Khánh Huệ (tiếng Mãn: ᡴᡳᠩᡥᡠᡳ, Möllendorff: Kinghui, phồn thể: 慶惠, giản thể: 庆惠; 23 tháng 11 năm 1819 - 2 tháng 9 năm 1861), Ái Tân Giác La, là một Hoàng thân thuộc 1 trong 12 Thiết mạo tử vương của nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc.

Khánh Huệ
庆惠
Quận vương nhà Thanh
Đa La Khắc Cần Quận vương
Tại vị1840 - 1861
Tiền nhiệmThừa Thạc
Kế nhiệmTấn Kỳ
Thông tin chung
Sinh(1819-11-19)19 tháng 11, 1819
Mất2 tháng 9, 1861(1861-09-02) (41 tuổi)
Phối ngẫuxem văn bản
Hậu duệxem văn bản
Tên đầy đủ
Ái Tân Giác La Khánh Huệ
(愛新覺羅 庆惠)
Thụy hiệu
Đa La Khắc Cần Kính Quận vương
(多羅克勤敬郡王)
Hoàng tộcÁi Tân Giác La
Thân phụKhắc Cần Quận vương Thừa Thạc
Thân mẫuĐích Phúc tấn Nữu Hỗ Lộc thị

Cuộc đờiSửa đổi

Khánh Huệ sinh vào giờ Dần, ngày 6 tháng 10 (âm lịch) năm Gia Khánh thứ 24 (1819), trong gia tộc Ái Tân Giác La. Ông là con trai trưởng của Khắc Cần Khác Quận vương Thừa Thạc, mẹ ông là Đích Phúc tấn Nữu Hỗ Lộc thị (鈕祜祿氏).[1]

Năm Đạo Quang thứ 18 (1838), tháng 12, ông được phong làm Tam đẳng Thị vệ.

Năm thứ 20 (1840), tháng 2, phụ thân ông qua đời, ông được thế tập tước vị Khắc Cần Quận vương (克勤郡王) đời thứ 14.

Năm thứ 22 (1842), tháng 12, trở thành Tổng tộc trưởng của Chính Hồng kỳ (正紅旗總族長).[2]

Năm Hàm Phong thứ 8 (1858), tháng 5, nhậm chức Đô thống Mông Cổ Tương Bạch kỳ. Tháng 7 cùng năm, điều làm Đô thống Mãn Châu Chính Bạch kỳ. Đến tháng 10, lại nhậm chức Đô thống Hán quân Chính Hoàng kỳ.

Năm thứ 10 (1860), tháng 2, lại điều làm Đô thống Mãn Châu Chính Lam kỳ.

Khi Hàm Phong Đế đến Nhiệt Hà để tránh nóng, thực chất là chạy trốn liên quân Anh - Pháp, ông được mệnh ở lại kinh sư làm việc. Liên quân Anh - Pháp đốt phá Viên Minh viên, ông thượng tấu thỉnh cầu Cung Thân vương Dịch Hân vào kinh để nghị hòa với liên quân.

Năm thứ 11 (1861), ngày 28 tháng 7 (âm lịch), giờ Hợi, ông qua đời, thọ 43 tuổi, được truy thụy Khắc Cần Kính Quận vương (克勤敬郡王).

Gia quyếnSửa đổi

Thê thiếpSửa đổi

Đích Phúc tấnSửa đổi

  • Nguyên phối: Bá La Đặc thị (伯羅特氏), con gái của Nhất đẳng Thành Dũng công Dụ Hằng (裕恒).
  • Kế thất: Bá La Đặc thị (伯羅特氏), em gái của Nguyên phối.

Trắc Phúc tấnSửa đổi

  • Dương Giai thị (楊佳氏), con gái của Kính Đức (敬德).
  • Ngô Giai thị (吳佳氏), con gái của Quảng Lượng (广亮).

Tiểu thiếpSửa đổi

  • Trần Giai thị (陳佳氏), con gái của Thanh Lâm (青林).
  • Tư Giai thị (司佳氏), con gái của Đức Lộc (德禄).

