Liên giới tính

giới tính
(đổi hướng từ Người lưỡng tính)
Cờ của cộng đồng người Liên giới tính.

Liên giới tính (tiếng Anh: Intersex) là thuật ngữ chỉ những người có những đặc điểm giới tính (bao gồm bộ phận sinh dục, cơ quan sinh sản, nội tiết tố sinh dụcnhiễm sắc thể giới tính) mà theo như Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc mô tả rằng "không phù hợp với định nghĩa điển hình của cả nam giới hay nữ giới". Điều này có thể biểu hiện rõ ràng từ khi mới sinh, hay đến khi dậy thì mới bắt đầu phát triển và biểu hiện ra ngoài hoặc không rõ ràng, và có thể có một số người cả đời không hề hay biết bản thân là người liên giới tính.[1]

Liên giới tính là một hiện tượng dị tật về giới tính ít gặp, biểu hiện thường là 1 người có bộ phận sinh dục của cả nam và nữ. Thường thì hiện tượng này chỉ xuất hiện khi một bào thai bước vào giai đoạn hình thành. Vào giai đoạn này, bào thai bắt đầu phát triển hoàn thiện cơ quan sinh dục chính, tuy nhiên do một dị tật về gen di truyền mà cơ quan sinh dục phụ của bào thai hình thành cả 2 dạng nam - nữ và tồn tại song song với nhau. Những người liên giới tính thực sự, trong cơ thể có cả buồng trứng và tinh hoàn, rất hiếm. Phần lớn các trường hợp liên giới tính thường gặp là liên giới tính giả (có 1 bộ phận sinh dục là thật và 1 bộ phận sinh dục khác là giả).

Khái quátSửa đổi

Trước kia, liên giới tính được gọi là lưỡng tính hay là "thái giám bẩm sinh" (congenital eunuchs).[2][3] Vào thế kỉ thứ 19 và 20, một số thành viên của cộng đồng y khoa phát minh ra một hệ thống các thuật ngữ để phân loại các đặc điểm giới tính mà họ quan sát được. Đây là lần đầu tiên con người phát minh ra một hệ thống phân loại các điển hình của liên giới tính. Người liên giới tính trước kia được phân loại thành lưỡng tính thật, hoặc lưỡng tính giả ở nữ hay lưỡng tính giả ở nam.[4] Tuy nhiên, những thuật ngữ này không còn được dùng nữa vì những thuật ngữ có chứa từ 'lưỡng tính được coi là mang hàm ý xúc phạm khi được dùng để chỉ con người.[5] "Lưỡng tính" giờ đây được dùng để chỉ các loài động vật hoặc thực vật có cơ quan sinh sản của cả giống đực và giống cái.[4] Vào năm 1917, Richard Goldschmidt đặt ra thuật ngữ "liên giới tính" (intersexuality) để chỉ những đặc điểm giới tính không rõ ràng ở người[4] Trong giới y khoa, thuật ngữ "Rối loạn phát triển giới tính (DSDs)" bắt đầu được sử dụng từ năm 2006. Tuy nhiên, sự thay đổi này mang lại nhiều tính gây tranh cãi từ khi thuật ngữ trên được ra đời.[6]

Vào thời cổ, người liên giới tính thường phải đối mặt với sự kì thị từ khi mới sinh, hoặc sau khi một đặc điểm liên giới tính phát triển khi đến tuổi dậy thì. Điều này có thể bao gồm giết hại trẻ sơ sinh, bỏ rơi, hoặc đối mặt với sự kì thị từ trong chính gia đình. Một số người liên giới tính thường trải qua phẫu thuật hoặc trị liệu hoóc-môn để cơ thể phát triển những đặc điểm giới tính phù hợp với quy chuẩn của xã hội đặt ra. Tuy nhiên, điều này vẫn gây tranh cãi khi không chắc chắn rằng những trị liệu kể trên mang lại kết quả, hay đây là điều mà người được trị liệu mong muốn.[7] Hơn nữa, những cuộc chữa trị mà không có sự chấp thuận từ người bệnh có thể bị coi là vi phạm nhân quyền[8][9] Những tổ chức hoạt động về quyền của người liên giới tính cũng lên tiếng về những vấn đề này, như lời tuyên bố Malta (Malta declaration) được đưa ra vào năm 2013 bởi International Intersex Forum.

