Mở trình đơn chính

Lạng Sơn còn gọi là xứ Lạng là một tỉnh miền núi ở vùng Đông Bắc Việt Nam.

Lạng Sơn

Tỉnh
Logo Lang Son.PNG
Biểu trưng
Mau Son.JPG
Hành chính
VùngĐông Bắc
Tỉnh lỵThành phố Lạng Sơn
Phân chia hành chính1 thành phố và 10 huyện
Chính quyền
Chủ tịch UBNDPhạm Ngọc Thưởng
Chủ tịch HĐNDHoàng Văn Nghiệm
Chánh án TANDNguyễn Thế Lệ
Viện trưởng VKSNDHồ Thị Lan Anh
Bí thư Tỉnh ủyLâm Thị Phương Thanh
Địa lý
Tọa độ: 21°51′14″B 106°45′40″Đ / 21,853851°B 106,761189°Đ / 21.853851; 106.761189Tọa độ: 21°51′14″B 106°45′40″Đ / 21,853851°B 106,761189°Đ / 21.853851; 106.761189
Diện tích8.310,2 km²
Dân số (1/4/2019)
Tổng cộng781.655 người[1]
Thành thị159.670 người (20,4%)
Nông thôn621.985 người (79,6%)
Mật độ105 người/km²
Dân tộcViệt, Tày, Dao, Nùng
Khác
Mã hành chínhVN-09
Mã bưu chính24xxxx
Mã điện thoại205
Biển số xe12
Websitehttp://www.langson.gov.vn/

Địa lýSửa đổi

Vị tríSửa đổi

Có vị trí 20°27'-22°19' vĩ Bắc, 106°06'-107°21' kinh Đông.

Lạng Sơn có 2 cửa khẩu quốc tế: cửa khẩu Ga đường sắt Đồng Đăng huyện Cao Lộc và cửa khẩu đường bộ Hữu Nghị; có một cửa khẩu quốc gia: Chi Ma (Huyện Lộc Bình)và 10 lối mở biên giới với Trung Quốc.

Địa hìnhSửa đổi

 
sông Kỳ Cùng và tuyến phố nằm bên sông

Đồi núi chiếm hơn 80% diện tích cả tỉnh.

Dạng địa hình phổ biến ở Lạng Sơn là núi thấp và đồi, độ cao trung bình 252 m so với mặt nước biển. Nơi thấp nhất là 20 m ở phía nam huyện Hữu Lũng và nơi cao nhất là núi Mẫu Sơn 1541m. Mẫu Sơn cách thành phố Lạng Sơn 31 km về phía đông, được bao bọc bởi nhiều ngọn núi lớn nhỏ, thỉnh thoảng có tuyết rơi vào mùa đông.

Khí hậu, thời tiếtSửa đổi

Khí hậu của Lạng Sơn thể hiện rõ nét khí hậu cận nhiệt đới ẩm của miền Bắc Việt Nam. Khí hậu phân mùa rõ rệt, ở các mùa khác nhau nhiệt độ phân bố không đồng đều do sự phức tạp của địa hình miền núi và sự biến tính nhanh chóng của không khí lạnh trong quá trình di chuyển ở vùng nội chí tuyến đã gây nên những chênh lệch đáng kể trong chế độ nhiệt giữa các vùng.

  • Nhiệt độ trung bình năm: 17-22 °C
  • Lượng mưa trung bình hàng năm: 1200–1600 mm
  • Độ ẩm tương đối trung bình năm: 80-85%
  • Lượng mây trung bình năm khoảng 7,5/10 bầu trời
  • Số giờ nắng trung bình khoảng 1600 giờ

Hướng gió và tốc độ gió của Lạng Sơn vừa chịu sự chi phối của yếu tố hoàn lưu, vừa bị biến dạng bởi địa hình. Mùa lạnh thịnh hành gió Bắc, mùa nóng thịnh hành gió Nam và Đông Nam. Tốc độ gió nói chung không lớn, trung bình 0,8–2 m/s song phân hoá không đều giữa các vùng trong tỉnh.

Hệ thống sông ngòiSửa đổi

Mật độ sông suối của Lạng Sơn thuộc loại trung bình đến khá dày, qua địa phận có các sông chính là:

  • Sông Kỳ Cùng Độ dài: 243 km, Diện tích lưu vực: 6660 km², bắt nguồn từ vùng núi Bắc Xa cao 1166 m thuộc huyện Đình Lập, sông Kỳ Cùng thuộc lưu vực sông Tây Giang, Trung Quốc. Đây là con sông duy nhất ở miền Bắc Việt Nam chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc, do vậy mảnh đất xứ Lạng còn được gọi là "nơi dòng sông chảy ngược".
  • Sông Bản Thí, phụ lưu của sông Kỳ Cùng.Độ dài: 52 km, Diện tích lưu vực: 320 km², bắt nguồn từ vùng núi cao thuộc Quảng Tây (Trung Quốc) đổ vào bờ phải sông Kỳ Cùng ở xã Khuất Xá huyện Lộc Bình.
  • Sông Bắc Giang, phụ lưu của sông Kỳ Cùng.Độ dài: 114 km, Diện tích lưu vực: 2670 km²,
  • Sông Bắc Khê, phụ lưu của sông Kỳ Cùng, Độ dài: 54 km, Diện tích lưu vực: 801 km²
  • Sông Thương là sông lớn thứ hai của Lạng Sơn, bắt nguồn từ dãy núi Na Pa Phước (huyện Chi Lăng) chảy trong máng trũng Mai Sao - Chi Lăng và chảy vào địa phận tỉnh Bắc Giang, Độ dài: 157 km, Diện tích lưu vực: 6640 km²
  • Sông Hoá, Độ dài: 47 km, Diện tích lưu vực: 385 km²
  • Sông Trung, Độ dài: 35 km, Diện tích lưu vực: 1270 km²