Hậu duệSửa đổi

Con traiSửa đổi

  1. Tấn Kỳ (晉祺; 1846 - 1900), mẹ là Trắc Phúc tấn Ngô Giai thị. Năm 1861 được thế tập tước vị Khắc Cần Quận vương. Sau khi qua đời được truy thụy Khắc Cần Thành Quận vương (克勤誠郡王). Có tám con trai.
  2. Duyên Kỳ (延祺, 1846 - 1897), mẹ là Trắc Phúc tấn Dương Giai thị. Được phong làm Tam đẳng Trấn quốc Tướng quân (三等鎮國將軍). Có ba con trai.
  3. Hữu Kỳ (佑祺, 1849 - 1876), mẹ là Trắc Phúc tấn Trần Giai thị. Được phong làm Tam đẳng Trấn quốc Tướng quân (三等鎮國將軍). Vô tự.
  4. Linh Kỳ (齡祺, 1852 - 1900), mẹ là Trắc Phúc tấn Tư Giai thị. Được phong làm Phụng quốc Tướng quân (奉國將軍). Có hai con trai.
  5. Tông Kỳ (宗祺, 1853 - 1883), mẹ là Trắc Phúc tấn Tư Giai thị. Được ban thưởng mũ mão Nhị phẩm. Vô tự.
  6. Sùng Kỳ (崇祺, 1857 - 1857), mẹ là Trắc Phúc tấn Trần Giai thị. Chết yểu.
  7. Tăng Kỳ (增祺, 1858 - ?), mẹ là Trắc Phúc tấn Trần Giai thị. Được phong làm Phụng quốc Tướng quân (奉國將軍).

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “Ái Tân Giác La tông phổ”. 《愛新覺羅宗譜》6册乙二第3164頁記載:承碩長子-慶惠(多羅克勤敬郡王) 生有七子 嘉慶廿四年(1819)己卯十月初六日寅時生,母嫡福晋鈕祜祿氏承恩公和世泰之女,道光十五年十二月賞二品頂戴,十八年十二月賞三等侍衛,二十年二月襲多羅克勤郡王,廿二年十月授正紅旗總族長,咸豐元年三月賞戴三眼花翎,是月授十五善射大臣,四年三月派出督辦捐助事務,六月管理鑲白旗覺羅學事務,八年五月署理鑲白旗蒙古都統,七月署理正白旗滿洲都統,十月授正黃旗漢軍都統,十二月授管宴大臣,九年正月署理正黃旗領侍衛內大臣,十年二月署理正藍旗滿洲都統,六月派稽查城內七倉大臣,七月欽命總管九城巡守大臣,八月佩帶上虞備用處內外滿洲火器營印錀,十月管理正黃旗新舊營房大臣,十一年二月署理鑲藍旗漢軍都統,五月署理左右翼宗學事務,咸豐十一年(1861)辛酉七月廿八日亥時薨,年43歲,諡曰敬,嫡福晋伯羅特氏一等誠勇公裕恒之女,繼福晋伯羅特氏一等誠勇公裕恒之女,側福晋楊佳氏敬德之女,側福晋吳佳氏廣亮之女,側室陳佳氏青林之女,側室司佳氏德祿之女。 (原书稿正黃漢旗軍错误,应该是正黃旗漢軍,特此更正) (原书稿曰諡敬错误,应该是諡曰敬,特此更正) line feed character trong |trích dẫn= tại ký tự số 38 (trợ giúp)
  2. ^ Những năm Ung Chính, kỳ tịch của Tông thất (Cận chi) được chia theo "Tả dực" (gồm Tương Hoàng, Chính Bạch, Tương Bạch, Chính Lam) cùng "Hữu dực". Mỗi "dực" sẽ được chia làm 20 "Tộc" (như Tả dực có Tương Hoàng 1 tộc, Chính Bạch 3 tộc, Tương Bạch 3 tộc, Chính Lam 13 tộc). Vậy tổng cộng là 40 tộc với 40 Tộc trưởng. Đến những năm Càn Long, tất cả 40 tộc này được xếp vào "Viễn chi", thiết lập 16 "Tổng tộc trưởng". Mỗi Tổng tộc trưởng đều do đích thân Hoàng Đế bổ nhiệm, có thể không thuộc kỳ mình quản lý.