Tiền Giang

Tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam

Tiền Giang là một tỉnh ven biển thuộc đồng bằng sông Cửu Long, miền Nam, Việt Nam. Tỉnh nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Tỉnh lỵ của tỉnh là Thành phố Mỹ Tho, nằm cách Thành phố Hồ Chí Minh 70 km về hướng Tây Nam và cách Thành phố Cần Thơ 90 km về hướng Đông Bắc[5] theo đường Quốc lộ 1.

Tiền Giang
Tỉnh
Tỉnh Tiền Giang
Thu Khoa Huan.jpg
Tượng đài Thủ Khoa Huân tại thành phố Mỹ Tho

Biệt danhVùng đất sông Tiền
Tên cũĐịnh Tường, Mỹ Tho
Hành chính
Quốc giaViệt Nam
Vùng
Tỉnh lỵThành phố Mỹ Tho
Trụ sở UBNDSố 23 đường 30/4, phường 1, thành phố Mỹ Tho
Phân chia hành chính1 thành phố, 2 thị xã, 8 huyện
Thành lập
Đại biểu quốc hội
Tổ chức lãnh đạo
Chủ tịch UBNDNguyễn Văn Vĩnh
Hội đồng nhân dân61 đại biểu
Chủ tịch HĐNDVõ Văn Bình
Chủ tịch UBMTTQNguyễn Chí Trung
Chánh án TANDHuỳnh Xuân Long
Viện trưởng VKSNDNguyễn Văn Hòa
Bí thư Tỉnh ủyNguyễn Văn Danh
Địa lý
Tọa độ: 10°25′13″B 106°17′49″Đ / 10,420288°B 106,296844°Đ / 10.420288; 106.296844
Bản đồ tỉnh Tiền Giang
Vị trí tỉnh Tiền Giang trên bản đồ Việt Nam
Vị trí tỉnh Tiền Giang trên bản đồ Việt Nam
Vị trí tỉnh Tiền Giang trên bản đồ Việt Nam
Diện tích2.556,36 km²[1][2]:90
Dân số (2021)
Tổng cộng1.779.400 người[2]:93
Thành thị253.600 người (14,25%)[2]:99
Nông thôn1.525.800 người (85,75%)[2]:101
Mật độ696 người/km²[2]:90
Dân tộcKinh, Hoa
Kinh tế (2021)
GRDP100.315 tỉ đồng (4,337 tỉ USD)[3]
GRDP đầu người56,4 triệu đồng (2.405 USD)[3]
Khác
Mã địa lýVN-46
Mã hành chính82[4]
Mã bưu chính86xxxx
Mã điện thoại273
Biển số xe63
Websitetiengiang.gov.vn

Tiền Giang có đường bờ biển dài 32 km với địa hình tương đối bằng phẳng, đất phù sa trung tính, ít chua dọc sông Tiền,sông Vàm Cỏsông Soài Rạp,phần dọc sông Tiền chiếm khoảng 53% diện tích toàn tỉnh, thích hợp cho nhiều loại cây trồng và vật nuôi. Tiền Giang là tỉnh có nhiều tiềm năng về du lịch.[5]

Năm 2018, Tiền Giang là đơn vị hành chính Việt Nam đông thứ 14 về dân số, xếp thứ 21 về Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), xếp thứ 32 về GRDP bình quân đầu người, đứng thứ 45 về tốc độ tăng trưởng GRDP. Với 1.772.785 người dân, GRDP năm 2021 đạt 100.315 tỉ Đồng, GRDP bình quân đầu người đạt 56,4 triệu đồng (tương ứng với 2.405 USD).[3]

Địa lýSửa đổi

Tỉnh Tiền Giang nằm trong tọa độ địa lý 105°49'07" đến 106°48'06" kinh độ Đông và 10°12'20" đến 10°35'26" vĩ độ Bắc, có vị trí địa lý:[5]

Tiền Giang nằm trải dọc trên bờ bắc sông Tiền (một nhánh của sông Cửu Long) với chiều dài 120 km, kéo dài đến các cửa biển đổ vào Biển Đông. Nhờ vị trí thuận lợi, Tiền Giang đã trở thành trung tâm văn hóa chính trị của cả Đồng bằng sông Cửu Long,[6] là địa bàn trung chuyển hết sức quan trọng gắn cả miền Tây Nam Bộ. Đồng thời giúp Tiền Giang trở thành một tỉnh có nền kinh tế phát triển hàng đầu trong khu vực Tây Nam Bộ và Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Tiền Giang có khu vực giáp Biển Đông thuộc huyện Gò Công Đông và huyện Tân Phú Đông với bờ biển dài 32 km nằm kẹp giữa các cửa sông lớn là Xoài Rạpcửa Tiểu, cửa Đại thuộc hệ thống sông Tiền. Vị trí này rất thuận lợi cho nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản. Thủy sản nước lợ gồm con giống và con non sinh sản và di chuyển vào sâu trong bờ, trữ lượng hàng năm ước tính về tôm, cua, , , nghêu,... tại các vùng cửa sông là 156.000 tấn. Hải sản, tiềm năng hải sản khá dồi dào với trữ lượng hàng năm về sinh vật nổi lên đến 12.000 triệu tấn thực vật phiêu sinh, 5,96 triệu tấn động vật phiêu sinh, 4,7 triệu tấn sinh vật đáy và hơn 1 triệu tấn cá.

