Gạo nếp hay gạo sáp (danh pháp hai phần: Oryza sativa var. glutinosa hay Oryza glutinosa) là loại gạo hạt ngắn phổ biến ở châu Á, đặc biệt dính khi nấu.

Một loại gạo nếp.

Trồng trọtSửa đổi

Lúa nếp được trồng ở Bangladesh, Trung Quốc, Nhật Bản, bán đảo Triều Tiên, Philippines, Thái Lan, Lào, IndonesiaViệt Nam. Ước tính 85% sản lượng gạo của Lào là gạo nếp[1]. Gạo nếp đã xuất hiện ở Lào từ ít nhất 1.100 năm trước đây. Ngày nay các dòng lúa nếp cao sản đã được trồng phổ biến ở Lào, và hơn 70% diện tích lúa ở thung lũng sông Mê Kông trồng các dòng lúa này. Ở Trung Quốc, lúa nếp được trồng từ ít nhất 2.000 năm trước đây[2]. Theo truyền thuyết, gạo nếp được dùng làm hồ dính khi xây Vạn Lý Trường Thành, và các phân tích hóa học tại thành Tây An đã khẳng định điều này[3].

Tại Việt Nam có gạo nếp cẩm dùng để nấu xôi hoặc nấu rượu nếp cẩm. Nếp cái hoa vàng được coi là một đặc sản.

 
Món ăn rất phổ biến ở Lào, gồm som tam (nộm đu đủ), kai yang (gà chặt miếng) và khao niao (cơm nếp).

Thành phầnSửa đổi

Gạo nếp không chứa gluten tiêu hóa (nghĩa là không chứa gluteningliadin), do vậy an toàn cho chế độ ăn không có gluten. Điểm phân biệt gạo nếp với các loại gạo khác là gạo nếp không chứa amyloza hoặc chứa không đáng kể, ngược lại chứa hàm lượng amylopectin rất cao. Chính amylopectin tạo ra tính chất dính của gạo nếp[2][4].

Gạo nếp có thể sử dụng dưới dạng gạo xát (đã tách lớp cám) hoặc gạo lật[5].

Các loại gạo nếp phổ biếnSửa đổi

Gạo nếp cái Hoa VàngSửa đổi

Nếp Cái Hoa Vàng là một trong những loại nếp được ưa chuộng và thông dụng nhất Việt Nam, đặc biệt là khu vực phía Bắc. Nhắc đến nếp cái là nghĩ ngay đến bánh chưng - món ăn quen thuộc mùa Tết cổ truyền và rượu nếp cái hoa vàng. Có rất nhiều thương hiệu nổi tiếng của Nếp Cái Hoa Vàng như: Gia Miêu ngoại trang, Kinh Môn Hải Dương, Yên Phong,...

Nếp nương Điện BiênSửa đổi

Nếp nương Điện Biên là đặc sản nổi tiếng vùng đất Tây Bắc. Nhắc đến Nếp nương thì không thể bỏ qua đặc tính ưu việt "không cần sử dụng phân vô cơthuốc bảo vệ thực vật", loại nếp đặc biệt khi nấu lên có mùi thơm nồng nàn, lan tỏa cả gian bếp, hạt sáng bóng, dẻo dẻo mềm mềm, ngọt hậu và không kết dính như các loại nếp khác.

Nếp nhungSửa đổi

Nếp Nhung là giống lúa nếp cổ truyển được trồng nhiều ở các vùng Đồng Bằng Bắc Bộ như Bắc Giang, Bắc Ninh, Hưng Yên. Đây là loại gạo nếp có sản lượng cao nhất cả nước, hạt tròn, to đặc trưng. Hạt gạo trắng ngà, thơm nhẹ đặc trưng, dù để nguội vần giữ trọn độ kết dính. Thường Nếp Nhung được lựa chọn làm món bánh dày, bánh đúc,...

Nếp cẩmSửa đổi

Nếp cẩm còn gọi là nếp than, nếp đen hay nếp tím vì sự khác biệt về màu sắc so với tất cả gạo nếp trắng còn lại. Hạt nếp đều, thon dài, thơm nhẹ nhàng, được dùng để nấu xôi nếp cẩm nổi tiếng cả nước. Ngoài ra, nhờ thành phần dinh dưỡng cao, nếp cẩm còn dùng để nấu rượu huyết mễ, có tác dụng trừ giun sán, kích thích tiêu hóa. Các món ăn nổi tiếng từ nếp cẩm như: sữa chua nếp cẩm, xôi nếp cẩm, bánh ít nếp cẩm,...

Nếp Pì PấtSửa đổi

Gạo Pì Pất nấu chín có mùi thơm của mỡ vịt. Gạo nếp Pì Pất được nông dân vùng Cao Bằng trồng từ rất lâu đời, nhưng qua nhiều năm do chưa chú trọng áp dụng canh tác tiên tiến nên bị thoái hóa và chất lượng bị mai một. Nhằm phục tráng lại giống gạo nếp này, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ Cao Bằng đã triển khai thực hiện Đề tài Nghiên cứu vào năm 2011. Nếp Pì Pất đa số được dùng nấu xôi, bánh gai và các món đặc trưng Cao Bằng.

Thực phẩmSửa đổi

Từ gạo nếp có thể chế biến các món như cơm nếp, xôi, bánh chưng, các món chè, hoặc cất rượu nếp, rượu đếư và ngâm rượu cần.

Bột gạo nếp được dùng để làm các món bánh như bánh nếp, bánh giầy, bánh rán, bánh trôi, bánh gai, bánh cốm...

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Delforge, Isabelle (2001). “Laos at the crossroads”.
  2. ^ a ă “NC State Geneticists Study Origin, Evolution of "Sticky" Rice”. 21 tháng 10 năm 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2010.
  3. ^ Xinhua News Agency (27 tháng 2 năm 2005). “Sticky porridge used to cement ancient walls”.
  4. ^ Kenneth M. Olsen and Michael D. Purugganan (1 tháng 10 năm 2002). “Molecular evidence on the origin and evolution of glutinous rice”. Genetics. 162 (2): 941–950. PMC 1462305. PMID 12399401.
  5. ^ Kenneth F. Kiple, Kriemhild Coneè Ornelas. The Cambridge World History of Food. tr. 143.

Liên kết ngoàiSửa đổi