Hành chínhSửa đổi

Tỉnh Lạng Sơn có 11 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm 1 thành phố Lạng Sơn và 10 huyện: Bắc Sơn, Bình Gia, Cao Lộc, Chi Lăng, Đình Lập, Hữu Lũng, Lộc Bình, Tràng Định, Văn Lãng, Văn Quan với 226 đơn vị hành cấp xã, bao gồm 5 phường, 14 thị trấn và 207 xã.

Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Lạng Sơn
Tên Dân số (người)2018 Hành chính
Thành phố (1)
Lạng Sơn 159.670 5 phường, 3 xã
Huyện (10)
Bắc Sơn 65.840 1 thị trấn, 19 xã
Bình Gia 52.710 1 thị trấn, 19 xã
Cao Lộc 73.520 2 thị trấn, 21 xã
Chi Lăng 77.000 2 thị trấn, 19 xã
Tên Dân số (người)2018 Hành chính
Đình Lập 36.740 2 thị trấn, 10 xã
Hữu Lũng 115.380 1 thị trấn, 25 xã
Lộc Bình 82.400 2 thị trấn, 27 xã
Tràng Định 61.950 1 thị trấn, 22 xã
Văn Lãng 54.800 1 thị trấn, 19 xã
Văn Quan 57.040 1 thị trấn, 23 xã

Lịch sửSửa đổi

 
Hữu Nghị Quan

Sau khi Thăng Long thất thủ năm 1592, nhà Mạc chạy về Cao Bằng. Trong thời gian từ 1593-1677 đã xây dựng thành nhà Mạc tại Lạng Sơn để chống lại tiến công của Nhà Lê - Trịnh.

Lạng Sơn là một trong 13 tỉnh được vua Minh Mạng thành lập đầu tiên ở Bắc Kỳ (năm 1831).

Từ ngày 9 tháng 9 năm 1891 đến ngày 20 tháng 6 năm 1905, là Tiểu quân khu Lạng Sơn thuộc Đạo Quan binh II Lạng Sơn; sau đó tái lập tỉnh.

Trong kháng chiến chống Pháp, Lạng Sơn thuộc Liên khu Việt Bắc. Năm 1950, tỉnh Lạng Sơn có 9 huyện: Bằng Mạc, Bắc Sơn, Bình Gia, Cao Lộc, Điềm He, Lộc Bình, Ôn Châu, Thoát Lãng, Văn Uyên.

Ngày 1 tháng 7 năm 1956, huyện Hữu Lũng của tỉnh Bắc Giang và huyện Tràng Định của tỉnh Cao Bằng nhập vào tỉnh Lạng Sơn thuộc Khu tự trị Việt Bắc (được thành lập cùng ngày). Khu tự trị Việt Bắc tồn tại đến ngày 27 tháng 12 năm 1975.

Ngày 16 tháng 12 năm 1964, huyện Điềm He cùng 6 xã của huyện Bằng Mạc hợp nhất thành huyện mới Văn Quan; huyện Ôn Châu cùng 8 xã còn lại của huyện Bằng Mạc hợp nhất thành huyện mới Chi Lăng. Đến thời điểm này, huyện Bằng Mạc không còn tồn tại; hợp nhất 2 huyện Văn Uyên và Thoát Lãng thành huyện Văn Lãng.[2]

Từ ngày 27 tháng 12 năm 1975 đến ngày 29 tháng 12 năm 1978 nhập với tỉnh Cao Bằng thành tỉnh Cao Lạng.

Ngày 29 tháng 12 năm 1978 tái lập tỉnh Lạng Sơn, đồng thời sáp nhập huyện Đình Lập của tỉnh Quảng Ninh về tỉnh Lạng Sơn vừa tái lập.[3]

Ngày 17 tháng 10 năm 2002, chuyển thị xã Lạng Sơn thành thành phố Lạng Sơn[4]. Tỉnh Lạng Sơn có 1 thành phố và 10 huyện như hiện nay.

Ngày 25 tháng 3 năm 2019, thành phố Lạng Sơn được công nhận là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Lạng Sơn.