Điều kiện tự nhiênSửa đổi

Địa hìnhSửa đổi

Tỉnh Tiền Giang có địa hình bằng phẳng, với độ dốc nhỏ hơn 1% và cao trình biến thiên từ 0 mét đến 1,6 mét so với mặt nước biển, phổ biến từ 0,8 mét đến 1,1 mét. Nhìn chung, toàn vùng không có hướng dốc rõ ràng, tuy nhiên có những khu vực có tiểu địa hình thấp trũng hay gò cao hơn so với địa hình chung. Trên địa bàn còn có rất nhiều giồng cát biển hình cánh cung có cao trình phổ biến từ 0,9 - 1,1 mét nổi hẳn lên trên các đồng bằng xung quanh.

Thổ nhưỡngSửa đổi

Đất đai của tỉnh phần lớn là nhóm đất phù sa trung tính, ít chua dọc sông Tiền chiếm khoảng 53% diện tích toàn tỉnh, thuận lợi nguồn nước ngọt, từ lâu đã được đưa vào khai thác sử dụng, hình thành vùng lúa năng suất cao và vườn cây ăn trái chuyên canh của tỉnh; còn lại 19,4% là nhóm đất phèn và 14,6% là nhóm đất phù sa nhiễm mặn,...

Khí hậuSửa đổi

Tiền Giang mang tính chất nội chí tuyến - cận xích đạo và khí hậu nhiệt đới gió mùa nên nhiệt độ bình quân cao và nóng quanh năm. Nhiệt độ bình quân trong năm là 27oC - 27,9oC. Với 2 mùa rõ rệch là mùa mưa và mùa khô. Mùa khô từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau, lượng mưa trung bình 1.210 - 1.424 mm/năm và phân bố ít dần từ bắc xuống nam, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11.

Khoáng sảnSửa đổi

Tiền Giang là tỉnh có nhiều trữ lượng về khoáng sản, các khoáng sản chủ yếu là than bùn, sét, trữ lượng cát trên sông, và trữ lượng nước ngầm,...Trong đó, các mỏ than bùn bị phủ một lớp sét, mùn thực vật dày 0-0,7 mét, trung bình là 0,3 mét. Mỏ sét Tân Lập có nguồn gốc trầm tích hỗn hợp sông biển, tuổi Holocen, có lớp phủ dày 0,2 - 3 mét, phân bố trên diện tích 2 – 3 km2 với chiều dày 15 - 20m. Trữ lượng tương đương 6 triệu m3. Các mỏ cát được xác định, phân lớp tập trung tại địa bàn các huyện Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành với 9 thân cát có trữ lượng lớn với chiều dài 2 – 17 km, rộng 300 - 800m, dày 2,5-6,9 mét, có chất lượng đáp ứng nhu cầu vật liệu san lấp. Nước dưới đất trên phạm vi tỉnh có 3 tầng chứa nước có triển vọng, có độ giàu nước từ lớn đến trung bình, có chất lượng tốt, đủ điều kiện khai thác với quy mô lớn và vừa gồm các phân vị Pliocen trên, Pliocen dưới và Miocen.

Thủy vănSửa đổi

 
Người phụ nữ chèo xuồng trên sông ở Mỹ Tho

Tiền Giang có mạng lưới sông, rạch chằng chịt, bờ biển dài thuận lợi cho việc giao lưu trao đổi hàng hoá với các khu vực lân cận đồng thời là môi trường cho việc nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản. Trong đó, sông Tiền là nguồn cung cấp nước ngọt chính, chảy 115 km ngang qua lãnh thổ Tiền Giang. Sông Vàm Cỏ Tây là một sông không có nguồn, lượng dòng chảy trên sông chủ yếu là từ sông Tiền chuyển qua, là nơi nhận nước tiêu lũ từ Đồng Tháp Mười thoát ra và là một tuyến xâm nhập mặn chính từ biển vào. Hầu hết sông, rạch trên địa bàn tỉnh chịu ảnh hưởng chế độ bán nhật triều không đều. Đặc biệt vùng cửa sông có hoạt động thủy triều rất mạnh, biên độ triều tại các cửa sông từ 3,5 - 3,6m, tốc độ truyền triều 30 km/h, tốc độ độ chảy ngược trung bình 0,8 - 0,9 m/s, lớn nhất lên đến 1,2 m/s và tốc độ chảy xuôi đến 1,5 - 1,8 m/s.

Danh sách cù lao trên sông của Tiền GiangSửa đổi

Từ tây sang đông, hướng thượng lưu chảy xuống hạ lưu sông Tiền có các cù lao:

Danh sách cù lao ven biển của Tiền GiangSửa đổi

Nhiều cù lao ven biển đã trở thành bãi bồi.

Hành chínhSửa đổi

Tiền Giang có 11 đơn vị hành chính gồm 1 thành phố, 2 thị xã và 8 huyện với 172 đơn vị hành chính cấp , bao gồm 8 thị trấn, 22 phường và 142 .[7]

Ðơn vị hành chính cấp huyện Thành phố
Mỹ Tho
Thị xã
Cai Lậy
Thị xã
Gò Công
Huyện
Cái Bè
Huyện
Cai Lậy
Huyện
Châu Thành
Huyện
Chợ Gạo
Huyện
Gò Công Đông
Huyện
Gò Công Tây
Huyện
Tân Phú Đông
Huyện
Tân Phước
Diện tích (km²) 81,54 140,19 101,99 420,90 295,00 229,91 229,43 267,68 180,17 222,11 333,22
Dân số (người) 228.109 143.050 99.657 291.627 242.757 265.112 186.803 142.797 131.252 42.926 57.561
Mật độ dân số (người/km²) 2.798 1.020 974 693 823 1.153 814 533 728 193 173
Số đơn vị hành chính 11 phường, 6 xã 6 phường, 10 xã 5 phường, 7 xã 1 thị trấn, 24 xã 1 thị trấn, 15 xã 1 thị trấn, 22 xã 1 thị trấn, 18 xã 2 thị trấn, 11 xã 1 thị trấn, 12 xã 6 xã 1 thị trấn, 11 xã
Năm thành lập 1967[8] 2013[9] 1987[10] 1912 1904 1912 1912 1979[11] 1979[11] 2008[12] 1994[13]
Loại đô thị I III III V V V V V V V
Nguồn: Website tỉnh Tiền Giang

Lịch sửSửa đổi

Phần lớn diện tích của tỉnh thuộc địa bàn tỉnh Mỹ Tho cũ. Tuy nhiên, cũng có thời kỳ toàn bộ diện tích tỉnh Tiền Giang ngày nay đều thuộc tỉnh Mỹ Tho, bao gồm cả vùng Gò Công. Tên gọi cũ của tỉnh trước năm 1976 là Định Tường.

Tỉnh Tiền Giang từ năm 1976 đến naySửa đổi

Ngày 24 tháng 2 năm 1976, Chính phủ Việt Nam quyết định hợp nhất tỉnh Mỹ Tho, tỉnh Gò Côngthành phố Mỹ Tho để thành lập tỉnh mới có tên là tỉnh Tiền Giang (trừ huyện Bình Đại nằm phía nam sông Tiền Giang đã nhập vào tỉnh Bến Tre từ trước). Tỉnh Tiền Giang gồm thành phố Mỹ Tho, thị xã Gò Công và 5 huyện: Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành, Chợ Gạo, Gò Công. Tỉnh lỵ là thành phố Mỹ Tho, vốn được Trung ương công nhận là đô thị loại 3 trực thuộc tỉnh Tiền Giang vào năm 1976.

Ngày 26 tháng 3 năm 1977, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 77-CP[14] về việc chuyển thị xã Gò Công thuộc tỉnh Tiền Giang thành thị trấn Gò Công thuộc huyện Gò Công cùng tỉnh.

Ngày 13 tháng 4 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 155-CP[11] về việc chia huyện Gò Công thuộc tỉnh Tiền Giang thành huyện Gò Công Đông và huyện Gò Công Tây.

Ngày 16 tháng 2 năm 1987, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 37-HĐBT[10] về việc thành lập thị xã Gò Công trực thuộc tỉnh Tiền Giang trên cơ sở một phần diện tích, dân số của huyện Gò Công Đông và huyện Gò Công Tây.

Trước năm 1994, tỉnh Tiền Giang có 8 đơn vị hành chánh trực thuộc là: thành phố Mỹ Tho, thị xã Gò Công, huyện Cái Bè, huyện Cai Lậy, huyện Châu Thành, huyện Chợ Gạo, huyện Gò Công Đông, huyện Gò Công Tây.

Ngày 11 tháng 7 năm 1994, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 68-CP[13] về việc thành lập huyện Tân Phước thuộc tỉnh Tiền Giang trên cơ sở tách một phần diện tích và dân số của các huyện Cai Lậy và Châu Thành. Huyện Tân Phước có diện tích 32.991,44 hécta; nhân khẩu 42.031.

Ngày 21 tháng 1 năm 2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 09/2008/NĐ-CP, về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Gò Công Đông và Gò Công Tây để mở rộng thị xã Gò Công và thành lập huyện Tân Phú Đông thuộc tỉnh Tiền Giang. Theo đó, thành lập huyện Tân Phú Đông bao gồm toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của các xã: Tân Thới, Tân Phú, Phú Thạnh, Tân Thạnh của huyện Gò Công Tây và toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của xã Phú Đông và xã Phú Tân của huyện Gò Công Đông. Huyện Tân Phú Đông có 6 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các xã: Phú Đông, Phú Tân, Tân Thới, Tân Phú, Tân Thạnh và Phú Thạnh.

Ngày 7 tháng 10 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 248/2005/QĐ-TTg[15] về việc công nhận thành phố Mỹ Tho thuộc tỉnh Tiền Giang là đô thị loại II.

Lịch sử phát triển
dân số
Năm Dân số
1995 1.581.500
1996 1.587.400
1997 1.593.600
1998 1.600.000
1999 1.608.400
2000 1.613.500
2001 1.620.100
2002 1.626.700
2003 1.634.000
2004 1.642.700
2005 1.650.100
2006 1.655.300
2007 1.661.600
2008 1.668.000
2009 1.672.800
2010 1.678.000
2011 1.682.600
2017 1.748.908
2019 1.764.185
Nguồn:
 
Tượng đài Nguyễn Hữu Huân ở TP. Mỹ Tho

Ngày 21 tháng 1 năm 2008, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 09/2008/NĐ-CP[12] về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Gò Công ĐôngGò Công Tây để mở rộng thị xã Gò Công và thành lập huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang. Theo đó, thành lập huyện Tân Phú Đông thuộc tỉnh Tiền Giang trên cơ sở điều chỉnh 8.632,88 ha diện tích tự nhiên và 33.296 nhân khẩu của huyện Gò Công Tây; 11.575,43 ha diện tích tự nhiên và 9.630 nhân khẩu của huyện Gò Công Đông.

Ngày 29 tháng 6 năm 2009, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số 28/NQ-CP[16] về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Châu Thành, huyện Chợ Gạo để mở rộng địa giới hành chính thành phố Mỹ Tho; điều chỉnh địa giới hành chính xã, thành lập xã thuộc thành phố Mỹ Tho, huyện Châu Thành, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 26 tháng 12 năm 2013, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số 130/NQ-CP[9] về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Cai Lậy để thành lập thị xã Cai Lậy và huyện Cai Lậy còn lại; thành lập các phường thuộc thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 05 tháng 2 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 242/QĐ-TTg[17] về việc công nhận thành phố Mỹ Tho là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Tiền Giang.

Tỉnh Tiền Giang có 1 thành phố, 2 thị xã và 8 huyện như hiện nay.

Kinh tếSửa đổi

Trong 6 tháng đầu năm 2012, Tổng sản phẩm trên địa bàn ước tính đạt 8.232 tỷ đồng, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2011. Tốc độ tăng trưởng kinh tế có chậm lại so với 2 năm trước liền kề.

 
Cầu Quay, Thành phố Mỹ Tho.

So với 6 tháng đầu năm 2011, Khu vực nông lâm nghiệpthủy sản tăng trưởng 5,6%, trong đó nông nghiệp tăng 6,2%. Khu vực công nghiệp - xây dựng tăng trưởng 13,1%, tăng cao hơn 6 tháng đầu năm 2011 là 0,9%, trong đó công nghiệp tăng 18,1%. Khu vực dịch vụ tăng trưởng 10,4%, tăng thấp hơn 6 tháng đầu năm 2011 là 0,8%. Cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch chậm, tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng, dịch vụ và tỷ trọng nông nghiệp giảm. Khu vực nông lâm thủy sản chiếm 47,2%, khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 26,3%, khu vực dịch vụ chiếm 26,5%.

Trong 6 tháng đầu năm 2012, tổng thu ngân sách đạt 4.126 tỷ đồng, tăng 9,6% so cùng kỳ. Tính đến ngày 11 tháng 6 năm 2012, tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn đạt 19.546 tỷ đồng, tăng 2.301 tỷ đồng so đầu năm và tăng 21,7% so cùng kỳ. Dư nợ cho vay là 16.039 tỷ đồng giảm 37 tỷ so đầu năm và tăng 6,1% so cùng kỳ, trong đó dư nợ ngắn hạn đạt 11.552 tỷ đồng, chiếm 72% trong tổng dư nợ cho vay. Nợ xấu 6 tháng qua có xu hướng tăng lên, tăng 421 tỷ đồng so đầu năm và chiếm 3,7% trong tổng dư nợ.

Uớc đạt trong 6 tháng đầu năm 2012, Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện 6.208,8 tỷ đồng, đạt 34,8% kế hoạch, bằng 98,9% so cùng kỳ. Vốn khu vực Nhà nước 953,6 tỷ đồng, chiếm 15,2% trong tổng vốn đầu tư, khu vực ngoài Nhà nước 4.660,6 tỷ đồng, tăng 9,5%, khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là 594,6 tỷ đồng, bằng 60,1% so cùng kỳ. Vốn đầu tư từ Ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện 742,9 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách trung ương 88,6 tỷ đồng, chiếm 11,9% tổng số, vốn ngân sách địa phương 731 tỷ đồng, chiếm 88,1%. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được 7 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký 152,6 triệu USD.

Sáu tháng đầu năm 2012, Tỉnh có 165 doanh nghiệp đăng ký thành lập với tổng vốn đăng ký là 393,9 tỷ đồng, giảm 27% về số doanh nghiệp và giảm 51,8% về lượng vốn đăng ký. Ngoài ra, còn có 90 doanh nghiệp đăng ký bổ sung vốn với tổng vốn bổ sung thêm là 1.495,2 tỷ đồng và 321 doanh nghiệp đăng ký bổ sung ngành nghề kinh doanh. Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2011, trên địa bàn tỉnh có 4.112 doanh nghiệp, trong đó có 2.793 doanh nghiệp đang hoạt động, 207 doanh nghiệp đã đăng ký nhưng chưa hoạt động, 159 doanh nghiệp ngừng sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp chờ giải thể 121, doanh nghiệp không tìm thấy, không xác minh 166, doanh nghiệp thuộc đối tượng khác 666. Tổng số hợp tác xã hiện có trên địa bàn tỉnh là 104 hợp tác xã và 1 Liên hiệp hợp tác xã.

 
Dãy nhà dân sinh dọc theo bờ sông tại Mỹ Tho.

Trong sáu tháng đầu năm 2012, Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội thực hiện được 15.438 tỷ đồng, đạt 46,5% kế hoạch năm và tăng 16,7% so cùng kỳ. Xuất khẩu hàng hóa không được thuận lợi, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 360 triệu USD, đạt 41,9% kế hoạch. Hàng thủy sản xuất 60.476,8 tấn tăng 13,4%, về trị giá tương đương 159,8 triệu USD tăng 7,2% so cùng kỳ. Hàng rau quả xuất 3.345 tấn giảm 30,3%, về trị giá đạt 3,7 triệu USD chỉ bằng 64,6% so cùng kỳ. Xuất khẩu Gạo đạt được 89.592 tấn bằng 63,8% so cùng kỳ, về trị giá đạt 41,4 triệu USD giảm 35,7% so cùng kỳ (giảm 22,9 triệu USD). Hàng dệt may xuất được 5.341,8 ngàn sản phẩm giảm 8,5% so cùng kỳ, về trị giá tương đương 57 triệu USD tăng 10,7% so cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 125,3 triệu USD, đạt 36,9% kế hoạch và bằng 80,4% so cùng kỳ, gồm kinh tế nhà nước đạt 26,2 triệu USD, tăng 38%; kinh tế tư nhân đạt 40,2 triệu USD, bằng 58,8%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 59 triệu USD, bằng 86% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đạt 655,4 tỷ đồng, tăng 28,5% so cùng kỳ, trong đó vận tải hàng hóa đạt 394,3 tỷ đồng, tăng 32,2%, vận tải hành khách đạt 239,3 tỷ đồng, tăng 23,3%. Tổng khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 5.805 nghìn tấn, tăng 17,8% so cùng kỳ, khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 552.206 nghìn tấn, tăng 24,6% so cùng kỳ. Doanh thu Bưu chính viễn thông đạt 538,2 tỷ đồng tăng 17,7% so 6 tháng đầu năm 2011. Chỉ số giá tiêu dùng tăng 1,33% so với tháng 12 năm 2011, bình quân 1 tháng tăng 0,22%.

Năm 2019, tăng trưởng kinh tế trên địa bàn tỉnh đạt 7,26%; khu vực nông, lâm, ngư nghiệp tăng 3,17%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12,19%; khu vực dịch vụ tăng 7,55%. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 34.521 tỉ đồng, tăng 10,5%, đạt 100,1% so với kế hoạch đề ra. Tổng thu ngân sách đạt 11.260 tỉ đồng, đạt 121,01% so với kế hoạch. Tổng chi ngân sách đạt 16.508,4 tỉ đồng, đạt 145% so với kế hoạch, tăng 134,4% so với năm 2018.

Các khu công nghiệp trong tỉnh

Mạng lưới viễn thông Tiền Giang đã được hiện đại hóa và triển khai đồng loạt trong toàn tỉnh, đảm bảo thông tin liên lạc được thông suốt trong nước và quốc tế.

Dân sốSửa đổi

Theo thống kê năm 2021, tỉnh Tiền Giang có diện tích 2.510,60 km², dân số là 1.772.785 người[18], mật độ dân số đạt 706 người/km². Trong đó dân số sống tại thành thị đạt 247.742 người, chiếm 14% dân số toàn tỉnh, dân số sống tại nông thôn đạt 1.516.443 người, chiếm 86% dân số. Dân số nam đạt 865.821 người, trong khi đó nữ đạt 898.364 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 0,54 ‰. Tỷ lệ đô thị hóa tính đến năm 2020 đạt 15%.

Xã hộiSửa đổi

Giáo dụcSửa đổi

Hệ thống giáo dục của tỉnh Tiền Giang bao gồm đầy đủ các cấp học như mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông. Đến 30 tháng 9 năm 2018 tỉnh Tiền Giang có 407 trường học ở các cấp phổ thông, đứng thứ 7 ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Các trường Đại học, Cao đẳng tiêu biểu ở Tiền Giang gồm:

Y tếSửa đổi

Tình hình cơ sở khám chữa bệnh và nhân lực y tế đến 30/11/2016 Tỉnh Tiền Giang như sau:

* Trung tâm chuyên khoa tuyến tỉnh: 08, Chi cục thuộc Sở Y tế: 02

* Tổng số Bệnh viện trong toàn tỉnh : 11, trong đó:

+ BV đa khoa tuyến tỉnh : 03

+ BV chuyên khoa        : 05

+ BV huyện                  : 03

* Trung tâm y tế huyện                  : 11

* Phòng khám Trung tâm Y tế         : 07

* Phòng khám Quân Dân Y            : 01 (trực thuộc Sở Y tế)

* Phòng khám trực thuộc TTYT     : 14

* Trạm y tế xã                                : 173

* Số giường bệnh                            : 4.558

- Giường bệnh viện (công lập)       : 2.585

- Giường ngoại trú                         : 40

- Giường bệnh viện (tư nhân)         : 30  (BV Anh Đức)

- Giường y tế tư nhân                     : 380

- Giường bệnh phòng khám TTYT  : 432

- Giường bệnh PK trực thuộc TTYT: 246

- Giường bệnh Trạm Y tế xã            : 845

* 100% trạm y tế có y sĩ sản nhi hoặc nữ hộ sinh.

* 100% số ấp có nhân viên y tế hoạt động. Tổng số nhân viên y tế ấp: 1.299 người/1.025 ấp.

(Nguồn: Châu Hoàng Ân - Tiền Giang)

* Bệnh viện đa khoa trung tâm Tiền Giang được xem là tuyến cao nhất của hệ thống bệnh viện ở tỉnh Tiền Giang. Hiện nay bệnh viện đang được xây mới với quy mô lớn tại Quốc Lộ 1A. Với đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên dồi dào, bệnh viện Tiền Giang liên kết với bệnh viện Chợ Rẫy phấn đấu trở thành bệnh viện vệ tinh của vùng. Hiện tại, UBND tỉnh Tiền Giang đang có chính sách ưu đãi thu hút bác sĩ mới ra trường về phục vụ.

Tôn giáoSửa đổi

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, toàn tỉnh có 11 tôn giáo khác nhau, nhiều nhất là Phật giáo đạt 736.700 người, Công giáo có 5.957 người, đạo Cao Đài có 53.679 người, đạo Tin Lành có 726 người, Phật giáo Hòa Hảo chiếm 3.367 người, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa đạt 543 người, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam đạt 431 người, Hồi giáo đạt 119 người. Còn lại các tôn giáo khác như Bửu Sơn Kỳ Hương có 26 người, Minh Sư ĐạoMinh Lý Đạo mỗi đạo 15 người.

Giao thông vận tảiSửa đổi

Trục đường bộ quan trọng nhất tỉnh là Quốc lộ 1, tỉnh lộ 865, tỉnh lộ 864, chạy theo hướng chủ yếu từ tây sang đông. Các trục tỉnh lộ có hướng bắc - nam và hướng khác là tỉnh lộ 861, 862, 863, 866, 866B, 867, 868, 869, 870, 870B, 871, 872, 873, 873B, 874, 874B, 875, 875B, 876, 877, 877B, 878, 878B, 878C, 879D.[19]

Tình hình trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh còn nhiều phức tạp tập trung ở những nơi đông dân cư. Tính đến tháng 6 năm 2012, Giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh xảy ra 124 vụ tai nạn, so cùng kỳ giảm 16 vụ. Số người chết 131 người so cùng kỳ giảm 17 người. Số người bị thương 74 người, so cùng kỳ giảm 7 người. Vi phạm trật tự an toàn giao thông 76.413 vụ so cùng kỳ tăng 15.749 vụ. Đã xử lý tạm giữ phương tiện 10.340 vụ, tước giấy phép lái xe 3.737 vụ, phạt tiền 66.073 vụ với số tiền phạt 25.810 triệu đồng. Giao thông đường thủy xảy ra 3 vụ tai nạn, so cùng kỳ tăng 1 vụ. Thiệt hại tài sản 707 triệu đồng. Vi phạm giao thông đường thủy từ đầu năm đến nay 7.950 vụ so cùng kỳ giảm 1.341 vụ. Đã xử lý lập biên bản tạm giữ giấy tờ 1.427 vụ, phạt tiền 6.523 vụ với số tiền phạt 3.079 triệu đồng.

Tiền Giang không có sân bay dân sự.

Văn hóa - du lịch.Sửa đổi

 
Chùa Vĩnh Tràng
 
Nhà thờ chính tòa Mỹ Tho

Tiền Giang là tỉnh có nhiều tiềm năng về du lịch. Hàng năm, lượng du khách đến Tiền Giang đều tăng. Trong năm 2009, lượng khách tham quan Tiền Giang vẫn đạt 866.400 lượt người. Thế mạnh của du lịch chủ yếu nhờ vào các di tích văn hóa lịch sử và sinh thái như di tích văn hóa Óc Eo, Gò Thành từ thế kỷ I đến thế kỷ VI sau công nguyên, các di tích lịch sử Trận Rạch Gầm – Xoài Mút, di tích Ấp Bắc, lũy Pháo Đài, và nhiều lăng mộ, đền chùa, nhà thờ như: Lăng Trương Định, Lăng Hoàng gia, Lăng Tứ Kiệt, chùa Vĩnh Tràng, chùa Bửu Lâm, chùa Sắc Tứ, chùa Linh Thứu, thiền viện Trúc Lâm Chánh Giác, nhà thờ chính tòa Mỹ Tho, nhà thờ Tin Lành Ấp Bắc, nhà thờ Thánh Giuse Lao Công, nhà thờ Nữ Vương Hòa Bình, nhà thờ Cái Bè,… các điểm du lịch sinh thái mới được khai thác như vườn cây ăn quả ở Cù lao Thới Sơn, Chợ nổi Cái Bè, Trại rắn Đồng Tâm, Khu bảo tồn sinh thái Đồng Tháp Mười, Biển Tân Thành, Giếng Nước Mỹ Tho, Bến Tắm Ngựa, Bờ kè sông Tiền, Quảng trường Mỹ Tho,[5]...

Trong 6 tháng đầu năm 2012, số khách tham quan du lịch đạt 519.700 lượt khách, tăng 5,2% so cùng kỳ, trong đó khách quốc tế là 271.700 lượt khách, đạt 50,7% kế hoạch và giảm 1,5% so cùng kỳ. Tổng doanh thu du lịch thực hiện được 1.475,4 tỷ đồng, tăng 18,3% so cùng kỳ, trong đó doanh thu du lịch lữ hành chiếm 1,7%.

Người nổi tiếngSửa đổi

Những nhân vật tiêu biểuSửa đổi

Tiền Giang là vùng đất xuất thân của rất nhiều nhân vật nổi tiếng tại Việt Nam, điển hình như:

ẢnhSửa đổi

 
Nhà thờ Tin Lành, Cai Lậy, Tiền Giang
 
Cháo cá lóc rau đắng, một đặc sản ở Tiền Giang
 
Quang cảnh thành phố Mỹ Tho bên sông.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “Phê duyệt và công bố kết quả thống kê diện tích đất đai năm 2020”. Quyết định số 387/QĐ-BTNMT 2022. Bộ Tài nguyên và Môi trường (Việt Nam). Lưu trữ 2022-08-12 tại Wayback Machine
  2. ^ a b c d e Tổng cục Thống kê (2022). Niên giám Thống kê Việt Nam năm 2021 (PDF). Nhà Xuất bản Thống kê. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 1 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2022.
  3. ^ a b c “Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang năm 2021”. Cục Thống kê tỉnh Tiền Giang. ngày 28 tháng 12 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2022.
  4. ^ “Đơn vị hành chính”. Tổng cục Thống kê. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2022.
  5. ^ a b c d “Giới thiệu về Tiền Giang”. trang thông tin điện tử Tỉnh Tiền Giang. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2021.
  6. ^ Tiền Giang là một tỉnh ven biển đồng bằng sông Cửu Long, miền Nam Việt Nam Lưu trữ 2015-10-04 tại Wayback Machine, Theo trang SaigonToserco.
  7. ^ “Nghị quyết số 569/NQ-UBTVQH15 năm 2022 về việc thành lập thị trấn Bình Phú thuộc huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang”. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2022.
  8. ^ Huỳnh Đức Minh – UVTV Tỉnh ủy – Bí thư Thành ủy Mỹ Tho. “Đảng bộ Thành phố Mỹ Tho 45 năm chiến đấu và trưởng thành”. mytho.tiengiang.gov.vn. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2021.
  9. ^ a b “NGHỊ QUYẾT Số: 130/NQ-CP VỀ VIỆC ĐIỀU CHỈNH ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH HUYỆN CAI LẬY ĐỂ THÀNH LẬP THỊ XÃ CAI LẬY VÀ HUYỆN CAI LẬY CÒN LẠI; THÀNH LẬP CÁC PHƯỜNG THUỘC THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG”. thuvienphapluat.vn. ngày 26 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2021.
  10. ^ a b “QUYẾT ĐỊNH 37: VỀ VIỆC THÀNH LẬP THỊ XÃ GÒ CÔNG THUỘC TỈNH TIỀN GIANG”. thuvienphapluat.vn. ngày 16 tháng 2 năm 1987. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2021.
  11. ^ a b c “QUYẾT ĐỊNH 155-CP: VỀ VIỆC CHIA HUYỆN GÒ CÔNG THUỘC TỈNH TIỀN GIANG THÀNH HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG VÀ HUYỆN GÒ CÔNG TÂY”. thuvienphapluat.vn. ngày 13 tháng 4 năm 1979. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2021.
  12. ^ a b “NGHỊ ĐỊNH 09/2008/NĐ-CP: VỀ VIỆC ĐIỀU CHỈNH ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG VÀ GÒ CÔNG TÂY ĐỂ MỞ RỘNG THỊ XÃ GÒ CÔNG VÀ THÀNH LẬP HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG”. thuvienphapluat.vn. ngày 21 tháng 1 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2021.
  13. ^ a b “NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 68-CP NGÀY 11-7-1994 VỀ VIỆC THÀNH LẬP HUYỆN TÂN PHƯỚC THUỘC TỈNH TIỀN GIANG”. thuvienphapluat.vn. ngày 11 tháng 7 năm 1994. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2021.
  14. ^ “QUYẾT ĐỊNH 77-CP: VỀ VIỆC CHUYỂN THỊ XÃ GÒ CÔNG THUỘC TỈNH TIỀN GIANG THÀNH THỊ TRẤN GÒ CÔNG THUỘC HUYỆN GÒ CÔNG CÙNG TỈNH”. thuvienphapluat.vn. ngày 26 tháng 3 năm 1977. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2021.
  15. ^ “QUYẾT ĐỊNH 248/2005/QĐ-TTg: VỀ VIỆC CÔNG NHẬN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG LÀ ĐÔ THỊ LOẠI II”. thuvienphapluat.vn. ngày 7 tháng 10 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2021.
  16. ^ “NGHỊ QUYẾT 28/NQ-CP: VỀ VIỆC ĐIỀU CHỈNH ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH HUYỆN CHÂU THÀNH, HUYỆN CHỢ GẠO ĐỂ MỞ RỘNG ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH THÀNH PHỐ MỸ THO; ĐIỀU CHỈNH ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH XÃ, THÀNH LẬP XÃ THUỘC THÀNH PHỐ MỸ THO, HUYỆN CHÂU THÀNH, HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG”. thuvienphapluat.vn. ngày 29 tháng 6 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2021.
  17. ^ “QUYẾT ĐỊNH 242/QĐ-TTg: VỀ VIỆC CÔNG NHẬN THÀNH PHỐ MỸ THO LÀ ĐÔ THỊ LOẠI I TRỰC THUỘC TỈNH TIỀN GIANG”. thuvienphapluat.vn. ngày 5 tháng 2 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2021.
  18. ^ “Niên giám tổ chức ngành Thống kê năm 2021 (52 – CỤC THỐNG KÊ TỈNH TIỀN GIANG/ Dân số và diện tích của tỉnh Tiền Giang đến ngày 31/12/2020 trang 370)” (PDF). Tổng cục Thống kê. 5 tháng 5 năm 2021. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2021.
  19. ^ “QUYẾT ĐỊNH: BAN HÀNH DANH MỤC SỐ HIỆU ĐƯỜNG BỘ THUỘC CẤP TỈNH QUẢN LÝ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TIỀN GIANG”. ngày 21 tháng 12 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2021.

Số liệuSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi