Lịch sử hành chính Lạng Sơn

Lạng Sơn là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Bộ. Phía bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía nam giáp các tỉnh Quảng NinhBắc Giang, phía đông giáp tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc, phía tây giáp các tỉnh Bắc KạnThái Nguyên.

Trước năm 1858Sửa đổi

Sau năm 1945Sửa đổi

Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, bỏ cấp phủ, gọi chung là huyện. Tổ chức hành chính trên địa bàn gồm thị xã Lạng Sơn và 9 huyện: Bắc Sơn, Bằng Mạc, Bình Gia, Cao Lộc, Điềm He, Ôn Châu, Thoát Lãng, Tràng Định, Văn Uyên.

Ngày 7 tháng 6 năm 1949, huyện Lộc Bình thuộc tỉnh Hải Ninh được sáp nhập vào tỉnh Lạng Sơn.[1]

Năm 1956, huyện Hữu Lũng thuộc tỉnh Bắc Giang được sáp nhập vào tỉnh Lạng Sơn.

Năm 1964, hợp nhất huyện Điềm He và 6 xã của huyện Bằng Mạc thành một huyện lấy tên là huyện Văn Quan; hợp nhất huyện Ôn Châu và 8 xã còn lại của huyện Bằng Mạc thành một huyện lấy tên là huyện Chi Lăng; hợp nhất huyện Văn Uyên và huyện Thoát Lãng thành một huyện lấy tên là huyện Văn Lãng.[2]

Năm 1965, thành lập thị trấn Hữu Lũng thuộc huyện Hữu Lũng.[3]

Năm 1975, hợp nhất tỉnh Cao Bằng và tỉnh Lạng Sơn thành một tỉnh lấy tên là tỉnh Cao Lạng[4].

Năm 1977, điều chỉnh địa giới thị xã Lạng Sơn và huyện Cao Lộc.[5]

  • Sáp nhập một phần huyện Cao Lộc (toàn bộ các xã Mai Pha, Hoàng Đồng, Hợp Thành, Quảng Lạc) vào thị xã Lạng Sơn

Năm 1978, tái lập tỉnh Lạng Sơn; chuyển huyện Đình Lập của tỉnh Quảng Ninh về tỉnh Lạng Sơn quản lý. Tỉnh Lạng Sơn có 11 đơn vị hành chính gồm thị xã Lạng Sơn và 10 huyện: Bắc Sơn, Bình Gia, Cao Lộc, Chi Lăng, Đình Lập, Hữu Lũng, Lộc Bình, Tràng Định, Văn Lãng, Văn Quan.[6]

Năm 1981, điều chỉnh địa giới một số xã thuộc các huyện Văn Lãng, Cao Lộc, Lộc Bình, Đình Lập.[7]

  • Sáp nhập một phần huyện Văn Lãng (toàn bộ các xã Hồng Phong, Phú Xá, Bình Trung, Bảo Lâm, Thuỵ Hùng A, Song Giáp và thị trấn Đồng Đăng) vào huyện Cao Lộc
  • Thành lập xã Thanh Long (Văn Lãng) trên cơ sở toàn bộ xã Hành Thanh và xã Phượng Long
  • Thành lập xã Tân Mỹ (Văn Lãng) trên cơ sở toàn bộ xã Tân Yên và xã Mỹ Cao
  • Thành lập xã Thạch Lâm (Cao Lộc) trên cơ sở toàn bộ xã Thạch Đan và xã Bảo Lâm
  • Sáp nhập một phần xã Lộc Yên (Cao Lộc) vào xã Hòa Cư
  • Thành lập xã Lộc Thanh (Cao Lộc) trên cơ sở toàn bộ xã Thanh Hòa và phần còn lại xã Lộc Yên
  • Thành lập xã Tam Gia (Lộc Bình) trên cơ sở toàn bộ xã Tam Lộng và một phần xã Tĩnh Gia.
  • Sáp nhập phần còn lại xã Tĩnh Gia (Lộc Bình) vào xã Bình Xá (Đình Lập)

Năm 1983, thành lập thị trấn Chi Lăng thuộc huyện Chi Lăng.[8]

Năm 1984, thành lập thị trấn Na Dương thuộc huyện Lộc Bình.[8]

Năm 1985, thành lập thị trấn huyện lị thuộc các huyện Bắc Sơn và Văn Quan.[9]. Cùng năm, sáp nhập xã Hồng Phong của huyện Cao Lộc vào thị trấn Đồng Đăng, trên thực tế việc sáp nhập này không diễn ra[10].

  • Thành lập thị trấn Bắc Sơn (Bắc Sơn) trên cơ sở một phần xã Hữu Vĩnh và xã Long Đống.
  • Thành lập thị trấn Văn Quan (Văn Quan) trên cơ sở một phần xã Xuân Mai, xã Vĩnh Lại và xã Đại An

Năm 1986, chia tách một số xã thuộc huyện Cao Lộc[11]. Cùng năm, chuyển xã Hợp Thành của thị xã Lạng Sơn (trừ hợp tác xã Liên Thành sáp nhập vào xã Đông Kinh) về huyện Cao Lộc quản lý[12].

  • Giải thể xã Thạch Lâm (Cao Lộc). Thành lập xã Thạch Đạn và xã Bảo Lâm trên cơ sở toàn bộ xã Thạch Lâm. Xã Thạch Đạn có diện tích tự nhiên 4.114 hécta với 2.748 nhân khẩu. Xã Bảo Lâm có diện tích tự nhiên 4.544 hécta với 2.296 nhân khẩu.
  • Sáp nhập một phần xã Hợp Thành (TX. Lạng Sơn) vào huyện Cao Lộc. Sáp nhập phần còn lại xã Hợp Thành vào xã Đông Kinh (TX. Lạng Sơn). Xã Đông Kinh có diện tích tự nhiên 220,9 hécta với 3.109 nhân khẩu.

Năm 1989, chuyển toàn bộ đất đai và nhân khẩu của xã Hữu Liên của huyện Chi Lăng về huyện Hữu Lũng quản lý.[13]

Năm 1994, thành lập một số xã, phường, thị trấn thuộc thị xã Lạng Sơn và huyện Cao Lộc.[14]

Năm 2000, chia tách một số xã thuộc huyện Cao Lộc.[15]

  • Thành lập xã Thanh Lòa trên cơ sở một phần xã Lộc Thanh. Xã Thanh Lòa có 3.764 ha diện tích tự nhiên và 1.508 nhân khẩu
  • Đổi tên xã Lộc Thanh thành xã Lộc Yên. Xã Lộc Yên có 3.103 ha diện tích tự nhiên và 1.704 nhân khẩu.

Năm 2002, thành lập thành phố Lạng Sơn[16] trên cơ sở toàn bộ thị xã Lạng Sơn. Thành phố Lạng Sơn có 7.769,35 ha diện tích tự nhiên và 106.110 nhân khẩu, gồm 8 đơn vị hành chính cơ sở gồm 5 phường và 3 xã.

Năm 2019, sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc 9 huyện của tỉnh Lạng Sơn (trừ thành phố Lạng Sơn và huyện Đình Lập).[17]

  • Sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc huyện Tràng Định:

- Giải thể xã Bắc Ái. Sáp nhập một phần xã Bắc Ái vào xã Đề Thám. Sáp nhập phần còn lại xã Bắc Ái vào xã Kim Đồng. Xã Đề Thám có 50,98 km2 diện tích tự nhiên và quy mô dân số 4.885 người. Xã Kim Đồng có 71,37 km2 diện tích tự nhiên và quy mô dân số 2.782 người.

- Sau khi sắp xếp, huyện Tràng Định có 22 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 21 xã và 01 thị trấn.

  • Sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc huyện Văn Lãng:

- Sáp nhập toàn bộ xã Nam La vào xã Hội Hoan. Xã Hội Hoan có 65,53 km2 diện tích tự nhiên và quy mô dân số 4.757 người.

- Giải thể các xã Tân Lang, Tân Việt, Trùng Quán.

- Thành lập xã Bắc Hùng trên cơ sở một phần các xã Tân Lang, Tân Việt, Trùng Quán và toàn bộ xã An Hùng. Xã Bắc Hùng có 53,28 km2 diện tích tự nhiên và quy mô dân số 3.191 người.

- Thành lập xã Bắc Việt trên cơ sở một phần xã Tân Lang và phần còn lại xã Tân Việt, Trùng Quán. Xã Bắc Việt có 37,80 km2 diện tích tự nhiên và quy mô dân số 2.989 người.

- Sáp nhập phần còn lại xã Tân Lang và một phần xã Hoàng Việt vào thị trấn Na Sẩm. Thị trấn Na Sầm có 14,68 km2 diện tích tự nhiên và quy mô dân số 6.229 người.

- Sau khi sắp xếp, huyện Văn Lãng có 17 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 16 xã và 01 thị trấn.

  • Sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc huyện Lộc Bình:

- Sáp nhập toàn bộ xã Lục Thôn vào thị trấn Lộc Bình. Thị trấn Lộc Bình có 17,77 km2 diện tích tự nhiên và quy mô dân số 9.427 người.

- Thành lập xã Khánh Xuân trên cơ sở toàn bộ xã Bằng Khánh, xã Xuân Lễ và xã Xuân Mãn. Xã Khánh Xuân có 30,56 km2 diện tích tự nhiên và quy mô dân số 3.427 người.

- Sáp nhập toàn bộ xã Quan Bản vào xã Đông Quan. Xã Đông Quan có 73,59 km2 diện tích tự nhiên và quy mô dân số 6.791 người.

- Thành lập xã Minh Hiệp trên cơ sở toàn bộ xã Minh Phát và xã Hiệp Hạ. Xã Minh Hiệp có 52,26 km2 diện tích tự nhiên và quy mô dân số 3.862 người.

- Thành lập xã Thống Nhất trên cơ sở toàn bộ các xã Xuân Tình, Như Khuê, Vân Mộng và Nhượng Bạn. Xã Thống Nhất có 47,31 km2 diện tích tự nhiên và quy mô dân số 6.791 người.

- Sau khi sắp xếp, huyện Lộc Bình có 21 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 19 xã và 02 thị trấn.

  • Sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc huyện Cao Lộc:

- Sáp nhập toàn bộ xã Song Giáp vào xã Bình Trung. Xã Bình Trung có 24,05 km2 diện tích tự nhiên và quy mô dân số 3.308 người.

- Sau khi sắp xếp, huyện Cao Lộc có 22 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 20 xã và 02 thị trấn.

  • Sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc huyện Chi Lăng:

- Sáp nhập toàn bộ xã Quang Lang vào thị trấn Đồng Mỏ. Thị trấn Đồng Mỏ có 35,64 km2 diện tích tự nhiên và quy mô dân số 14.275 người.

- Sau khi sắp xếp, huyện Chi Lăng có 20 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 18 xã và 02 thị trấn.

  • Sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc huyện Hữu Lũng:

- Sáp nhập toàn bộ xã Đô Lương vào xã Vân Nham. Xã Vân Nham có 36,53 km2 diện tích tự nhiên và quy mô dân số 8.665 người.

- Thành lập xã Thiện Tân trên cơ sở toàn bộ xã Thiện Kỵ và xã Tân Lập. Xã Thiện Tân có 49,21 km2 diện tích tự nhiên và quy mô dân số 5.381 người.

- Sau khi sắp xếp, huyện Hữu Lũng có 24 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 23 xã và 01 thị trấn.

  • Sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc huyện Bắc Sơn:

- Sáp nhập toàn bộ xã Hữu Vĩnh vào thị trấn Bắc Sơn. Thị trấn Bắc Sơn có 14,91 km2 diện tích tự nhiên và quy mô dân số 6.402 người.

- Thành lập xã Bắc Quỳnh trên cơ sở toàn bộ xã Bắc Sơn và xã Quỳnh Sơn. Xã Bắc Quỳnh có 32,52 km2 diện tích tự nhiên và quy mô dân số 4.107 người.

- Sau khi sắp xếp, huyện Bắc Sơn có 18 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 17 xã và 01 thị trấn.

  • Sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc huyện Bình Gia:

- Sáp nhập toàn bộ xã Tô Hiệu và một phần xã Hoàng Văn Thụ vào thị trấn Bình Gia. Thị trấn Bình Gia có 37,34 km2 diện tích tự nhiên và quy mô dân số 8.521 người.

- Sau khi sắp xếp, huyện Bình Gia có 19 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 18 xã và 01 thị trấn.

  • Sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc huyện Văn Quan:

- Thành lập xã Liên Hội trên cơ sở toàn bộ xã Phú Mỹ, xã Việt Yên và xã Vân Mộng. Xã Liên Hội có 36,72 km2 diện tích tự nhiên và quy mô dân số 3.228 người.

- Thành lập xã An Sơn trên cơ sở toàn bộ xã Chu Túc, xã Đại An và xã Tràng Sơn. Xã An Sơn có 53,07 km2 diện tích tự nhiên và quy mô dân số 6.250 người.

- Thành lập xã Điềm He trên cơ sở toàn bộ xã Văn An, xã Song Giang và một phần xã Vĩnh Lại. Xã Điềm He có 33,27 km2 diện tích tự nhiên và quy mô dân số 4.825 người.

- Sáp nhập một phần xã Xuân Mai vào xã Bình Phúc. Xã Bình Phúc có 37,24 km2 diện tích tự nhiên và quy mô dân số 3.868 người.

- Sáp nhập phần còn lại xã Xuân Mai và xã Vĩnh Lại vào thị trấn Văn Quan. Thị trấn Văn Quan có 16,84 km2 diện tích tự nhiên và quy mô dân số 5.427 người.

- Sau khi thực hiện sắp xếp, huyện Văn Quan có 17 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 16 xã và 01 thị trấn.

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Sắc lệnh số 48/SL năm 1949
  2. ^ Quyết định số 177-CP năm 1964 của Hội đồng Chính phủ.
  3. ^ Quyết định số 17-NV năm 1965 của Bộ Nội vụ.
  4. ^ Nghị quyết của Quốc hội khóa V ngày 27-12-1975.
  5. ^ Quyết định số 229-CP năm 1977 của Hội đồng Chính phủ.
  6. ^ Nghị quyết của Quốc hội khóa VI ngày 29-12-1978.
  7. ^ Quyết định số 246-CP năm 1981 của Hội đồng Chính phủ.
  8. ^ a ă Quyết định số 24-HĐBT năm 1983 của Hội đồng Bộ trưởng.
  9. ^ Quyết định số 22-HĐBT năm 1985 của Hội đồng Bộ trưởng
  10. ^ Quyết định số 141-HĐBT năm 1985 của Hội đồng Bộ trưởng.
  11. ^ Quyết định số 138-HĐBT năm 1986 của Hội đồng Bộ trưởng.
  12. ^ Quyết định số 145-HĐBT năm 1986 của Hội đồng Bộ trưởng.
  13. ^ Quyết định số 121-HĐBT năm 1989 của Hội đồng Bộ trưởng.
  14. ^ Nghị định số 86-CP năm 1994 của Chính phủ.
  15. ^ Nghị định số 40/2000/NĐ-CP của Chính phủ.
  16. ^ Nghị định số 82/2002/NĐ-CP của Chính phủ.
  17. ^ Nghị quyết số 818/NQ-UBTVQH14 năm 2019 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.