Lịch sử hành chính Cao Bằng được lấy mốc từ năm 1832 khi vua Minh Mạng thực hiện cải cách hành chính ở miền Bắc, đổi trấn Cao Bằng làm tỉnh Cao Bằng. Đến thời điểm hiện tại, tỉnh Cao Bằng bao gồm 1 thành phố và 11 huyện: Trong đó có 161 đơn vị hành chính cấp xã gồm 139 xã, 8 phường, 14 thị trấn.

Trước khi thành lập tỉnhSửa đổi

Theo sách Đại Nam nhất thống chí, đất Cao Bằng xưa thuộc bộ Vũ Định thời Hùng Vương. Đến đời Lý về sau là đất Thái Nguyên. Năm 1467, đặt thành Thái Nguyên thừa tuyên, gọi là phủ Bắc Bình. Năm 1470, đổi thành Ninh Sóc thừa tuyên, không lâu sau lại đổi về Thái Nguyên thừa tuyên, đổi thành phủ Cao Bình. Phủ Cao Bình bấy giờ lãnh 4 châu là Thái Nguyên, Lộng Nguyên, Thượng Lang và Hạ Lang. Về sau, châu Thái Nguyên đổi thành châu Thạch Lâm và châu Lộng Nguyên đổi thành châu Quảng Uyên.

Năm 1676, nhà Lê thu phục lại đất Cao Bằng từ tay nhà Mạc, đặt lại thành trấn Cao Bình, lãnh một phủ Cao Bình, các châu vẫn giữ như cũ, do các thổ ty cai trị. Đến đời Tây Sơn, tên Cao Bình dần trại ra thành Cao Bằng. Khi Gia Long thu phục Cao Bằng vẫn giữ tên gọi đấy, đặt ra các chức trấn thủ, hiệp trấn và tham trấn để cai trị vùng biên cương này.

Cao Bằng thời Nguyễn và Pháp thuộcSửa đổi

Sau năm 1945Sửa đổi

Sau năm 1945, bỏ cấp phủ, gọi chung là huyện. Tổ chức hành chính trên địa bàn gồm thị xã Cao Bằng và 10 huyện: Bảo Lạc, Hạ Lang, Hà Quảng, Hòa An, Nguyên Bình, Phục Hòa, Quảng Uyên, Thạch An, Trấn Biên, Trùng Khánh.

Năm 1958, huyện Trấn Biên đổi tên thành huyện Trà Lĩnh.

Năm 1963, thành lập thị trấn Tĩnh Túc trực thuộc tỉnh Cao Bằng.[1]

Năm 1966, thành lập huyện Thông Nông.[2]

Năm 1967, hợp nhất huyện Quảng Uyên và huyện Phục Hòa thành một huyện lấy tên là huyện Quảng Hòa.[3]

Năm 1969, giải thể huyện Hạ Lang, địa bàn nhập vào các huyện Quảng Hòa và Trùng Khánh.[4]

Năm 1975, tỉnh Cao Bằng và tỉnh Lạng Sơn được hợp nhất thành một tỉnh lấy tên là tỉnh Cao Lạng.[5]

Năm 1978, tỉnh Cao Bằng được tái lập, hai huyện Ngân SơnChợ Rã của tỉnh Bắc Thái được sáp nhập vào tỉnh Cao Bằng. Tỉnh Cao Bằng có 12 đơn vị hành chính gồm thị xã Cao Bằng và 11 huyện: Bảo Lạc, Chợ Rã, Hà Quảng, Hòa An, Ngân Sơn, Nguyên Bình, Quảng Hòa, Thạch An, Thông Nông, Trà Lĩnh, Trùng Khánh.[6]

Năm 1979, hợp nhất một số xã thuộc huyện Ngân Sơn: hợp nhất xã Bằng Khẩu và Bằng Đức, lấy tên là xã Bằng Vân.[7]

Năm 1980, điều chỉnh địa giới một số xã, thị trấn thuộc các huyện Trùng Khánh và Ngân Sơn.[8]

  • Giải thể xã Quang Thành (Trùng Khánh), sáp nhập vào các xã Đình Phong, Chí Viễn, Phong Châu
  • Thành lập thị trấn Nà Phặc (Ngân Sơn) trên cơ sở toàn bộ xã Thiều Quan và một phần xã Trung Hòa

Năm 1981, điều chỉnh địa giới một số xã thuộc các huyện Bảo Lạc, Hà Quảng, Quảng Hòa, Thông Nông, Trà Lĩnh, Trùng Khánh[9], tái lập huyện Hạ Lang và đặt thị trấn Tĩnh Túc trực thuộc huyện Nguyên Bình[10]. Cùng năm, điều chỉnh địa giới một số phường, xã thuộc thị xã Cao Bằng[11]

  • Thành lập phường Sông Bằng và xã Ngọc Xuân (thị xã Cao Bằng) trên cơ sở tiểu khu Sông Bằng
  • Thành lập phường Sông Hiến và xã Hòa Chung (thị xã Cao Bằng) trên cơ sở tiểu khu Sông Hiến
  • Thành lập phường Tân Giang và xã Duyệt Trung (thị xã Cao Bằng) trên cơ sở tiểu khu Nà Phía
  • Thành lập phường Hợp Giang (thị xã Cao Bằng) trên cơ sở tiểu khu Nội Thị
  • Sáp nhập xã Xuân Trường và xã Đồng Mu (huyện Bảo Lạc) thành một xã lấy tên là xã Xuân Trường.
  • Tách các xóm Già Mò, Cốc Thốc, Bó Vài, Nà Quằng, Nà Viềng, Khuối Pựt, Bản Chang, Ngàm Giàng, Phìn Sáng, Lũng Nà của xã Cô Ba để sáp nhập vào xã Thượng Hà (huyện Bảo Lạc).
  • Tách các xóm Lũng Tải, Lũng Pán, Sộc Nặm của xã Nội Thôn để sáp nhập vào xã Cải Viên (huyện Hà Quảng).
  • Tách các xóm Chả Vạc, Bản Kiễng, Lũng Rẫn, Pác Tém của xã Nội Thôn để sáp nhập vào xã Vân An (huyện Hà Quảng).
  • Tách các xóm Ảng Bó, Kéo Quyển của xã Vân An; các xóm Nặm Rím, Thiêng Vài của xã Kéo Yên và các xóm Pó Tán, Cà Diễng, Bó Thon, Lũng In, Tổng Pó của xã Thượng Thôn để sáp nhập vào xã Lũng Nặm (huyện Hà Quảng).
  • Sáp nhập xã Yên Lũng và xã Kéo Yên (trừ hai xóm Nặm Rím, Thiêng Vài) thành một xã lấy tên là xã Kéo Yên (huyện Hà Quảng).
  • Tách các xóm Nà Kéo, Nà Mạ của xã Xuân Hoà để sáp nhập vào xã Trường Hà (huyện Hà Quảng).
  • Đổi tên xã Quy Thuận (huyện Quảng Hòa) thành xã Tà Lùng.
  • Sáp nhập xã Đại Tiến và xã Đà Sơn (huyện Quảng Hòa) thành một xã lấy tên là xã Đại Sơn.
  • Tách các xóm Luộc Tháy, Thôm Rin, Nà Mầm, Nà Đắng, Nà Tính, Nà Kéo, Bản Ngay, Lũng Thán của xã Quang Long và xóm Sa Tao của xã Thanh Nhật để sáp nhập vào xã Việt Chu (huyện Quảng Hòa).
  • Tách các xóm Slằng Vài, Bó Bẻ, Noọc Tổng của xã Hồng Đại để sáp nhập vào xã Cách Linh (huyện Quảng Hòa).
  • Chia xã Cần Yên (huyện Thông Nông) thành hai xã lấy tên là xã Cần Yên và xã Vị Quang.
  • Thành lập xã Đồng Loan (huyện Trùng Khánh) trên cơ sở sáp nhập các xóm Lũng Nặm, Lũng Sún, Lũng Phục, Lũng Bụa, Lũng Cúng, Lũng Mán tách từ xã Lý Quốc; các xóm Bản Nha, Luộc Phiong tách từ xã Minh Long và các xóm Khau Ra, Bản Sáng, Bản Len, Bản Lũng, Bản Miao, Bản Thuộc tách từ xã Thắng Lợi.
  • Tách các xóm Lý Vạn, Lũng Phấu, Khi Chao, Nậm Tốc của xã Minh Long để sáp nhập vào xã Lý Quốc (huyện Trùng Khánh).
  • Tách các xóm Sộc Mạ, Háng Thoang, Lũng Phiắc của xã Chí Viễn để sáp nhập vào xã Đàm Thuỷ (huyện Trùng Khánh).
  • Tách các xóm Kép Ké, Pò Nghiền, Cốc Sâu của xã Sóc Hà và các xóm Hoà Mục, Khuổi Ra của xã Xuân Hoà để sáp nhập vào xã Nà Sác (huyện Trùng Khánh).
  • Sáp nhập xã Quốc Toản (trừ các xóm Bản Kính, Pò Huyền, Phia Tập, Slằng Kheo) của huyện Quảng Hoà vào huyện Trà Lĩnh.
  • Sáp nhập xã Cô Mười của huyện Hà Quảng vào huyện Trà Lĩnh.