Một vài người liên giới tính sẽ được chỉ định và được nuôi dạy như một người con trai hay con gái nhưng rồi lớn lên lại nhận dạng bản thân là một giới khác, trong khi một số vẫn nhận dạng bản thân theo giới đã được chỉ định từ nhỏ.[10] Vào năm 2011, Christiane Völling trở thành người liên giới tính đầu tiên đã kiện thành công về những thiệt hại do cô phải thực hiện phẫu thuật xác định lại giới tính diễn ra vào năm 1977 mà không có sự đồng thuận của mình.[11][12] Một vụ thứ hai được xét xử ở Chile vào năm 2012, trong đó có sự tham gia của một đứa trẻ và bố mẹ của mình.[13][14] Vào tháng 4 năm 2015, Malta trở thành quốc gia đầu tiên cấm bất kì can thiệp y tế về giới tính nào mà thiếu sự đồng thuận của người tham gia (trong đó bao gồm cả người liên giới tính).[15][16]

Cũng giống như những người nam hay nữ khác, người liên giới tính có thể có bất kì bản dạng giới cũng như xu hướng tình dụcxu hướng tình cảm nào.[17]

Phân loạiSửa đổi

Có các dạng người liên giới tính sau đây, tất cả các dạng người này đều có cấu tạo cơ quan quan sinh dục bất thường.

Liên giới tính giả ở nữSửa đổi

Là nữ, có buồng trứng, nhưng do tuyến thượng thận sản xuất quá nhiều hoóc môn nam androgen nên bộ phận sinh dục ngoài bị nam hóa, như âm vật phì đại, 2 môi lớn to và dính nhau như bìu. Trường hợp nam hóa nặng có thể tạo nên đoạn niệu đạo - âm vật giống như người nam có tinh hoàn ẩn.

Nguyên nhân thường gặp nhất là hội chứng thượng thận sinh dục. Một số trường hợp do mẹ có dùng thuốc chứa androgen khi mang thai, mẹ bị u nam hóa buồng trứng.

Liên giới tính giả ở namSửa đổi

Bộ nhiễm sắc thể vẫn là 46 XY như mọi đàn ông khác, nhưng bộ phận sinh dục lại giống nữ. Nguyên nhân là hoóc môn nam testosteron và MIS - một chất cần cho sự phát triển giới tính nam - không được tiết ra đủ.

Nữ hóa có tinh hoànSửa đổi

Người có tinh hoàn và có bộ nhiễm sắc thể XY, là đàn ông nhưng cơ quan sinh dục ngoài không nhạy cảm với testosteron nên không biệt hóa thành dương vật. Họ có âm đạo (thường bị tịt một đầu, không có tử cung, vòi tử cung có nhưng kém phát triển). Đến khi dậy thì, ngực lớn lên nhưng không hành kinh, lông mu ít hay không có. Các tinh hoàn thường ở trong bụng hay ống bẹn, cũng có khi ở môi lớn.

Về phương diện phôi thai học, những người này giống liên giới tính giả ở nam, song họ không có cảm giác lưỡng tính mà coi mình hoàn toàn là phụ nữ do bộ phận sinh dục ngoài như người nữ bình thường, được nuôi dạy như nữ. Thông thường họ được xử lý mổ lấy tinh hoàn ngay sau khi phát hiện bệnh để tránh xáo trộn tâm lý.

Liên giới tính thậtSửa đổi

Hầu hết các trường hợp lưỡng tính thật sống ngoài xã hội bề ngoài có dạng nữ. Họ có cả tinh hoàn và buồng trứng (tách riêng hay nhập chung thành tuyến tinh hoàn - buồng trứng) nhưng chúng thường không có tính năng hoạt động. Nguyên nhân gây liên giới tính thật là có bất thường trong quá trình phân định giới tính.

Loạn sinh tuyến sinh dục kết hợpSửa đổi

Những trường hợp này cũng rất hiếm: Họ có tinh hoàn một bên, bên kia không rõ ràng. Cấu trúc đường sinh dục thường là nữ, đôi khi cũng có vài cấu trúc dạng nam. Các bộ phận sinh dục ngoài có thể là nữ, nam hay pha trộn cả hai. Khi dậy thì, họ không phát triển vú, không hành kinh.

Tuy nhiên, những trường hợp trên sau khi phẫu thuật chỉnh hình lại vẫn có thể quan hệ tình dục bình thường, nhưng không thể sinh con.

Chữa trịSửa đổi

Việc chữa trị thường là bằng phẫu thuật. Đối với người liên giới tính giả, họ sẽ được cắt bỏ bộ phận sinh dục giả, giữ lại bộ phận sinh dục thật. Còn đối với người liên giới tính thật, bác sỹ sẽ tư vấn để họ tự quyết định nên cắt bỏ bộ phận sinh dục nào, giữ lại bộ phận sinh dục nào.

Truyền thuyếtSửa đổi

 
Salmacis và Hermaphroditos nhập làm một

Truyền thuyết về những người có giới tính không xác định đã xuất hiện từ thời cổ đại. Hai vị thần HermesAphrodite đã ghép tên họ để đặt cho con trai là Hermaphroditos. Vì tiên nữ (nymph) Salmacis yêu Hermaphroditos nhưng bị từ chối nên đã ước nguyện thân thể hai người nhập làm một. Lời ước được chứng giám, và xuất hiện một con người vừa nam vừa nữ, hình tượng được thể hiện như là vừa có vú vừa có dương vật. Thần thoại Hy Lạp cũng nói đến Tiresias là người mà theo huyền thoại khi thì là đàn ông, khi thì là phụ nữ.[18]

Những nhân vật liên giới tính nổi tiếngSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Saner, Emine (29 tháng 7 năm 2008). “The gender trap: testing the sex of Olympians competing in Beijing”. The Guardian (bằng tiếng en-GB). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2020. 
  2. ^ Mason H.J. (1978). “Favorinus' Disorder: Reifenstein's Syndrome in Antiquity?”. Janus 66 (1–2–3): 1–13. PMID 11610651. 
  3. ^ Nguyễn Khắc Thuần (1998), Việt sử giai thoại (History of Vietnam's tales), vol. 8, Vietnam Education Publishing House, p. 55
  4. ^ a ă â Zucker, Kenneth J.; Bradley, Susan J.; Sullivan, Claire B. Lowry (tháng 3 năm 1992). “Gender Identity Disorder in Children”. Annual Review of Sex Research 3 (1): 73–120. ISSN 1053-2528. doi:10.1080/10532528.1992.10559876. 
  5. ^ Dreger, Alice D.; Chase, Cheryl; Sousa, Aron; Gruppuso, Phillip A.; Frader, Joel (18 tháng 8 năm 2005). “Changing the Nomenclature/Taxonomy for Intersex: A Scientific and Clinical Rationale”. Journal of Pediatric Endocrinology and Metabolism 18 (8): 729–33. PMID 16200837. doi:10.1515/JPEM.2005.18.8.729. 
  6. ^ Holmes, Morgan (tháng 9 năm 2011). “The Intersex Enchiridion: Naming and Knowledge”. Somatechnics 1 (2): 388–411. ISSN 2044-0138. doi:10.3366/soma.2011.0026. 
  7. ^ Submission 88 to the Australian Senate inquiry on the involuntary or coerced sterilisation of people with disabilities in Australia Lưu trữ 23 September 2015 tại Wayback Machine., Australasian Paediatric Endocrine Group (APEG), 27 June 2013
  8. ^ Report of the UN Special Rapporteur on Torture Lưu trữ 24 August 2016 tại Wayback Machine., Office of the UN High Commissioner for Human Rights, February 2013.
  9. ^ Eliminating forced, coercive and otherwise involuntary sterilization, An interagency statement Lưu trữ 11 July 2015 tại Wayback Machine., World Health Organization, May 2014.
  10. ^ “New publication "Intersex: Stories and Statistics from Australia". Organisation Intersex International Australia. 3 tháng 2 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  11. ^ International Commission of Jurists. “In re Völling, Regional Court Cologne, Germany (6 February 2008)”. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2015.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  12. ^ Zwischengeschlecht (12 tháng 8 năm 2009). “Christiane Völling: Hermaphrodite wins damage claim over removal of reproductive organs”. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2015.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  13. ^ “Condenan al H. de Talca por error al determinar sexo de bebé”. diario.latercera.com (bằng tiếng Tây Ban Nha). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  14. ^ García, Gabriela (20 tháng 6 năm 2013). “Identidad forzada”. www.paula.cl (bằng tiếng Tây Ban Nha). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  15. ^ Reuters (1 tháng 4 năm 2015). “Surgery and Sterilization Scrapped in Malta's Benchmark LGBTI Law”. The New York Times. 
  16. ^ Star Observer (2 tháng 4 năm 2015). “Malta passes law outlawing forced surgical intervention on intersex minors”. Star Observer. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 8 năm 2015.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  17. ^ “Intersex”. Gender Wikia. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2020. 
  18. ^ Hesiod, Melampodia, Fragment 3: Teiresias.
    Scholiast on Homer, Odyssey, x. 494:
    They say that Teiresias saw two snakes mating on Cithaeron and that, when he killed the female, he was changed into a woman, and again, when he killed the male, took again his own nature. This same Teiresias was chosen by Zeus and Hera to decide the question whether the male or the female has most pleasure in intercourse. And he said: "Of ten parts a man enjoys only one; but a woman's sense enjoys all ten in full." For this Hera was angry and blinded him, but Zeus gave him the seer's power.

Tham khảoSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi