Lê Văn Duyệt (1763 hoặc 1764[2]28 tháng 8 năm 1832) còn gọi là Tả Quân Duyệt, là một nhà chính trị, quân sự Việt Nam. Ông là một trong các chỉ huy chính của quân đội chúa Nguyễn Ánh trong cuộc chiến với Tây Sơn. Khi chiến tranh kết thúc và nhà Nguyễn được thành lập, ông trở thành một đại thần, phục vụ hai triều vua Gia Long (tức Nguyễn Ánh) và Minh Mạng.

Lê Văn Duyệt
黎文悅
Tượng Tả Quân nhìn thẳng.jpg
Khuôn mặt tượng đồng Lê Văn Duyệt trong Thượng Công miếu (tức Lăng Ông). Khuôn mặt được chế tác dựa trên chân dung Lê Văn Duyệt trên tiền giấy 100 đồng của chính quyền Việt Nam Cộng hòa in năm 1966.[1]
Tiểu sử
Biệt danhĐức Tả Quân
Đức Thượng Công --Đức Thượng Công Lê Tả Quân.
Sinh1764
Định Tường (sau đổi là Mỹ Tho, nay là Tiền Giang), Việt Nam
Mất1832 (69 tuổi)
Gia Định (nay là Thành phố Hồ Chí Minh), Việt Nam
Nơi chôn cấtLăng Ông, Thành phố Hồ Chí Minh (10°48′05″B 106°41′49″Đ / 10,801486°B 106,697065°Đ / 10.801486; 106.697065Tọa độ: 10°48′05″B 106°41′49″Đ / 10,801486°B 106,697065°Đ / 10.801486; 106.697065)
Binh nghiệp
Phục vụChúa Nguyễn
Nhà Nguyễn
Năm tại ngũ1789–1832
Tham chiếnTrận Thị Nại (1801)

Ông nội ông là người gốc Quảng Ngãi, vào Tiền Giang lập nghiệp nên ông sinh ra tại Tiền Giang. Lê Văn Duyệt gia nhập quân đội Gia Định, cùng chúa Nguyễn Ánh chống lại nhà Tây Sơn từ năm 1781. Ông cầm quân thắng nhiều trận lớn, nên nhanh chóng thăng tiến trong hàng ngũ của quân Gia Định tới chức chỉ huy Tả Quân vào thời điểm cuộc chiến kết thúc. Sau khi nhà Nguyễn thành lập, ông trở thành một vị quan, tướng quân giữ nhiều chức vụ quan trọng của triều đình, nhiều lần công cán ở cả phía Bắc thành và hai lần được cử làm tổng trấn Gia Định.

Việc cai trị của ông đã góp công lớn giúp ổn định và phát triển khu vực Nam bộ, khiến cho vùng này từ một khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh thành một khu vực bình yên và giàu có.[3] Thêm vào đó, Lê Văn Duyệt phản đối việc nối ngôi của vua Minh Mạng và bảo vệ các tín đồ Công giáo khỏi chính sách bế quan tỏa cảng và trọng Nho giáo của vua này.[4] Những việc này đã khiến ông thường xuyên xung đột với nhà vua và dẫn đến việc triều đình đã hạch tội và cho phá mộ sau khi Lê Văn Duyệt mất. Vì việc này, người con nuôi của ông là Lê Văn Khôi đã nổi dậy chống lại triều đình. Sau khi cuộc nổi dậy bị dập tắt, Lê Văn Duyệt tiếp tục bị truy tội đến mãi đời Thiệu Trị thì vụ án mới được xét lại, và ông mới được phục hồi danh dự.

Tiểu sửSửa đổi

Lê Văn Duyệt, còn gọi là Tả Quân Duyệt, sinh năm 1763 hoặc 1764 tại vàm Trà Lọt, thuộc làng Hòa Khánh, huyện Kiến Phong, tỉnh Định Tường, về sau gọi là xã Hòa Khánh thuộc huyện Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang).

Ông nội của Lê Văn Duyệt là Lê Văn Hiếu từ làng Bồ Đề, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi vào đây sinh sống. Tổ tiên ông có nguồn gốc xa xưa ở làng Tề Lỗ, huyện Yên Lạc, tỉnh Sơn Tây (về sau thuộc tỉnh Vĩnh Yên, nay là tỉnh Vĩnh Phúc). Sau khi Lê Văn Hiếu qua đời vì dịch bệnh thiên thời,[5] cha ông là Lê Văn Toại rời vùng Trà Lọt đến ngụ tại vùng Rạch Gầm, làng Long Hưng, huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường, về sau gọi là xã Long Hưng thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang).

 
Vàm Trà Lọt ngày nay

Lê Văn Toại có tất cả bốn người con trai[6] Lê Văn Duyệt là con trưởng. Sử cũ mô tả ông là người thấp bé, nhưng lại có sức mạnh hơn người,[7] từng được coi là một trong "ngũ hổ tướng" ở Gia Định.[8]

Sự nghiệpSửa đổi

Theo Chúa Nguyễn, chống Tây SơnSửa đổi

Năm 1781, một lần chúa Nguyễn Phúc Ánh bị quân Tây Sơn đánh đuổi chạy đến Trà Lọt, có ngụ tại nhà ông Lê Văn Toại. Cảm ơn cưu mang, Lê Văn Duyệt được Chúa Nguyễn tuyển dụng làm thái giám, lãnh nhiệm vụ bảo vệ cung quyến. Lúc bấy giờ, ông vừa tròn 17 tuổi.[9]

Theo sách Quốc triều sử toát yếu thì trong trận đánh tại Đồng Văn, ông bị quân Tây Sơn bắt, nhưng sau đó trốn về được. Tháng 11 (âm lịch) năm 1784, ông gặp lại Nguyễn Phúc Ánh,[10] rồi gắn bó chặt chẽ với vị chúa này, trong đó có hai lần ông hộ giá sang Xiêm (Thái Lan).[11]

Tháng 11 (âm lịch) năm 1793, Lê Văn Duyệt được Nguyễn Ánh phong làm thuộc nội vệ úy, vì "tuy sinh ra là người (thái) giám, (nhưng là) người mạnh dữ mà đánh giỏi, có công tùng chinh". Kể từ đó, Chúa Nguyễn thường bàn việc binh với Lê Văn Duyệt.[12]

Tháng 11 (âm lịch) năm 1800, ông được cử theo Tiết chế Nguyễn Văn Thành. Hai ông hợp quân đánh thắng một trận lớn, nhưng sau đó nảy sinh hiềm khích. Cũng sách trên chép: ...Thành hay uống rượu, lúc gần ra trận, cầm hồ rót rượu, rót cho Duyệt một chén và nói rằng: "Uống rượu để thêm sức mạnh". Ông Duyệt nói: "Ai tánh hay sợ mới uống rượu để cho thêm sức mạnh, còn như tôi thời trước mắt không coi (đó là) trận dữ, cần chi phải uống rượu". Thành có ý thẹn, từ đó giận Duyệt.[13]

Tháng Giêng (âm lịch) năm 1801, Lê Văn Duyệt cùng chúa Nguyễn và các tướng là Nguyễn Văn Trương, Tống Phước Lương, Võ Di Nguy đánh chiếm cửa biển Thị Nại (trận Thị Nại năm 1801)). Khi lâm trận, tướng Võ Di Nguy bị trúng đạn chết, ông Duyệt càng gắng sức đánh, đốt phá gần hết binh thuyền Tây Sơn. Trận ấy được khen là "võ công đệ nhất" của nhà Nguyễn [13] và là "võ công lớn nhất" của Lê Văn Duyệt [14].

Tháng 4 (âm lịch) cùng năm, ông theo chúa Nguyễn ra đánh Phú Xuân. Tháng sau, đại binh vào cửa Tư Hiền, ông và Lê Chất phá được đồn quân Tây Sơn ở Quy sơn (tức núi Linh Thái), bắt sống được Phò mã Nguyễn Văn Trị và Đô đốc Phan Văn Sách. Đến ngày 3 tháng 5 (tức ngày 15 tháng 6 năm 1801), ông cùng chúa Nguyễn tiến vào nội thành Phú Xuân sau khi đánh tan đội thủy quân của nhà Tây Sơn, khiến Vua Cảnh Thịnh phải tháo chạy ra Bắc.

Sau đó, chúa Nguyễn sai Tiết chế Lê Văn Duyệt (có Lê Chất đi theo) đem quân bộ vào Quảng Nam, Tống Viết Phước (hay Phúc) đem quân thủy, chia đường vào cứu thành Bình Định. Dọc đường, Lê Văn Duyệt đánh thắng nhiều trận, nhưng không kịp cứu quận công Võ Tánh và Lễ bộ Ngô Tùng Châu. Vì lương hết, hai ông đều đã tuẫn tiết vào cuối tháng 5 (âm lịch) năm 1801. Xét công, chúa Nguyễn phong Lê Văn Duyệt làm "Thần sách quân Chưởng tả dinh Đô thống chế quận công". Lại cho Lê Chất làm tướng dưới quyền, để cùng mang quân đi thu phục các nơi.

Ngày mồng 1 tháng 5 năm Nhâm Tuất (tức 31 tháng 5 năm 1802), chúa Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi tại Phú Xuân, đặt niên hiệu là Gia Long. Lê Văn Duyệt được phong làm "Khâm sai Chưởng Tả Quân dinh Bình Tây tướng quân, tước quận công" để cùng với Lê Chất đem bộ binh ra Bắc truy diệt vua quan nhà Tây Sơn. Theo phối hợp còn có binh thuyền do tướng Nguyễn Văn Trương chỉ huy. Đến tháng 6 (âm lịch), thì quân bộ sang Linh giang (tức sông GianhQuảng Bình) rồi hiệp với quân thủy đánh lấy Nghệ An, Thanh Hóa, và Thăng Long. Đến lúc ấy, nhà Tây Sơn kể như bị diệt.

Làm đại thần nhà NguyễnSửa đổi

Dưới triều Gia LongSửa đổi

Tháng 3 (âm lịch) năm 1803, Lê Văn Duyệt phá tan cuộc nổi dậy của người dân thiểu số ở Đá Vách (Quảng Nghĩa, nay là Quảng Ngãi), được vua khen thưởng. Tháng 8 (âm lịch) năm đó, cha ông – Lê Văn Toại được vua cho mời ra Huế ban khăn áo.

Năm 1808, lại sai Lê Văn Duyệt mang quân đến Đá Vách. Thấy Phó quản cơ Lê Quốc Huy, vì nhiễu hại quá, nên dân mới nổi dậy. Lê Văn Duyệt bèn xin lệnh chém chết viên quan này, từ đó Quảng Nghĩa lại được yên.

Tháng 6 (âm lịch) năm 1812, vua cho triệu tổng trấn Gia Định thành Nguyễn Văn Nhơn về, cử Lê Văn Duyệt vào thay và cho Trương Tấn Bửu làm phó tổng trấn, Ngô Nhân Tịnh làm hiệp (tổng) trấn.

Tháng 2 (âm lịch) năm 1813, nhận lệnh vua, Lê Văn Duyệt và hiệp trấn Ngô Nhân Tĩnh đem 13.000 quân thủy đưa Nặc Chân về nước Chân Lạp (Campuchia ngày nay). Tại đây, ông thấy quân Xiêm cứ dòm ngó Chân Lạp, bèn xin Vua Gia Long cho đắp thành Nam Vang cho vua nước này ở (trước đó ở thành La Bích), đắp thành Lô Yêm để trữ lương, đồng thời lưu binh ở lại bảo hộ (Nguyễn Văn Thoại được cử ở lại). Tất cả đều được vua nghe theo [15].

Năm 1815, Lê Văn Duyệt được chỉ triệu về kinh để bàn nghị về ngôi thái tử. Khi ấy, Nguyễn Huỳnh Đức thay ông làm tổng trấn và Trịnh Hoài Đức làm hiệp trấn.

Tháng 4 (âm lịch) năm 1816, vua ra lệnh thâu ấn của Nguyễn Văn Thành, giam Nguyễn Văn Tuyên (con ông Thành) vào ngục, vì ông Tuyên có làm một bài thơ bị Lê Văn Duyệt (vốn có hiềm khích với ông Thành từ trước) cho là có ý mưu phản [16].

Sang tháng 5 (âm lịch) năm đó, dân thiểu số ở Đá Vách lại nổi dậy, Trấn thủ Phan Tấn Hoàng đánh bị thua. Vua Gia Long lại phải sai Lê Văn Duyệt đem quân tới đàn áp[17].

Tháng Giêng (âm lịch) năm 1819, Lê Văn Duyệt nhận mệnh đi kinh lược các vùng: Thanh Hóa, Nghệ An và Thanh Bình (nay đổi là Ninh Bình). Vì các nơi ấy thường mất mùa, sinh ra nhiều trộm cướp, quan sở tại không kiềm chế được. Đến nơi, ông dâng sớ về triều "nói việc khổ của dân, xin tha thuế cho dân, lại phải lựa quan trấn để an tập dân", được vua y cho [18]. Ở Thanh Hóa, ông nhận Lê Văn Khôi làm con nuôi. Ông Khôi nguyên là người ở Cao Bằng, vì khởi binh chống Nguyễn, bị quan quân đuổi đánh, phải chạy vào Thanh Hóa, gặp ông Duyệt đang làm Kinh lược ở đấy, bèn xin ra đầu thú [19].

Tháng 9 (âm lịch), triệu Lê Văn Duyệt về triều. Sang tháng 12 (âm lịch), Vua Gia Long cho đòi ông và Phạm Đăng Hưng vào cung lãnh di chiếu, tôn Nguyễn Phúc Đảm lên ngôi (tức vua Minh Mạng) đồng thời nhà vua cho ông Duyệt cai quản quân 5 dinh Thần sách.

Cũng trong năm này, theo Vũ Man tạp lục của tướng Nguyễn TấnViêm Giao trưng cổ ký của Cao Xuân Dục, thuận theo lời tâu của Lê Văn Duyệt, Vua cho xây Trường lũy [20](Tĩnh Man trường lũy), dài xấp xỉ 200 km, bắt đầu từ huyện Trà Bồng (Quảng Ngãi) đến huyện An Lão (Bình Định), để phòng ngự các cuộc nổi dậy của người thiểu số ở đây [21].

Dưới triều Minh MạngSửa đổi

Năm 1820, vua Minh Mạng cử Lê Văn Duyệt vào Nam làm tổng trấn Gia Định thành lần thứ hai, thay cho Nguyễn Huỳnh Đức vừa mất hồi tháng 9 (âm lịch) năm 1819.

Lúc bấy giờ, ở nước Chân Lạp có thầy tu tên Kế (sư Kế) vận động dân nổi dậy, cướp phá nhiều nơi thuộc trấn Phiên An. Quan trấn là Đào Văn Lý cản ngăn không được. Khi ông Duyệt đến, bèn cử phó tổng trấn Huỳnh Công Lý đem quân đi đánh, đuổi quân sư Kế chạy về Chân Lạp. Tháng 9 (âm lịch) năm ấy, sư Kế xua quân vây hãm thành Nam Vang, làm vua nước ấy phải đưa thư sang cáo cấp. Xem thư, tổng trấn Lê Văn Duyệt liền sai thống chế Nguyễn Văn Trí đem quân sang cứu viện, đến tháng 10 (âm lịch) thì giết được sư Kế và đánh tan quân nổi dậy.

Cũng vào tháng 9 (âm lịch) năm đó, phó tổng trấn Huỳnh Công Lý tham lam trái phép, bị quân nhân tố cáo hơn mười việc. Lê Văn Duyệt đem việc ấy tâu lên. Sau khi tra án, Huỳnh Công Lý bị kép vào tội chết (1821) [22]. Khâm sai chưởng dinh lĩnh Trung quân phó tướng thự lý ấn vụ là Trương Tiến Bửu lĩnh chức Phó tổng trấn thành Gia Định.[23]

Tháng 10 (âm lịch) năm 1822, vua sai Lê Văn Duyệt điều động quân và dân (được hơn 39.000 người) để tiếp tục đào kênh Vĩnh Tế (đến tháng 5 âm lịch năm 1824 thì xong).

Tháng 8 (âm lịch) năm 1823, Lê Văn Duyệt về kinh [Huế] chầu, Phó tổng trấn Trương Tiến Bửu quyền lĩnh ấn vụ Tổng trấn, nhưng Tiến Bửu ốm nên Tiền quân Trần Văn Năng làm Phó tổng trấn thay. Sau đó, Lê Văn Duyệt về ở luôn Gia Định cho đến cuối đời.

Tháng 11 (âm lịch), Thị đốc học sĩ Trần Văn Tuân bị án giảo giam hậu, vì lời tâu của ông Duyệt. Trước đây, ông Tuân đi công cán ở Chân Lạp, được người Chân Lạp tin yêu; đến khi về lại Gia Định, người Chân Lạp vẫn thường qua lại đưa đồ và hỏi thăm. Sau, nhân bắt được lá thư của vua Chân Lạp gửi cho ông Tuân, Lê Văn Duyệt bèn đem việc ấy chiểu theo luật "Giao thông ngoại cảnh" (tức luật ngoại giao với nước ngoài) mà tâu lên[24].

Đêm 30 tháng 7 năm Nhâm Thìn (tức 28 tháng 8 năm 1832)[25], Chưởng Tả Quân lãnh Gia Định Tổng trấn Lê Văn Duyệt mất tại chức, thọ 69 tuổi. Sau đó, Triều đình truy tặng ông chức "Tá vận công thần đặc tấn Tráng võ tướng quân – Tả Quân đô thống phủ chưởng phủ sự, Thái bảo Quận Công", thụy là "Oai Nghị".

Vụ án Lê Văn DuyệtSửa đổi

Lược kểSửa đổi

 
Đền thờ Tả quân Lê Văn Duyệt trong Lăng Ông Bà Chiểu.

Sau khi Tổng trấn Lê Văn Duyệt mất, Vua Minh Mạng cho bãi chức tổng trấn Gia Định thành, và đổi 5 trấn ra thành 6 tỉnh, là: Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An GiangHà Tiên [26]. Lại đặt các chức tổng đốc, tuần phủ, bố chính, án sát, lãnh binh như các tỉnh ở ngoài Bắc. Đến khi Bạch Xuân Nguyên đến làm bố chính tại Phiên An (tức tỉnh Gia Định), nói rằng phụng mật chỉ truy xét việc riêng của Lê Văn Duyệt, rồi đòi hỏi chứng cứ, đồng thời trị tội các tôi tớ của ông Duyệt. Vì bị bức, con nuôi ông Duyệt là Lê Văn Khôi bèn khởi binh chống lại (xem Cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi).

Nhận được tin cáo cấp, Vua Minh Mạng liền sai quân đi đánh dẹp, đồng thời ban trách Lê Văn Duyệt đã "che chở quân phỉ đảng, để gây nên bọn loạn" [27]. Tuy nhiên, theo một số tài liệu thì Vua Minh Mạng vốn có thù hằn lâu ngày với Tả Quân Lê Văn Duyệt[28], rất có thể vì:

  • Ông Duyệt không ủng hộ việc Minh Mạng lên ngôi mà ủng hộ con của Hoàng tử Cảnh khi vua Gia Long băng hà[29].
  • Lê Văn Duyệt nhiều lần lạm quyền, hoặc làm sai ý Triều đình [30], đặc biệt là sau khi Vua Gia Long qua đời.
  • Lê Văn Duyệt ít học, bản chất quan võ nóng nảy, nói năng cộc lốc, chẳng biết chiều đón ý Vua, khi tấu đối thường không vừa ý Minh Mạng[31]
  • Ông Duyệt tỏ ý ủng hộ các nhà truyền đạo Cơ đốc châu Âu làm nghịch ý Vua Minh Mạng[29].
  • Ông Duyệt được hưởng quyền "nhập triều bất bái" (vào triều không phải lạy) từ thời Gia Long, nên sau này ông không lạy Vua Minh Mạng. Điều này đã làm Vua khó chịu [32].

Dù không ưa nhưng Vua Minh Mạng chưa thể làm gì Lê Văn Duyệt, vì công lao và uy quyền của ông quá lớn [33]. Cho nên sau khi triều đình dẹp xong cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi (1835), nhân Phan Bá ĐạtĐô sát Viện dâng sớ kể tội Tả Quân, Minh Mạng liền dụ cho đình thần nghị xử. Nội các là Hà Văn Quyền, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Quỳnh dâng sớ tội trạng của Lê Văn Duyệt. Đến khi nghị án xong, có bảy tội nên trảm (chém), hai tội nên giảo (thắt cổ), một tội phải sung quân (tự tiện bắt biền binh đóng thuyền).[34]

Bảy điều đáng làm tội xử trảm (chém):

  1. Sai người riêng đi Miến Điện kết ngoại giao.
  2. Xin tống thuyền Anh Cát Lợi đến thành để tỏ có
  3. Xin giết thị vệ Trần Văn Tình để khóa miệng người.
  4. Kháng sớ giữ lại người được tuyên triệu điệu bổ quan viên.
  5. Cậy bè đảng xin tăng thọ cho Lê Chất.
  6. Chứa riêng giấy đóng ấn vua sẵn.
  7. Gọi mả cha là lăng, nói với người xưng là "cô".

Hai điều đáng xử tội giảo (thắt cổ):

  1. Cố xin dung nạp Miến Điện để thỏa việc làm bậy.
  2. Nói với người rằng xin được thơ phụ tiên có câu "Trần Kiều hoàng bào".

Án dâng lên, những người nguyên nghị trảm quyết đều đổi làm trảm giam hậu, những đứa trẻ dưới 15 tuổi tạm giam lại. Những trẻ bé không biết gì thì tha không bắt. Phát nô 13 đứa đàn bà, đều tha cả. Việc chém xác cũng không thi hành. Lạng Bình hộ phủ Trần Huy Phác xin những thê thiếp con cháu Duyệt đều xử trảm quyết. Quảng Yên hộ phủ Lê Dục Đức tâu xin những đứa phạm 16 tuổi trở lên, đều xin đem giết đi. Bình Phú Tổng đốc Vũ Xuân Cẩn, Ninh Thái Tổng đốc Hoàng Văn Trạm cũng xin y đình nghị, lại nói rằng hoặc nên lấy công bù tội, châm chước quyết định thế nào ra tự ơn trời.[34]

Sau đó, vua Minh Mạng ra dụ có đoạn rằng:

Tội Lê Văn Duyệt nhổ từng cái tóc mà kể cũng không hết, nói ra đau lòng, dù có bửa quan quách mà giết thây cũng là đáng tội. Song nghĩ hắn chết đã lâu và đã truy đoạt quan tước, xương khô trong mả, chẳng cần gia hình chi cho uổng công[35]. Vậy cho Tổng đốc Gia Định đến chỗ mả hắn cuốc bỏ núm mộ san bằng mặt đất và khắc đá dựng bia ở trên viết to mấy chữ: "Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ" (Chỗ này là nơi hoạn quan Lê Văn Duyệt chịu hình phạt)[36]

Sau đó, lệnh được thực hiện theo như lời dụ. Ngoài ra, mộ cha mẹ ông ở Long Hưng (nay thuộc Châu Thành, Tiền Giang) cũng bị đục bỏ tước hiệu khắc trên bia[31].

Được phục hồi danh dựSửa đổi

 
Lê Văn Duyệt trên mặt trước tờ 100 đồng in năm 1966 của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Năm Tân Sửu (1841) Vua Thiệu Trị lên ngôi, ban lệnh tha tội các thân thuộc của Lê Chất và Lê Văn Duyệt [37].

Tháng 2 (âm lịch) năm đầu Tự Đức (1848), Đông Các đại học sĩ Võ Xuân Cẩn dâng sớ xin lục dụng những con cháu của Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt và Lê Chất. Lời tâu làm Vua cảm động, bèn cho con cháu ông Thành làm Chánh đội,[38], cho cháu Văn Duyệt là Điển làm chư quân Cai đội[34].

Tự Đức năm thứ 2 (1849), đình thần xin rửa tội cho Lê Văn Duyệt. Cấp trả khu vực mộ của Lê Văn Duyệt cho người cháu (gọi Văn Duyệt bằng ông chú bác) là Lê Văn Niên trông coi. Mộ cha mẹ Lê Văn Duyệt ở thôn Long Thịnh cũng đều cho tu sửa.[34]

Tuy nhiên, mãi đến năm tháng 4 (âm lịch) năm 1868, nhà vua mới chính thức ban lệnh truy phục chức hàm cho Nguyễn Văn Thành (là Chưởng trung quân Đại tướng quân Quận công) và Lê Văn Duyệt (là Chưởng Tả Quân Đại tướng quân), đồng thời cho thờ trong miếu Trung hưng công thần ở Huế [39].

Nhận xét khái quátSửa đổi

Không chỉ có tài quân sự, Lê Văn Duyệt còn là một nhà chính trị. Làm tổng trấn Gia Định Thành hai lần (lần 1: 1812-1816, lần 2: 1820 -1832), ông đã thực hiện chính sách trị an tốt, và có công lớn trong việc giữ gìn an ninh cho xứ sở. Ông cho đắp đường, đào kênh, củng cố thành lũy, lập hai cơ quan từ thiện là "Anh hài" và Giáo dưỡng [40]...Đồng thời ông cũng có cách ứng xử khéo léo, rộng rãi đối với những người phương Tây đến buôn bán ở Sài Gòn. Bấy giờ, nhiều người kính phục, gọi ông là "Ông Lớn Thượng", hay " Đức Thượng Công"... Một vài nước lân cận cũng tỏ ra kiêng nể ông [41].

Thông tin liên quanSửa đổi

Đời tưSửa đổi

 
Toàn thân tượng đồng Lê Văn Duyệt (đúc vào năm 2008[42]) trong lăng Ông Bà Chiểu.
 
Mộ Lê Văn Duyệt (phải) và vợ (trái).

Đến năm 17 tuổi thì ông mới hoạn để chính thức làm thái giám. Thuở trẻ, ông thích đá gà, nuôi gà chọi. Ngoài ra, ông cũng là người sành thưởng thức hát bội và thường tự tay cầm chầu. Có thể tư chất yếu đuối có phần hơi nữ tính khiến ông bị Minh Mạng đặt chữ chửi bới trên mộ rằng "lại cái" (quyền yêm).

Sau này, do ông lập được nhiều công lao, khi lên ngôi, Vua Gia Long đã gả một người cung nhân tên là Đỗ Thị Phẫn (hay Phận)[43] về làm vợ ông, dù ông là thái giám.

Với vụ án oan Tống Thị QuyênSửa đổi

Sách Đại Nam chính biên liệt truyện (Sơ tập, Quyển 2) chép:

Năm Minh Mạng thứ năm (1824), có người bí mật tố cáo rằng Mỹ Đường thông dâm với mẹ ruột là Tống thị (Quyên). Tống thị vì thế thị dìm nước cho chết, còn Mỹ Đường thì phải giao trả hết ấn tín và dây thao, đồng thời bị giáng xuống làm thứ dân, con trai con gái chỉ được biên chép phụ ở phía sau sổ tôn thất...

Lúc bấy giờ có tin đồn người mật tâu là Lê Văn Duyệt. Tuy nhiên, có người lại cho rằng đây là mưu sâu của nhà vua nhằm làm mất uy tín ông, đồng thời ly gián ông với phe ủng hộ "dòng trưởng" nối ngôi (tức ủng hộ Hoàng tôn Đán, tên thật là Nguyễn Phúc Mỹ Đường, con Hoàng tử Cảnh)[44].

Ngôi mộ của Tả QuânSửa đổi

Nhà nghiên cứu Huỳnh Minh, trong sách Gia Định xưa cho biết: "Theo lời các cố lão, ngôi mộ tại Gia Định Bình Hòa xã là ngôi mộ chôn bằng hình sáp, còn hài cốt thật thì về an táng tại làng Long Hưng, thuộc tỉnh Định Tường. (Tiền Giang ngày nay)"[45] Tuy nhiên, tháng 4 năm 2006, sau một cuộc khảo sát ông Lý Việt Dũng đã đưa ra kết quả ngược lại[31].

Dựng tượngSửa đổi

Ngày 4 tháng 2 năm 2008, tượng Tả Quân Lê Văn Duyệt đã được đặt trang trọng tại điện thờ tại Lăng Ông (số 1 đường Vũ Tùng, có cổng Tây tại số 126 đường Lê Văn Duyệt, phường 1, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh). Tượng được đúc bằng đồng nguyên chất, cao 2,65 m, nặng 3 tấn do nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng thực hiện. Đây là ý tưởng của tạp chí Xưa & nayHội Khoa học lịch sử Việt Nam trong chương trình Đúc tượng đồng cho lăng Ông.

Giao thiệp với ngoại quốcSửa đổi

AnhSửa đổi

Năm 1822, đại sứ nước Anh John Crawfurd trên hành trình đi sứ Xiêm và Cochin China [Việt Nam] đã ghé Sài Gòn và có cuộc gặp với quan Tổng trấn thành Gia Định.[46]

Crawfurd được biết rằng vua nước Cochin China hiện đang ở Huế, còn Chao-Kun [Tả Quân?][47], vị Thống đốc Lower Cochin China [Nam Kỳ], thì đang ở Saigun. Crawfurd nóng lòng được gặp vị quan ở Saigun đó, bởi ngoại trừ Kachao [Kẻ Chợ] ở Tonquin [Đông Kinh], thì [Sài Gòn] là nơi giàu có nhất vương quốc này.[46]

Ngày 2 tháng 9 năm 1822, đoàn hơn 30 người của Crawfurd được dẫn đi gặp Tổng trấn Lê Văn Duyệt, Crawfurd và một số người được chở bằng năm con voi. Nơi tiếp khách trong thành Phiên An quá đơn sơ nếu so với chỗ của người Hoa. Người Việt Nam có tục tiếp khách trên mấy cái bàn thấp (bộ ván ngựa), trải chiếu hoa lên trên, quan lớn thì ngồi hàng đầu, quan nhỏ ngồi lần lượt phía sau. Ở giữa sảnh đường là một bộ bàn hơi cao hơn mấy cái khác, dành cho quan Tổng trấn. Đoàn của Crawfurd được mời ngồi ghế, bên phải quan Tổng trấn. Ngồi bên trái quan Tổng trấn là vị Phó tổng trấn [Trương Tấn Bửu], vị quan già khoảng 70 tuổi trông đáng kính và đẹp lão.[48] Quan Tổng trấn nghe đồn là một thái giám, nhưng không công khai, ông ta không có râu; tuy nhiên, người Việt dù có thích để râu thì không quá rậm rạp. Tiếng nói của quan Tổng trấn nhỏ nhẹ và khá giống giọng nữ nhưng không dễ nhận ra. Lúc này, vị Tổng trấn đã 58 tuổi, vẻ mặt sôi nổi và thông minh, ông ta hơi thấp bé và gầy, nhưng hoạt bát và không thấy cơ thể bị khuyết tật gì. Có điều, ông ta đã rụng khá nhiều răng. Ông ấy cũng ăn mặc giản dị với bộ đồ lụa và chiếc khăn quấn đầu màu đen. Crawfurd tặng quà cho Tổng trấn, ông ấy từ chối, rất khác biệt với các vị quan tham lam ở Xiêm. Một lần nữa, vị Tổng trấn lại đòi hỏi phải có thư của vua Anh gửi cho vua Việt, bởi vì chỉ có vua mới gửi thư cho vua. Nếu chỉ có thư của Toàn quyền Ấn Độ [một vị quan] thì ông ấy chỉ giúp chuyển nó cho vị quan Tượng binh [Mandarin of Elephants], người kiêm nhiệm Ngoại giao ở Huế. Vị quan Tượng binh này có thể là Chưởng Tượng quân kiêm quản lý Thương bạc sự vụ Nguyễn Đức Xuyên.[49][50][51][52] Quan Tổng trấn thậm chí còn không mở thư của Toàn quyền Hastings ra xem mà chỉ nhờ sơ qua phong bì rồi trả lại Crawfurd. Ngoài ra, vị Tổng trấn còn mời đoàn Crawfurd xem một buổi biểu diễn đấu nhau giữa voicọp. Crawfurd được tặng trâu, heo, gà vịt, heo quay.. đổi lại, Crawfurd bí mật tặng quan Tổng trấn thuốc súng.[46]

Người Cochin China rất mê đá gà (chọi gà). Ông Tổng trấn, chơi đá gà hai lần một tháng và mời nhiều quan chức tham dự.[46]

Tại Huế, ngày 12 tháng 10 năm 1822, không có cuộc gặp mặt nhà vua nào được tổ chức cho đoàn của Crawfurd. Ông được cho phép quay lại Đà Nẵng bằng đường bộ để tham quan. Trước khi rời Huế, Crawfurd đến phủ của vị quan Tượng binh (kiêm Ngoại giao) để thương thảo lần cuối. Quan Tượng binh đã chất vấn Crawfurd một số điều về cuộc ghé thăm Sài Gòn như: Crawfurd tự nguyện dâng thư của Toàn quyền Anh cho Tổng trấn [Lê Văn Duyệt] hay là ông ta [Lê Văn Duyệt] ép? Và rằng: Không ai được phép xem thư của nhà vua trước khi nó được trình lên ngài ấy cả. Crawfurd nhận ra sự ghen ghét của triều đình đối với quan Tổng trấn thành Gia Định. Theo tìm hiểu của Crawfurd, Lê Văn Duyệt không chỉ là nhân vật đứng đầu cả nước về đẳng cấp và quyền lực, mà còn ở sự cứng rắn, tài năng và liêm chính của ông ta. Việc Lê Văn Duyệt phải rời kinh đô để đi trấn thủ Gia Định là một mất mát lớn, khiến những quan chức tham lam không còn bị ai kiềm chế. Vua Minh Mạng cố nhiên đố kị với uy danh của quan Tổng trấn.[53]

Miến ĐiệnSửa đổi

Việc giao thiệp với Miến Điện (hoặc Diến Điện, vương quốc Ava) là một trong những bằng cớ đầu tiên mà nhà Nguyễn dùng để kết tội chém và thắt cổ Lê Văn Duyệt.

Đại Nam Thực lục và Liệt truyện chép:[34][54]

Quý mùi, năm Minh Mệnh thứ 4 [1823], mùa đông, quốc vương nước Diến Điện sai sứ đến thông hiếu.

Khi trước Tổng trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt sai thuộc hạ là Nguyễn Văn Độ đi thuyền buôn sang các nước bên ngoài nước Hồng Mao tìm mua đồ binh dụng, bị gió bạt đến trấn Đào Quai nước Diến Điện. Vua Miến Điện sai bồi thần là Hợp Thời Thông Thụ Nhĩ Miêu Ty Chỉ-Tu-Giá Tha đem quốc thư và phẩm vật đến dâng, xin nước ta tuyệt giao với nước Xiêm. Sứ giả đến Gia Định, Duyệt cho dịch thư ấy ra tâu lên, việc giao cho đình thần bàn, khước lời xin ấy trả cả lễ cống.

Sai Quản cơ Nguyễn Văn Uẩn và Chánh tuần hải đô dinh Hoàng Trung Đồng đem binh thuyền và mang lương tiền 6 tháng, đưa sứ giả đến địa đầu Diến Điện thì về. Lại sai bộ Lễ đem việc ấy báo cho nước Xiêm. Người Xiêm gửi thư đến tạ.

Trong quyển sách của mình, John Crawfurd cũng ghi lại tường trình của sứ giả Miến Điện khi đến Việt Nam. Sứ giả Miến Điện là Gibson, có cha là người Anh, đã tường thuật khá chi tiết về hành trình và các sự kiện ở Gia Định Thành lúc ấy.

Năm 1822, một viên quan người Việt [Nguyễn Văn Độ] tâu với Chao Kun [Tả Quân] về việc mua tổ yến giả rẻ ở Miến Điện để mang về bán lại cho Trung Quốc. Viên quan này sau đó đi sang Miến Điện mà chỉ có sự cho phép của Chao Kun, không có sự đồng ý của triều đình nhà Nguyễn. Nguyễn Văn Độ sau đó tới Penang rồi qua Rangoon. Ông ta bị người Miến cầm tù rồi thả ra để dẫn một sứ đoàn Miến Điện sang Việt Nam, với ý muốn tạo một liên minh chống Xiêm. Đầu tháng 1 năm 1823, sứ đoàn Miến Điện quá cảnh Penang, bị cháy thuyền và phải đi nhờ một tàu buôn Bồ Đào Nha, sau đó họ đến Singapore rồi đi đến Vungtaô [Vũng Tàu], Canju [Cần Giờ]. Bốn chiếc thuyền từ Sài Gòn sau đó ra rước sứ đoàn vào thành. Triều đình nhà Nguyễn sau đó từ chối thiết lập ngoại giao với Miến Điện. Sứ đoàn được quân Nguyễn hộ tống đưa về nước qua ngả Singapore. Lúc này, Miến Điện và Anh xảy ra chiến tranh, sứ đoàn bị quân Anh cầm tù và dẫn về Tavoy. Đoàn quân Việt Nam được thả về nước, đại sứ Gibson gia nhập quân Anh làm thông dịch viên nhưng vài tháng sau thì mất vì bệnh dịch tả.[55]

Gibson cũng cho biết về sự ghét bỏ của Minh Mạng đối với đạo Công giáo: "Ngày 10 tháng 6 năm 1823,... hai vị quan người Pháp đến thăm sứ đoàn, họ cho biết có nhiều người Pháp đã ở nước này [Việt Nam] nhưng chỉ còn 2 vị lớn tuổi còn sống [ChaigneauVanier], tổng cộng có 5 người Pháp làm quan, còn lại là các nhà truyền giáo. Vị vua hiện tại [Minh Mạng] công khai thể hiện sự ghen ghét đối với người châu Âu và ngăn chặn sự theo đạo Công giáo. Ông ta cấm hai vị Giám mục hành đạo và làm nhục họ khi đến gặp mặt ông ta... Ngày 1 tháng 9, một viên quan người Pháp cho sứ đoàn hay rằng tất cả đồng hương của ông ấy đang chuẩn bị rời khỏi Cochin China [Việt Nam] ngay lập tức vì vị vua hiện tại đã kiên quyết thù nghịch với người châu Âu."[56]

Đối với quan Tổng trấn Lê Văn Duyệt, Gibson tường trình: "Ngày 12 tháng 6 năm 1823, vị Thư ký của quan Tổng trấn mời sứ đoàn dự tiệc, chúng tôi được gặp quan Tổng trấn. Ông ta khoảng 50-60 tuổi, nhỏ con nhưng có nhiều tài năng và là một quân nhân nổi tiếng. Ông ta quê ở tỉnh Mitho, là người giúp việc của cố vương Gialong và đi theo ông này khi lưu vong ở Xiêm. Công lao của quan Tổng trấn đã đưa sự nghiệp của ông ta lên cấp cao. Ông ta rất được các quan Việt Nam kính nể, còn người KambojanXiêm thì kinh sợ... Ngày 30 tháng 6, sứ đoàn dâng lễ vật gồm nhiều loại đá quý lên quan Tổng trấn,... ông ta hỏi về các mỏ đá quý ở Ava và liệu người Miến có nghiêm túc chuyện muốn gây chiến với Xiêm hay không; ông ta tin rằng sẽ có một cuộc chiến giữa người Anh và người Xiêm vì mâu thuẫn ở Queda... Quan Tổng trấn rất hài hước và kể lại cuộc chiến giữa Xiêm và Miến khi ông ta lưu vong ở Xiêm với Gialong năm 1787... Ngày 10 tháng 7, Ongbo, viên quan bảo vệ, báo cho chúng tôi về việc tử hình 11 kẻ trộm bằng cách cho voi giày. Con voi này là con voi yêu thích của quan Tổng trấn. Tội phạm sẽ bị cột vào một cái cộc và con voi sẽ chạy đến giẫm từ phía sau... Ngày 31 tháng 7, chúng tôi được quan Tổng trấn mời dự lễ giỗ mẹ vợ ông ta. Chúng tôi thấy có các quan Tổng trấn, Phó Tổng trấn, Đổng lý Thanh tra [Trương Thừa Huy][57], quan chức Việt Nam và một viên tướng Kambojan... Đoàn tùy tùng của quan Tổng trấn rất hùng hậu: 60 con voi, ngựa, kiệu và hàng nghìn quân lính... Ngày 4 tháng 8, triều đình gửi thư gọi quan Tổng trấn về kinh đô vài tháng... Có ba hay bốn kẻ trộm bị xử tử hàng tuần. Quan Tổng trấn nghiêm khắc thực thi pháp luật, không để ai thoát tội. Ông ta nói những kẻ trộm không thể dùng vào việc gì cho xã hội, ngược lại còn là gánh nặng. Viên quan hộ tống chúng tôi từ Canju [Cần Giờ] cũng bị kết án ăn hối lộ và tham ô, quan Tổng trấn tịch thu tài sản và đóng gông hai vợ chồng viên quan này. Viên quan này ăn chặn tiền lương của nhân công đào kênh Athien [kênh Hà Tiên] và moi tiền của nông dân làng kế bên. Tổng số tiền không hơn một nghìn quan. Buổi chiều, chúng tôi được mời xem voi diễn. Đi ngang chợ, chúng tôi được biết có ba tội phạm bị giết sáng nay: các gông cùm vẫn còn... Quan Tổng trấn cưỡi con voi yêu thích. Một cuộc tập trận giả diễn ra. Sáu mươi con voi tấn công hàng phòng ngự bằng rào cây và quân lính có súng tay. Kỷ luật và mệnh lệnh được thực hiện rất tốt. Một màn diễn khác, hai con voi phải tấn công hình nộm sử tử hoặc cọp phun lửa và có nhiều lính bắn súng. Ít có con voi nào dám tấn công mục tiêu kiểu đó. Một viên quản tượng bị đánh 20 gậy do không làm được nhiệm vụ. Quan Tổng trấn cho con voi yêu thích tham gia tập trận; nó quỳ, nghiêng đầu, và chào chúng tôi. Quan Tổng trấn có cuộc trò truyện dài với chúng tôi, thông qua người phiên dịch tiếng Bồ Đào Nha là Antonio. Ông ta nói sẽ về kinh khá lâu và sẽ giúp trình nguyện vọng của sứ đoàn, nhà vua hiếm khi bác bỏ lời tâu của ông ta. Tổng trấn hỏi chúng tôi liệu có xảy ra cuộc chiến giữa Anh và Xiêm không vì chuyện tranh chấp Queda. Tôi [Gibson] trả lời rằng nước Anh vô cùng hùng mạnh để Xiêm có thể tranh đấu. Quan Tổng trấn cho rằng người Anh đã để mắt tới Junk-Ceylon, Pulo, Lada, Quedah, và Perak; đó là những nơi giúp Penang thành trung tâm giao thương vì nó đã mất vị thế giao dịch với các nước phương Đông vào tay Malacca. Tôi nói rằng người Anh là các chính trị gia đại tài, họ không làm gì mà không có lý do. Quan Tổng trấn có vẻ rất rành về kết quả cuộc chiến của Hoàng đế Napoleon Bonaparte, cụ thể là trận Waterloo và cái chết của ông ấy ở St. Helena. Tổng trấn thương tiếc cho sự bất hạnh của con người vĩ đại ấy và giải thích cho các vị quan người Việt xung quanh, rằng sai lầm của Napoleon là quá tham vọng. Quan Tổng trấn nói thêm, sau khi khiến cả thế giới hỗn loạn bởi cuộc chiến dài, Napoleon chẳng làm được gì có ích cho nước Pháp. Tổng trấn ca ngợi nước Anh, nhưng cũng bảo rằng họ quá đỗi tham vọng... Ngày 1 tháng 9, Tổng trấn không thể về kinh đô do Phó Tổng trấn [Trương Tấn Bửu], độ 90 tuổi, người duy nhất được triều đình tin cậy, ngã bệnh nặng. Một vị quan khác sẽ được cử đến để trấn thủ các tỉnh miền Nam. Có hai sự việc thể hiện rõ sự nghiêm khắc và chuyên quyền của quan Tổng trấn. Một viên quan, trong đoàn tùy tùng sẽ về kinh với Tổng trấn, xin ông ta cho phép mình đi trễ vài ngày để ở lại chăm sóc vợ bệnh. Tổng trấn nổi giận, ra lệnh bắt viên quan đó đem chém đầu ngay trước cổng. Gần như cùng lúc, một viên quan gốc Tonquin [Bắc Thành], trông coi việc đào kênh Athien, đến chào hỏi Tổng trấn. Quan Tổng trấn trước đó đã nghe qua vài lỗi lầm của người này, và trước khi viên quan kịp lại hết lễ bốn lại, Tổng trấn sai người lôi viên quan ra chợ chém... Ngày 21 tháng 9, quan Tổng trấn đi viếng mộ cha mẹ ở Saigun. Ngày 1 tháng 10, có tin báo vị quan Tổng trấn mới [Trần Văn Năng] đang từ kinh đô đến. Ngày 6 tháng 10, một thuyền buôn Anh đến. Trước đó nó ghé Huế, trao đổi súng hỏa mai cho triều đình nhưng vua [Minh Mạng] chê không nhận vì thấy chúng kém hơn súng của Pháp. Viên thuyền trưởng mang theo thư của Tân Thống đốc SingaporeCrawfurd và được tiếp nhận bởi Tổng trấn [Lê Văn Duyệt]... Ngày 31 tháng 10, Tân Tổng trấn [Trần Văn Năng] đến cùng đoàn tùy tùng hơn 600 người. Người Xiêm lúc này cũng phát hiện ra sự có mặt của sứ đoàn Miến ở Việt Nam, thành phố Bangkok tăng cường cảnh giới. Chúng tôi [Gibson] được gọi đến thành [Gia Định], và trên đường gặp hai người lính bị đóng gông vì cãi lệnh và chửi cấp trên. Quan Tổng trấn nói rằng ông ta sẽ đi Huế ba tháng. Người thay ông ta, [Trần Văn Năng] khoảng 70 tuổi, một vị quan già và được cố vương [Gia Long] yêu thích, ngồi kế bên... Trong bữa tiệc, quan Tổng trấn đặc biệt chiếu cố ngồi kế sứ đoàn và thăm hỏi chúng tôi. Chúng tôi được giải trí cả ngày với các màn hát kịch, hát bội. Dịp này, chúng tôi thấy có sự tiếp đón 8 người ăn mặc rất nghèo khổ và rất khác biệt. Quan Tổng trấn ban cho họ mỗi người một bộ quần áo. Ông ta bảo rằng họ là những thổ dân thực sự của xứ này trước khi nó bị người Việt chinh phục, và họ có dân số đông hơn người Việt... Ngày 19 tháng 11, quan Tổng trấn Toàn quyền Tai-Kun [Tả Quân] khởi hành lúc 5 giờ chiều. Ông ta đi đến bến thuyền bằng kiệu mạ vàng, có lộng che hai tầng. Một đoàn tùy tùng lớn đi theo ông ta. Ba mươi chiếc thuyền tập hợp, với đoàn hộ tống cỡ khoảng 1.000 người[58]. Ông ta có vẻ phiền muộn khi ngồi trên thuyền. Khi ông ta xuất phát, Tân Tổng trấn và các quan vái bốn lại một cách trật tự. Ngày 23 tháng 11, đoàn thuyền từ Baria [Bà Rịa] trở về, quan Tổng trấn sẽ đi đường bộ từ đó đến Huế. Ong-Kiam-Loto, vị trưởng quan pháo binh, trên đường từ Baria về bỗng mắc bệnh tả và mất ở tuổi 65... Ngày 1 tháng 12, sứ đoàn nghe tin nạn đói xảy ra ở miền Bắc do nước biển dâng lên làm hư hại vụ mùa. Vài ngày trước, một người đàn ông bị chặt đầu vì đánh vợ đến chết. Chính quyền lúc này cũng đang gia cố bức tường của Yadentain [Gia Định Thành] bằng đá lấy ở gần Dongnai. Một nghìn lính làm việc cả ngày lẫn đêm... Ngày 13 tháng 2 năm 1824, sứ đoàn được tin triều Nguyễn sẽ cho thuyền đưa sứ đoàn về nước. Ngày 18 tháng 2, lúc 7 giờ sáng, chiếu chỉ của nhà vua được rước từ nhà Ong-Tan-Hiep đến thành trì Tổng trấn trên kiệu vàng, có sáu con voi hộ tống và nhiều quan chức theo sau. Vị Tân Tổng trấn ăn mặc lộng lẫy, có hình con sư tử trên áo. Có ba vị quan và một thư ký, cùng với 70 người sẽ hộ tống sứ đoàn về Ava. Họ là Ong-Kin, Ong-Kian, Bie Voung, và thư ký là Ong-Tri-Bohé. Ong-Kin là người gốc Hoa, cha ông ta là thủ lĩnh cướp biển nhưng theo phò cố vương Gialong lúc ở Pulo Condore [Côn Đảo] và thiết lập thủy quân lấy từ lực lượng hải tặc ở bờ biển Trung Quốc. Sau chiến tranh, những người này được cho định cư ở tả ngạn sông [Sài Gòn], [xóm Thủy Trại, xóm Tàu Ô][59][60][61] nơi mà con cháu của họ vẫn còn với dân số ba đến bốn trăm, nhận lương của triều đình và nghe lệnh khi được gọi... Ngày 26 tháng 2 năm 1824, Coe-Doe-Lam [Nguyễn Văn Độ] từ kinh đô về. Ông này cho hay rằng quan Tổng trấn [Lê Văn Duyệt] sẽ không về trước tháng 5, do ông ta phải dự đám cưới của người cháu Cadoa [Lê Văn Yến] với em gái vua [công chúa Ngọc Ngôn][62]. Quan Tổng trấn cũng khuyên nhà vua mở kho thóc bán cho dân, giúp giá lúa gạo giảm còn nửa quan tiền một thúng. Nạn đói đã khiến một cuộc nổi loạn xảy ra ở Tonquin và những người nổi dậy đã đầu hàng sau khi thương thuyết với quan Tổng trấn. Ngày 28 tháng 2, Monsieur Diard từ kinh về và được lệnh hộ tống sứ đoàn. Ông ấy cho biết vị quan đối ngoại [Mandarin of Strangers] từ chối liên minh với Miến Điện. Còn quan Tổng trấn và các vị người Pháp ChaigneauVanier lại ủng hộ liên minh. Cuối cùng vua [Minh Mạng] quyết định không liên minh. Ông ta cho rằng mình có thể chinh phạt Xiêm tức khắc nếu muốn. Chỉ có một mình quan Tổng trấn Tai-Kun thường hay tủm tỉm cười sự vô lý đó và gợi ý cho nhà vua biết rằng ông ta [Minh Mạng] cũng chỉ là một chư hầu của Hoàng đế Trung Hoa... Ngày 14 tháng 3, sứ đoàn Miến Điện lên thuyền về nước."[55]

Các quan chức Cao Miên ở Sài Gòn lúc ấy cũng được đề cập: "Ngày 19 tháng 6 năm 1823, Phó Tổng trấn [Trương Tấn Bửu] mời sứ đoàn dự tiệc. Nhiều quan chức Kambojan cũng có mặt; và họ được ưu ái cho mặc quan phục và dùng kiệu cáng theo kiểu Việt Nam; tuy nhiên người Kambojan cấp thấp vẫn mặc trang phục truyền thống của họ... Ngày 21 tháng 6, sứ đoàn được ghé thăm bởi Tể tướng Kamboja... Người Kambojans thể hiện sự ghen ghét người Xiêm; nhưng tôi [Gibson] nghĩ họ đang cố lấy lòng người Việt Nam; tôi nhận thấy người Kambojans hiện nay bị áp bức nhiều hơn dưới thời bị người Xiêm thống trị... Ngày 6 tháng 7, sứ đoàn đến thăm Tổng trấn nhưng được cho đợi ở chỗ của quan Phó Tổng trấn. Chúng tôi [Gibson] gặp các sứ giả Kambojan đang trên đường đến kinh đô Huế. Nhiều viên quan người Việt cũng ghé chào hỏi Phó Tổng trấn, họ trở về sau khi làm nhiệm vụ trông coi đào một con kênh lớn [Vĩnh Tế] giữa sông Kamboja [sông Cửu Long] và Athien [Hà Tiên] ở vịnh Xiêm... Ngày 28 tháng 8, người cô của vua Kamboja [Ang Chan II] ghé thăm sứ đoàn. Bà ta là vợ một vương tử Xiêm, sau khi ông ta mất mà họ không có con, bà ta được cho về nước. Bà ta có cuộc nói chuyện với người thông dịch tiếng Xiêm của chúng tôi mà không báo cho các quan người Việt biết. Ong-Bo và một vị quan già bị trị tội bằng đóng gông cổ. Antonio cũng bị 100 gậy. "[55]

Lê Văn Khôi, nhân vật thân cận của Lê Văn Duyệt, cũng được lưu ý: "Ngày 9 tháng 7 năm 1823, tôi [Gibson] ghé thăm viên Thư ký của quan Tổng trấn là Ong-tan-hip; chúng tôi có một cuộc thảo luận lớn về các tình hình chung, nhất là lợi ích của liên minh Miến - Việt... Viên Thư ký bộc trực nói rằng quan Tổng trấn quá quen với quân Xiêm, kỷ luật và chiến thuật của họ; nhưng ông ta không biết chút gì về quân Miến... Một sự việc hiếu kỳ xảy ra trước ngày quan Tổng trấn đi Huế [19 tháng 11]. Sự bắt giữ Ong-Quan-Taba-onhy và vợ bởi vì họ có mưu đồ ám hại Ong-Tan-Hiep, vị thư ký yêu thích của quan Tổng trấn. Vị này [Ong-Tan-Hiep] được nuôi nấng bởi quan Tổng trấn từ nhỏ; ông ấy có tham vọng, năng lực, phẫn uất; và ông ấy bị mọi người ở nơi làm việc ghét, thế nhưng ông ấy giàu có và quyền lực. Tất cả các viên quan cao cấp hơn ông ấy thường hay chờ đợi ở nhà ông ấy, nơi gần chỗ ở của chúng tôi [Gibson]. Chẳng có ngày nào mà ông ấy không nhận được quà tặng, rồi ông ấy bán nó lại cho một cửa tiệm của chính mình, kế bên cổng nhà; nhà ông ấy như cái chợ. Sự thù hằn giữa Ong-Tan-Hiep và Ong-Quan-Tabaonhy là do: Ong-Quan-Tabaonhy dốc hết túi để dụ một bà góa phụ giàu có, rồi ông Thư ký [Ong-Tan-Hiep] phỏng tay trên. Hai ông này không bao giờ là bạn nữa và tìm cách hại nhau. Viên Thư ký phát hiện Ong-Quan-Tabaonhy moi tiền công nhân đào kênh Athien và bắt giam[63]. Một ngày nọ, người vợ lẽ của Ong-Quan-Tabaonhy, tên là Che-day, gặp viên Thư ký ngoài đường và xin ông này cho cô ta tới nhà để nói chuyện quan trọng. Cô ta một mình đến nhà ông ấy lúc 8 giờ tối, trong phòng riêng, và nài nỉ ông ấy tha cho chồng mình. Sau đó, mọi người nghe cô ta kêu cứu: hiếp dâm, giết người. Cô ta lấy được một nắm tóc của viên Thư ký và đi báo án với quan Tổng trấn. Biết rằng tội ngoại tình sẽ bị hành hình, quan Tổng trấn điều tra và tìm ra mưu đồ của hai vợ chồng muốn hại viên Thư ký. Cô ta bị đánh 100 gậy, và cô ta chưa tới 20 tuổi."[55]

Cuộc sống ở Gia Định Thành cũng được Gibson miêu tả: "Ngày 28 tháng 12 năm 1823, hôm nay là sinh nhật Hoàng Thái hậu [Trần Thị Đang], thành phố được thắp sáng ba đêm liên tiếp... Ngày 3 tháng 1 năm 1824, bốn chiếc thuyền từ Trung Quốc đến mang theo 1.300 người. Họ trả 6 đô cho mỗi vé tàu. Sau khi đến, họ định cư và tản ra khắp nơi. Ngày 6 tháng 1, chúng tôi được biết về một loại gỗ làm thuốc, gọi là Akila hay Agila [trầm hương], loại hảo hạng có ở tỉnh Quinhon và người Việt còn dùng nó để trị bệnh tả. Cùng ngày, chúng tôi thấy quân lính luyện tập chèo thuyền ở bờ sông. Ngày 16 tháng 1, một tàu khác đến từ Trung Quốc mang theo 400 người. Những người Hoa nhập cư này định cư khắp xứ, dọc theo bờ sông: hành trang của họ chỉ là chiếu rách, áo vá. Hàng nghìn người Hoa dạng này hàng năm đến Xiêm và eo biển Malacca. Ngày 30 tháng 1 năm 1824, hôm nay là ngày cuối năm theo lịch Việt Nam, người dân bận bịu chuẩn bị đồ ăn cho ngày hôm sau vì chợ búa sẽ đóng cửa. Trước mỗi ngôi nhà đều dựng một cái cây [nêu] có treo lơ lửng lá trầu, thuốc lá và đồ cúng. Ngày 31 tháng 1, hôm nay là ngày đầu năm [mồng Một]. Người dân bỏ hết mọi công việc, và ăn vặn quần áo lễ hội, đi thăm viếng từ nhà này sang nhà khác. Mỗi ngôi nhà lại bày một cái bàn nhỏ, bên trên có bánh ngọt và nến, dùng để cúng tổ tiên. Người dân, bất kể già trẻ hay thân phận, chơi bài bạc khắp nơi trong thành phố; và cả ngày lẫn đêm, lúc nào cũng nghe tiếng các loại pháo. Ngày mồng Bảy [7th of the moon], ai có thể thì sẽ đi thăm bạn bè, họ hàng ở gần nhất và tặng quà. Buổi chiều, cây nêu bị hạ xuống. Cái bàn cúng cũng được dọn đồ ra cho người già ăn trong lễ. Trước đó, người trong nhà và khách khứa đã vái lại cái bàn trước. Người Việt ăn mọi thức thịt động vật, không phân biệt, kể cả thịt chó, mèo, chuột, cá sấu,... Ngày 18 tháng 2, hôm nay là ngày 17 Âm lịch[64], ngày kết thúc lễ hội. Một lễ chào với ba phát súng bắn ra từ tường thành, sau đó là các loạt súng và pháo từ các ngôi nhà trong thành phố. Toàn bộ quân lính kéo ra, vừa đánh trống và giơ cờ, họ diễu hành xung quanh thành trì. Sau đó họ hành quân đến bờ sông, có sẵn ba chiếc thuyền, một loạt súng chào mừng lại được bắn. Các chiếc thuyền chở đoàn diễu hành trên sông, theo sau bởi vô số xuồng ghe có trang trí cờ phướng, đèn, giáo,... Ngày 25 tháng 2, hỏa hoạn xảy ra gần nhà viên Thư ký [Lê Văn Khôi], Tổng trấn [Trần Văn Năng] hỗ trợ dập lửa. Hai căn nhà bị hư hại. Ngày 27 và các ngày sau lại có cháy nhà..."[55]

Đường phốSửa đổi

Từ thời Pháp thuộc, ở thị xã Vĩnh Yên thuộc tỉnh Vĩnh Yên cũ (ngày nay là thành phố Vĩnh Yên thuộc tỉnh Vĩnh Phúc) có một tuyến phố mang tên là phố Lê Văn Duyệt.[cần dẫn nguồn] Sau khi tiếp quản Vĩnh Yên vào năm 1954, chính quyền mới đã cho đổi tên phố này thành tên mới là phố Tân Lập, nay gọi là phố Lê Xoay.

Từ năm 1929, tại Sài Gòn, chính quyền thuộc địa cũng cho đặt tên đường Lê Văn Duyệt cho một con đường nhỏ ở phía sau chợ Tân Định. Đến năm 1955 thì đổi tên thành đường Mã Lộ cho đến nay.

Thành phố Hồ Chí Minh trước năm 1975 (lúc đó gọi là Sài Gòn và Gia Định) có tới 2 đại lộ mang tên Lê Văn Duyệt. Đại lộ Lê Văn Duyệt của Đô thành Sài Gòn cũ hiện nay là đường Cách mạng Tháng Tám, còn đại lộ Lê Văn Duyệt của tỉnh Gia Định cũ (nay thuộc địa bàn quận Bình Thạnh) sau đó cũng bị đổi tên và nhập chung với đường Đinh Tiên Hoàng (đoạn từ cầu Bông đến Lăng Ông Bà Chiểu), tuy nhiên đã được phục hồi tên đường Lê Văn Duyệt như cũ từ ngày 11 tháng 7 năm 2020 sau 45 năm bị thay đổi tên. Điều đặc biệt là cả hai con đường mang tên Lê Văn Duyệt này đều bị đổi tên vào cùng ngày 14 tháng 8 năm 1975. Ngoài ra trước năm 1976, quận 3 còn có phường Lê Văn Duyệt, ngày nay là địa bàn các phường 10 và 11 của quận 3.

Tên đường Lê Văn Duyệt vốn có từ trước năm 1975 nhưng vẫn được giữ nguyên, không bị thay đổi thành tên khác cho đến ngày nay tại một số thành phố, thị xã, thị trấn ở miền Nam và miền Trung như Bạc Liêu, Mỹ Tho, Trà Ôn (thuộc Vĩnh Long), Lái Thiêu (thuộc Bình Dương), Đà Nẵng, Phước Long (thuộc Bình Phước).

Hiện nay, tại Bạc Liêu có một con đường mang tên ông tại phường 3, thành phố Bạc Liêu. Tại thị xã La Gi, Phan Thiết, từ năm 2009 có đường Lê Văn Duyệt, từ đường Tôn Đức Thắng đến đường Kinh tế mới Tân An, dài 2200m x rộng 8m.[65]

Hiện tại Đà Nẵng có con đường tên Lê Văn Duyệt dọc con sông Hàn.

Ngày 11 tháng 7 năm 2020, Hội đồng Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh đã nhất trí thông qua Nghị quyết về việc đổi tên một đoạn đường Đinh Tiên Hoàng thuộc địa bàn quận Bình Thạnh (từ Cầu Bông đến ngã ba giao với đường Phan Đăng Lưu, giáp với Lăng Ông Bà Chiểu) với chiều dài 947m thành đường Lê Văn Duyệt. Đây chính là đại lộ Lê Văn Duyệt đi ngang qua địa bàn tỉnh lỵ Gia Định cũ từ sau năm 1945 cho đến năm 1975. Đến ngày 16 tháng 9 năm 2020(nhằm ngày 29 tháng 7 năm Canh Tý), sau 45 năm bị thay đổi tên, đoạn đường này được phục hồi tên cũ là đường Lê Văn Duyệt nhân dịp giỗ lần thứ 188 của Tả Quân.

Những câu nói nổi tiếng của Tả QuânSửa đổi

Khi đánh trận đầm Thị Nại (1801), lúc Võ Di Nguy trúng đạn tử trận, quân hơi hoảng, Nguyễn Ánh nói ông rút quân, ông nói với Vua rằng sắp thắng và động viên binh sĩ:

"Báo đền ơn chính là vào đêm nay, sống thì cùng nhau hưởng phú quý, chết thì Triều đình hương khói phụng thời."

Khi làm tổng trấn Gia Định ông có nói: "Khởi nghĩa nông dân là do bọn tham quan áp bức bóc lột nên họ khởi nghĩa, chỉ cần trừng trị bọn tham quan thì họ không cần phải khởi nghĩa nữa."

Và khi chuẩn bị chém cha vợ vua Minh Mạng ông tâu rằng: "Chống tham nhũng như chống mối phải từ nóc nhà mà chống xuống. Đám quan lại tham nhũng như bầy mối càng to thì đục khoét càng dữ không diệt trừ tận gốc thì nhà sập, lúc đó bệ hạ và quần thần muốn đỡ cũng đỡ không nổi đâu!"

Khi ông ra lại khai quan, không tỏa cảng thì ông nói: "Bế quan tỏa cảng là không nên, có nhà mà đóng cửa cài then thì làm sao gió vào cho được gió không vào được thì người ta làm sao mà khỏe."

Xem thêmSửa đổi

Sách tham khảoSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Dựng tượng đồng Lê Văn Duyệt tại lăng Ông
  2. ^ Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (tr. 387) và Thành ngữ, điển tích, danh nhân từ điển (quyển 1, tr. 679). Có bài viết ghi ông sinh 1764, theo gia phả Họ Lê Văn ở Làng Bồ Đề huyện Mộ Đức tỉnh Quảng Ngãi.
  3. ^ Far-sighted sovereigns in Việt Nam Thế giới Publishers (Hanoi, Vietnam) 2004 Page 64 "Especially, when the meritorious warriors Nguyễn Văn Thành and Lê Văn Duyệt were Governors-General of Bắc Thành and Gia Ðịnh respectively, their authority went beyond the central court's control."
  4. ^ Jacob Ramsay Mandarins and Martyrs: The Church and the Nguyen Dynasty Page 61 2008 "Huế recognized the mission's prominence in Gia Định's power networks, notably its close ties with Lê Văn Duyệt, as part of the general threat southern parochialism posed to the primacy of the capital."
  5. ^ Sơn Nam, sách ở mục tham khảo, tr. 123.
  6. ^ Trong số này, ngoài ông Duyệt, còn có Lê Văn Phong (em ruột ông Duyệt) cũng được vua Gia Long trọng dụng, từng lãnh chức Chưởng tả dinh. Hiện còn mộ tại Gia Định (theo Gia Định xưa, tr. 65)
  7. ^ Theo Việt sử giai thoại (Tập 8), tr. 55.
  8. ^ Theo Hỏi đáp lịch sử Việt Nam (Tập 3), tr. 326.
  9. ^ Tương truyền, trong một đêm mưa to gió lớn, trên đường trốn chạy sự truy đuổi của quân Tây Sơn, thuyền của chúa Nguyễn Phúc Ánh bị chìm gần vàm Trà Lọt. Gia đình ông Lê Văn Toại phát hiện chèo xuồng ra cứu thoát và đưa về nhà tá túc. Thưởng công cứu giá, chúa Nguyễn nhận Lê Văn Duyệt làm thái giám lúc 17 tuổi (xem: Hoàng Lại Giang, Lê Văn Duyệt, tr. 23).
  10. ^ Theo Quốc triều sử toát yếu, tr. 35.
  11. ^ Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, tr. 387.
  12. ^ Theo Quốc triều sử toát yếu, tr. 50 và 54.
  13. ^ a ă Trích Quốc triều sử toát yếu, tr. 61.
  14. ^ Theo Sơn Nam, Lăng Ông Bà Chiểu và Lễ hội văn hóa dân gian, tr.126.
  15. ^ Theo Quốc triều sử toát yếu (tr. 114) và Việt Nam sử lược (tr. 420).
  16. ^ Theo Quốc triều sử toát yếu (tr. 126) và Việt Nam sử lược (tr. 423). Ở đây, GS. Nguyễn Khắc Thuần có lời bàn đại ý là "việc Nguyễn Văn Thành để tâm chán ghét Lê Văn Duyệt khi ông này từ chối uống rượu, là một trong số nguyên nhân khiến cha con ông khó tránh được đại họa" (Việt sử giai thoại, tập 8, tr. 45).
  17. ^ Quốc triều sử toát yếu, tr. 126.
  18. ^ Lược theo Quốc triều sử toát yếu, tr. 138 và 139.
  19. ^ Theo Việt Nam sử lược, tr. 445.
  20. ^ Theo Vũ Man tạp lục (dẫn lại theo Nguyễn Phan Quang, Việt Nam thế kỷ XIX, Nhà xuất bản. Thành phố Hồ Chí Minh, 2002, tr. 216). Viêm Giao trưng cổ ký của Cao Xuân Dục (Nhà xuất bản. Thời đại, 2010, tr. 194).
  21. ^ Trường Lũy dài nhất Đông Nam Á.
  22. ^ Đại Nam thực lục (tập 2), tr. 93 và tr. 134.
  23. ^ Đại Nam thực lục (tập 2), tr. 115.
  24. ^ Theo Quốc triều sử toát yếu, tr. 165.
  25. ^ Theo Thành ngữ, điển tích, danh nhân từ điển (quyển 1, tr. 680) và Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (tr. 387).
  26. ^ Ở đây, nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu có lời bàn: "Việc bỏ cấp thành, bỏ chức vụ Tổng trấn ở Bắc và ở Nam, có lẽ không khỏi có lý do là nhà vua ở Huế e ngại hai ông Tổng trấn (ông Thành và ông Duyệt) có thể có ngày nào lấn hay tiếm quyền vua, nhưng đó là một xu thế tất yếu của sự thống nhất toàn diện" (Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh , quyển 1, tr. 208).
  27. ^ Theo Đại Nam chính biên liệt truyện. Trích lại trong Việt Nam sử lược (tr. 118)
  28. ^ Theo Sơn Nam, Lịch sử khẩn hoang miền Nam (Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1994, tr. 82), và Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (tr.388).
  29. ^ a ă McLeod, Mark W. (1991). The Vietnamese response to French intervention, 1862–1874, Praeger. ISBN 0-275-93652-0. tr 28.
  30. ^ McLeod, Mark W. (1991). The Vietnamese response to French intervention, 1862–1874, Praeger. ISBN 0-275-93652-0. tr 24.
  31. ^ a ă â Lý Việt Dũng, "Mộ tả quân Lê Văn Duyệt hiện ở đâu?.
  32. ^ Theo Hỏi đáp lịch sử Việt Nam (Tập 3), tr. 327.
  33. ^ Huỳnh Minh, Gia Định xưa, tr. 48.
  34. ^ a ă â b c Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện (toàn tập). Nhà Xuất Bản Thuận Hóa. Tập 02, truyện về Lê Văn Duyệt.
  35. ^ Ban đầu, vua Minh Mạng định quật mộ, nhưng sau lại thôi, vì có lời tha thiết xin ân giảm của Võ Xuân Cẩn (Sơn Nam, sách ở mục tham khảo, tr. 145.
  36. ^ Nguyên văn chữ Hán: 權奄黎文悅服法處. Lời dụ trích trong Việt Nam sử lược, tr. 453-454.
  37. ^ Quốc triều sử toát yếu, tr. 303-304.
  38. ^ Quốc triều sử toát yếu, tr. 354-355.
  39. ^ Quốc triều sử toát yếu, tr. 438.
  40. ^ Anh hài để rèn luyện võ nghệ cho trẻ thích việc kiếm cung, và "Giáo dưỡng" để cho những trẻ khác và quả phụ học văn chương và nghề nghiệp.
  41. ^ Lược theo Hỏi đáp lịch sử Việt Nam (Tập 3), tr. 327-328.
  42. ^ http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/20080203/dung-tuong-dong-le-van-duyet-tai-lang-ong/241952.html
  43. ^ Theo tài liệu của Ban Quý Tế Lăng Ông thì vua Gia Long đứng ra gả cưới một cung nhân nết na, hiền hậu cho Lê Văn Duyệt. Vương Hồng Sển cho biết bà tên Đỗ Thị Phẫn (Hoàng Lại Giang ghi là Phận). Tương truyền khi Lê Tả quân bị tội, bà về ngụ nơi xóm Chợ Rẫy, trong một ngôi chùa Phật, do bà mẹ năm xưa đứng tạo lập tục danh là Chùa Bà Dội" (Sài Gòn năm xưa, tr. 86 và 160). Bà không bị giết vì Lê Văn Duyệt là người yêm hoạn, theo luật thời bấy giờ, bà không phải là vợ nên được miễn nghị. Theo Sơn Nam (tr. 146), "Dồi" (ghi hơi khác với ông Sển) là tên của người mẹ, và chùa ở gần Bệnh viện Chợ Rẫy.
  44. ^ Xem chi tiết trong sách Lê Văn Duyệt (chương 22) của Hoàng Lại Giang.
  45. ^ Huỳnh Minh, Gia Định xưa, Nhà xuất bản Thanh Niên in lại năm 2001, trang 53.
  46. ^ a ă â b John Crawfurd (1828): Journal of an embassy from the Governor-General of India to the courts of Siam and Cochin-China: exhibiting a view of the actual state of those kingdoms. SOUTHEAST ASIA VISIONS, Cornell University Library’s John M. Echols Collection. Chapter 8.
  47. ^ Có lẽ Crawfurd nhớ lẫn lộn danh hiệu Chao, chỉ các quan ở Xiêm, nên ghi Ta-Kun thành Chao-Kun?
  48. ^ Đại Nam liệt truyện (tập 02, nxb Thuận Hóa), trang 312 ghi: "Năm [Minh Mạng] thứ 2 (1822), [Trương Tấn Bửu] lại làm Phó tổng trấn ở Gia Định, Bửu vào bệ kiến từ biệt vua..."
  49. ^ Đại Nam thực lục (tập 02, nxb Giáo Dục 2007): Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3 [1822], mùa hạ, tháng 6,... Đổi chức cai Tàu vụ làm quản lý Thương bạc sự vụ, chức cai Trường đà sự làm Tào chính. Sai Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên vẫn quản lý Thương bạc sự vụ, Thượng thư Hình bộ Lê Bá Phẩm và Phó đô thống chế Thuỷ quân Phạm Văn Tường vẫn quản Tào chính.
  50. ^ “Lý lịch sự vụ của Nguyễn Đức Xuyên- tập hồi kí giai đoạn chiến tranh với Tây Sơn của chúa Nguyễn (bài 1)”. 
  51. ^ “Tọa đàm ra mắt sách "Lý lịch sự vụ" của Nguyễn Đức Xuyên”. 
  52. ^ “Hồi ký biên niên "Lý lịch sự vụ" của Nguyễn Đức Xuyên”. 
  53. ^ Journal of an Embassy from the Governor-general of India to the Courts of Siam and Cochin China: Exhibiting a View of the Actual State of Those Kingdoms, Tập 1. H. Colburn and R. Bentley, 1830. Chapter 10.
  54. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục. Nhà Xuất Bản Thuận Hóa. Tập 02, truyện về Lê Văn Duyệt.
  55. ^ a ă â b c John Crawfurd (1828): Journal of an embassy from the Governor-General of India to the courts of Siam and Cochin-China: exhibiting a view of the actual state of those kingdoms. SOUTHEAST ASIA VISIONS, Cornell University Library’s John M. Echols Collection. Appendix A. Page 409.
  56. ^ John Crawfurd (1828): Journal of an embassy from the Governor-General of India to the courts of Siam and Cochin-China: exhibiting a view of the actual state of those kingdoms. SOUTHEAST ASIA VISIONS, Cornell University Library’s John M. Echols Collection. Appendix A. Page 413.
  57. ^ Nguyên văn Inspector-general. Đại Nam thực lục (tập 02, bản dịch NXB Giáo dục 2007) ghi: Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3 [1822],... Sai Lang trung Hộ bộ Trương Thừa Huy đem các bộ ty đi thanh tra thành Gia Định...
  58. ^ Đại Nam thực lục (tập 02, bản dịch 2007): Tổng trấn thành Gia Định là Lê Văn Duyệt dâng biểu xin vào yết kiến. Vua chuẩn cho hơn 1.000 người biền binh bộ hạ đi theo...
  59. ^ “Thủ Thiêm và di sản kiến trúc tôn giáo”. 
  60. ^ “Đất Thủ Thiêm của Sài Gòn xưa”. 
  61. ^ "Thủy tặc" xưa bên bến đò Thủ Thiêm”. 
  62. ^ Đại Nam liệt truyện (tập 2, nxb Thuận Hóa): "An Nghĩa công chúa Ngọc Ngôn: Con gái thứ mười của Thế Tổ, là em gái cùng mẹ với Quảng Uy công tên là Quân. Năm Minh Mạng thứ 4, gả cho Lê Văn Yên là con cả Lê Văn Phong làm con thừa tự Lê Văn Duyệt. Năm thứ 16 (1835) việc án của Duyệt phát ra, Yên bị tội phải xử tử..."
  63. ^ Xem phần nói về Lê Văn Duyệt: "...Viên quan hộ tống chúng tôi từ Canju [Cần Giờ] cũng bị kết án ăn hối lộ và tham ô, quan Tổng trấn tịch thu tài sản và đóng gông hai vợ chồng viên quan này. Viên quan này ăn chặn tiền lương của nhân công đào kênh Athien [kênh Hà Tiên] và moi tiền của nông dân làng kế bên. Tổng số tiền không hơn một nghìn quan..."
  64. ^ Tra cứu https://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/amlich/ thì ngày 18 tháng 2 năm 1824 là ngày 19 tháng Giêng năm Giáp Thân.
  65. ^ NGHỊ QUYẾT Về việc đặt tên một số đường trên địa bàn thị xã La Gi

Liên kết ngoàiSửa đổi