Năm 1984, đổi tên huyện Chợ Rã thành huyện Ba Bể.[12]

Năm 1996, sáp nhập các huyện Ngân Sơn và Ba Bể về tỉnh Bắc Kạn vừa tái lập.[13]

Năm 1999, thành lập thị trấn huyện lị thuộc các huyện Trà Lĩnh, Thông Nông, Thạch An và điều chỉnh địa giới một số xã, thị trấn thuộc huyện Quảng Hòa.[14]

  • Thành lập thị trấn Hùng Quốc (Trà Lĩnh) trên cơ sở toàn bộ xã Hùng Quốc
  • Thành lập thị trấn Thông Nông (Thông Nông) trên cơ sở một phần xã Đa Thông
  • Thành lập thị trấn Đông Khê (Thạch An) trên cơ sở toàn bộ xã Thượng Pha và một phần xã Lê Lai
  • Thành lập thị trấn Tà Lùng (Quảng Hòa) trên cơ sở một phần xã Tà Lùng. Đổi tên xã Tà Lùng thành xã Hòa Thuận

Năm 2000, thành lập huyện Bảo Lâm.[15] Huyện Bảo Lâm tách từ huyện Bảo Lạc, gồm 10 đơn vị hành chính Đức Hạnh, Lý Bôn, Vĩnh Quang, Vĩnh Phong, Nam Quang, Tân Việt, Quảng Lâm, Mông Ân, Thái Học, Yên Thổ.

Năm 2001, chia huyện Quảng Hòa thành hai huyện như cũ.[16]

Năm 2002, sáp nhập xã Đề Thám của huyện Hòa An vào thị xã Cao Bằng.[17]

Năm 2006, thành lập một số xã, thị trấn thuộc các huyện Hà Quảng, Bảo Lâm, Hạ Lang.[18]

  • Thành lập thị trấn Xuân Hòa (Hà Quảng) trên cơ sở một phần xã Xuân Hòa
  • Thành lập xã Vần Dĩnh (Hà Quảng) trên cơ sở phần còn lại xã Xuân Hòa và một phần xã Thượng Thôn
  • Thành lập thị trấn Pác Miầu (Bảo Lâm) trên cơ sở một phần xã Mông Ân
  • Một phần của xã Mông Ân sáp nhập vào các xã Quảng Lâm và Thái Học (Bảo Lâm)
  • Thành lập xã Thạch Lâm (Bảo Lâm) trên cơ sở một phần xã Quảng Lâm
  • Thành lập xã Nam Cao (Bảo Lâm) trên cơ sở một phần xã Nam Quang
  • Thành lập xã Thái Sơn (Bảo Lâm) trên cơ sở một phần xã Thái Học
  • Thành lập thị trấn Thanh Nhật (Hạ Lang) trên cơ sở toàn bộ xã Thanh Nhật

Năm 2007, thành lập một số xã, thị trấn thuộc các huyện Bảo Lạc, Thông Nông, Trùng Khánh, Phục Hòa.[19]

  • Thành lập xã Kim Cúc (Bảo Lạc) trên cơ sở một phần xã Hồng Trị
  • Sáp nhập một phần xã Hồng Trị và Thượng Hà vào thị trấn Bảo Lạc (Bảo Lạc)
  • Thành lập xã Hưng Thịnh (Bảo Lạc) trên cơ sở một phần xã Hưng Đạo
  • Thành lập xã Sơn Lập (Bảo Lạc) trên cơ sở một phần xã Sơn Lộ
  • Thành lập xã Cần Nông (Thông Nông) trên cơ sở một phần xã Cần Yên
  • Thành lập xã Ngọc Côn (Trùng Khánh) trên cơ sở một phần xã Ngọc Khê
  • Thành lập thị trấn Hòa Thuận (Phục Hòa) trên cơ sở toàn bộ xã Hòa Thuận

Năm 2010, sáp nhập các xã: Chu Trinh, Hưng Đạo, Vĩnh Quang của huyện Hòa An vào thị xã Cao Bằng; thành lập các phường Đề Thám và Ngọc Xuân thuộc thị xã Cao Bằng và mở rộng thị trấn Quảng Uyên thuộc huyện Quảng Uyên.[20]

Năm 2012, thành lập các phường Hòa Chung và Duyệt Trung thuộc thị xã Cao Bằng[21]. Cùng năm, thành lập thành phố Cao Bằng[22].

Năm 2020, tái sáp nhập huyện Thông Nông vào huyện Hà Quảng; sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tất cả các đơn vị hành chính của tỉnh Cao Bằng (trừ thành phố Cao Bằng và huyện Bảo Lạc)[23]. Cùng năm, tái hợp nhất huyện Quảng Uyên và huyện Phục Hòa thành huyện Quảng Hòa và sáp nhập huyện Trà Lĩnh (trừ xã Quốc Toản nhập về huyện Quảng Hòa) vào huyện Trùng Khánh.[24]

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Quyết định số 26-CP năm 1963 của Hội đồng Bộ trưởng.
  2. ^ Quyết định số 67-CP năm 1966 của Hội đồng Chính phủ.
  3. ^ Nghị định số 27-CP năm 1967 của Hội đồng Chính phủ.
  4. ^ Nghị định số 176-CP năm 1969 của Hội đồng Chính phủ.
  5. ^ Nghị quyết của Quốc hội khóa V ngày 27-12-1975.
  6. ^ Nghị quyết của Quốc hội khóa VI ngày 29-12-1978.
  7. ^ Quyết định số 16-CP năm 1979 của Hội đồng Chính phủ.
  8. ^ Quyết định số 332-CP năm 1980 của Hội đồng Chính phủ.
  9. ^ Quyết định số 245-CP năm 1981 của Hội đồng Chính phủ.
  10. ^ Quyết định số 44-HĐBT năm 1981 của Hội đồng Bộ trưởng.
  11. ^ Quyết định số 60-HĐBT năm 1981 của Hội đồng Bộ trưởng.
  12. ^ Quyết định số 144-HĐBT năm 1984 của Hội đồng Bộ trưởng.
  13. ^ Nghị quyết của Quốc hội khóa IX ngày 6-11-1996.
  14. ^ Nghị định số 69/1999/NĐ-CP của Chính phủ.
  15. ^ Nghị định số 52/2000/NĐ-CP của Chính phủ.
  16. ^ Nghị định số 96/2001/NĐ-CP của Chính phủ.
  17. ^ Nghị định số 77/2002/NĐ-CP của Chính phủ.
  18. ^ Nghị định số 125/2006/NĐ-CP của Chính phủ.
  19. ^ Nghị định số 183/2007/NĐ-CP của Chính phủ.
  20. ^ Nghị quyết số 42/NQ-CP năm 2010 của Chính phủ.
  21. ^ Nghị quyết số 27/NQ-CP năm 2012 của Chính phủ.
  22. ^ Nghị quyết số 60/NQ-CP năm 2012 của Chính phủ.
  23. ^ Nghị quyết số 864/NQ-UBTVQH14 năm 2020 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  24. ^ Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.