Dobrzyca [dɔˈbʐɨt͡sa]thị trấn trong Pleszew County, Wielkopolskie, ở phía tây-trung Ba Lan. Đó là nơi tọa lạc của gmina (khu hành chính) được gọi là Gmina Dobrzyca.[1] Nó cách khoảng 13 kilômét (8 mi) về phía tây Pleszew, 15 kilômét (9 mi) về phía đông bắc của Jarocin, 25 kilômét (16 mi) từ Krotoszyn và 76 km (47 mi) về phía đông nam của thủ đô Poznań. Thị trấn có dân số là 3.250 người.

Dobrzyca
—  Town  —
The museum, palace and park complex
The museum, palace and park complex
Hiệu kỳ của Dobrzyca
Hiệu kỳ
Huy hiệu của Dobrzyca
Huy hiệu
Dobrzyca trên bản đồ Ba Lan
Dobrzyca
Dobrzyca
Quốc giaBa Lan Ba Lan
TỉnhGreater Poland
HạtPleszew
GminaDobrzyca
Độ cao132 m (433 ft)
Dân số 3.250
Múi giờUTC+1, UTC+2 sửa dữ liệu
Mã bưu chính63-330 sửa dữ liệu
Trang webwww.ugdobrzyca.pl

Lịch sửSửa đổi

Văn bản đầu tiên đề cập đến Dobrzyca có từ năm 1327, khi nhà quý tộc Mikołaj Dobrzycki chiếm thành phố. Năm 1440, Vua Władysław III của Warna đã trao đặc quyền thị trấn cho cộng đồng. Dobrzyca chỉ mất tình trạng đặc quyền này vào năm 1934. Sau đó nó lại là một thị trấn bình thường từ ngày 1 tháng 1 năm 2014.

Thị trấn nhỏ này, vào thế kỷ 18, có không quá 1.000 dân. Vào thế kỷ 17, Dobrzyca đã bị quân đội Thụy Điển phá hủy. Năm 1655, Hetman Jerzy Sebastian Lubomirski lãnh đạo một cuộc nổi loạn quý tộc chống lại vua Johann II, sử dụng Dobrzyca làm khu vực tổ chức. Phiến quân đã có một chiến thắng trước quân đội hoàng gia tại Częstochowa, nhưng sau đó họ đã rút về vùng nội địa Ba Lan.

Sau khi Reich chiếm đóng Đức trong Chiến tranh thế giới thứ hai, các hợp tác xã nhà ở đã phát triển cho phép cung điện, nơi đã trở thành tòa thị chính, được chuyển đổi thành bảo tàng. Từ năm 1975 đến nay, với sự tái tổ chức khu vực ở Ba Lan, Dobrzyca thuộc về tỉnh Kalisz.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “Central Statistical Office (GUS) - TERYT (National Register of Territorial Land Apportionment Journal)” (bằng tiếng Polish). 1 tháng 6 năm 2008.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)

Liên kết ngoàiSửa đổi