Giao thôngSửa đổi

Dân cưSửa đổi

 
Một con đường tại trung tâm thành phố Lạng Sơn

Dân số 781.655 người (điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 2019); có 7 dân tộc anh em, trong đó người dân tộc Nùng chiếm 42,97%, Tày chiếm 35,92%, Kinh 16,5%, còn lại là các dân tộc Dao, Hoa, Sán Chay, H'Mông... 20,4% dân số sống ở đô thị và 79,6% dân số sống ở nông thôn.

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh có 7 tôn giáo khác nhau đạt 4.821 người, nhiều nhất là Công giáo có 2.609 người, tiếp theo là đạo Tin Lành đạt 1.815 người, Phật giáo có 380 người. Còn lại các tôn giáo khác như Minh Lý đạo có sáu người, Hồi giáo có năm người, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có ba người, Phật giáo Hòa Hảo có hai người và 1 người theo đạo Cao Đài.[5]

Kinh tếSửa đổi

Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, tỉnh Lạng Sơn xếp ở vị trí thứ 53/63 tỉnh thành.[6]

Văn họcSửa đổi

 
Du khách đi qua Hữu Nghị Quan

Lạng Sơn có nhiều thắng cảnh nổi tiếng, được nhắc đến nhiều trong thi ca Việt Nam, ví dụ như bài ca dao truyền khẩu dưới đây:

Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa
nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh
Ai lên xứ Lạng cùng anh
Bõ công bác mẹ sinh thành ra em
Tay cầm bầu rượu nắm nem
Mải vui quên hết lời em dặn dò.[7]

Lễ hộiSửa đổi

Theo số liệu khảo sát của Sở Văn hóa - Thông tin Lạng Sơn, đến năm 2003, Lạng Sơn có trên 365 lễ hội dân gian với tính chất, quy mô lớn, nhỏ khác nhau. Các lễ hội tiêu biểu như:[8]

  • Lễ hội Lồng Tồng: được tổ chức vào ngày 4 tháng giêng âm lịch hàng năm, một trong những lễ hội lớn nhất vùng với nghi lễ tín ngưỡng cầu thành hoàng và thần nông. Qua khảo sát sơ bộ của ngành văn hoá - thông tin Lạng Sơn, toàn tỉnh có khoảng hơn 200 lễ hội Lồng Tồng với quy mô tổ chức theo một thôn, bản, một xã, một khu vực hay vài xã.
  • Lễ hội Bủng Kham: được tổ chức vào ngày 12 tháng giêng âm lịch hàng năm ở thôn Nà Phái, xã Đại Đồng, huyện Tràng Định. Tương truyền, Bủng Kham là nơi vui chơi giải trí của thần tiên.
  • Lễ hội Pác Mòng: được tổ chức vào ngày 5 tháng giêng âm lịch hàng năm với quy mô lớn ở thành phố Lạng Sơn. Đình Pác Mòng thờ vua Đinh Tiên Hoàng và các tướng lĩnh nhà Đinh đã từng lên đánh giặc phương Bắc và dẹp loạn biên giới thời xưa. Nhiều đời sau, dân trong vùng tưởng nhớ công lao của triều vua Đinh đã cùng nhau góp tiền của công sức, lập đình thờ phụng.
  • Lễ hội Nàng Hai: được tổ chức vào ngày 4 tháng 2 âm lịch hàng năm ở bản Nà Cạo, xã Chí Minh để cầu khấn các nàng tiên phù hộ cho một năm mưa thuận gió hòa, cầu cho mùa màng tươi tốt bội thu, cuộc sống yên vui.
  • Lễ hội Ná Nhèm là nghi thức, nghi lễ thờ cúng thành hoàng làng gắn liền với sự tích đánh giặc, giữ làng của người Tày (Trấn Yên).
  • Lễ hội đầu pháo Kỳ Lừa: Tổ chức từ ngày 22 đến 27 tháng riêng âm lịch tại đền Tả Phủ, chợ Kỳ Lừa, xã Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn.
  • Lễ hội đền Bắc Lệ là tín ngưỡng thờ Mẫu điển hình, được tổ chức trong vòng 3 ngày từ ngày 18 đến ngày 20 tháng 9 âm lịch hàng năm. Lễ hội gồm có các phần lễ chính như lễ tắm ngai, lễ chính tiệc, lễ rước. Lễ tắm ngai diễn ra trước lễ rước.

ẢnhSửa đổi

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ Đền Ký Cùng nằm bên tả ngạn sông Kỳ Cùng và ở ngay đầu cầu Kỳ Lừa, thuộc thành phố Lạng Sơn. Năm 1993, ngôi đền đã được công nhận là di tích cấp quốc gia (1993). Nguồn: Bảng giới thiệu di tích treo tại đền.
  2. ^ Bến đá Kỳ Cùng nằm bên hữu ngạn sông Kỳ Cùng, gần cầu Kỳ Lừa và đối diện với đền Kỳ Cùng. Khoảng năm 1778, đền đã được Đốc trấn Ngô Thì Sĩ liệt là một trong 8 cảnh đẹp của trấn lỵ Lạng Sơn (Trấn doanh bát cảnh). Năm 1993, Bến đá Kỳ Cùng đã được công nhận là di tích cấp quốc gia.

Tham khảoSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi