.
  • Wegg, John (1990). General Dynamics Aircraft and their Predecessors. London: Putnam Aeronautical Books. ISBN 0-85177-833-X.

Link ngoàiSửa đổi

Video
  Convair Heritage: History of General Dynamics/Consolidated/Convair