Mở trình đơn chính

No Angel là album phòng thu đầu tay của nữ ca sĩ kiêm sáng tác nhạc người Anh Dido. Được ra mắt lần đầu vào ngày 1 tháng 6 năm 1999 tại Mỹ, album được công chúng đón nhận vào thời điểm được phát hành rộng rãi toàn thế giới năm tháng 2 năm 2001. Tính đến năm 2005, album đã bán hơn 21 triệu bản trên toàn thế giới, và trở thành album bán chạy thứ hai tại Anh trong thập niên 2000, chỉ đứng sau album Back to Bedlam[1] của James Blunt.

No Angel
Angeldido.jpg
Album phòng thu của Dido
Phát hànhHoa Kỳ 1 tháng 6 năm 1999
Châu Âu 13 tháng 10 năm 2000
Thu âm1998–1999 tại Swanyard Studios, The Church Studios, Sarm West Studios, Olympic Studios, Eden & Angel Studios
Thể loạiPop rock, trip-hop, pop
Thời lượng52:01
Hãng đĩaArista, Cheeky
Sản xuấtDido Armstrong, Rollo Armstrong, Rick Nowels, Youth, Duncan Bridgeman, Jamie Catto, Sister Bliss
Thứ tự album của Dido
Odds & Ends
(1995)Odds & Ends1995
No Angel
(1999)
Life for Rent
(2003)Life for Rent2003
Đĩa đơn từ No Angel
  1. "Here with Me"
    Phát hành: 17 tháng 5 năm 1999
  2. "Don't Think of Me"
    Phát hành: 19 tháng 2 năm 2000
  3. "Thank You"
    Phát hành: 12 tháng 12 năm 2000
  4. "Hunter"
    Phát hành: 10 tháng 9 năm 2001
  5. "All You Want"
    Phát hành: 10 tháng 12 năm 2001

Bối cảnh sản xuấtSửa đổi

Khâu thu âm cho album bắt đầu hồi năm 1998, khi Dido chính thức ký hợp đồng thu âm cùng Arista Records. Ngoài việc thu 10 ca khúc mới, Dido còn lấy hai bản thu thử nằm trong tuyển tập trước đó của mình mang tên "Odds & Ends" vào album lần này, bao gồm bài hát "Take My Hand" và thực hiện phối lại và đổi tên bài hát "Sweet Eyed Baby" thành "Don’t Think of Me". Trong lúc ghi âm cho album mới, một hợp đồng phát hành album tại Mỹ được thông qua, tuy nhiên, một hợp đồng khác nhằm củng cố doanh thu bán tại châu Âu vẫn chưa hoàn thành, đồng nghĩa với việc album được chọn phát hành độc quyền tại Mỹ trước, vào tháng 6 năm 1999. Trước lúc ra mắt album thì một EP nhạc mẫu quảng bá mang tên The Highbury Fields EP được phát hành tại các trạm đài phát thanh, bao gồm 4 bài hát từ album, "Worthless", và một bài hát khác từ tuyển tập thu thử Odds & Ends.

Các đĩa đơnSửa đổi

Đĩa đơn đầu tiên của album, "Here with Me", được phát hành trước khi ra mắt album tại Mỹ vào tháng 5 năm 1999, đạt đến vị trí thứ 89 trên Billboard Hot 100, và sau đó được chọn làm nhạc nền cho bộ phim truyền hình dài tập ăn khách tại Mỹ - Roswell. Ca khúc được phát hành toàn cầu vào ngày 3 tháng 2 năm 2001, đạt đến vị trí thứ 4 tại UK Singles Chart và vị trí thứ 10 tại Bồ Đào NhaHi Lạp, khi cùng lúc xuất hiện tại top 40 tại PhápNew Zealand.

Trong chiến lược nâng cao doanh thu của album, đĩa đơn thứ hai, "Don't Think of Me" được phát hành vào ngày 19 tháng 2 năm 2000, nhưng không thể đạt được thành công như mong đợi, khi chỉ đạt vị trí thứ 35 trên bảng xếp hạng Top 40 Hot Adult.

"Thank You" được phát hành dưới dạng đĩa đơn thứ hai tại khu vực châu Âu vào tháng 5 năm 2001, đạt đến vị trí thứ 3 tại Anh và đến top 40 tại Đức, Pháp và Ý.

Đĩa đơn thứ ba tại khu vực châu Âu, "Hunter", được ra mắt vào tháng 9 năm 2001, đạt đến top 20 tại UK Singles Chart, và top 10 tại Bồ Đào Nha và Hi Lạp.

Đĩa đơn thứ tư, "All You Want" được phát hành vào tháng 12 năm 2001, nhưng không thể lọt vào UK Singles Chart chỉ vì được phát hành dưới dạng đĩa đơn mini. Một vài bài hát khác từ album đã được sử dụng trong các chương trình truyền hình sau đó, với "My Life" xuất hiện trong một tập của bộ phim dài tập tâm lý Angel Eyes, cũng như sự xuất hiện của "Honestly OK" và "Thank You" trong vài tập của Popular thuộc Warner Bros.

Đánh giá chuyên môn
Nguồn đánh giá
NguồnĐánh giá
Allmusic     [2]
Entertainment WeeklyB[3]
The Rolling Stone Album Guide     [4]

Ý kiến chuyên mônSửa đổi

Tạp chí Q đã đưa No Angel vào danh sách 50 album xuất sắc nhất của năm 2001.[5]

Diễn biến tại các bảng xếp hạngSửa đổi

Từ khi ra mắt, No Angel đạt vị trí thứ 50 tại bảng xếp hạng Top Heatseekers vào ngày 24 tháng 7 năm 1999, với lượng doanh thu chưa tới 20.000 bản. Tuy nhiên, album chỉ đạt được tới thành công khi rapper Eminem đưa bản phối lại của bài hát "Thank You" vào trong ca khúc "Stan", được ra mắt vào ngày 9 tháng 12 năm 2000 dưới dạng đĩa đơn thứ ba trích từ album thứ ba của anh, The Marshall Mathers LP. "Stan" sử dụng cả nhịp điệu, phần hook của "Thank You", và luôn cả giọng hát của Dido như một cách tri ân ca khúc của cô. Dido cũng xuất hiện trong video ca nhạc của "Stan" trong vai cô bạn gái có thai của nhân vật chính. "Stan" đạt đến vị trí thứ 51 tại Billboard Hot 100, và gây nên sự quan tâm rộng rãi đến ca khúc Thank You, mà sau đó, đã giúp ca khúc này trở thành đĩa đơn thứ ba trích từ album vào ngày 12 tháng 12 năm 2000. Vào ngày 13 tháng 12 năm 2000, album chính thức bước vào bảng xếp hạng Billboard Hot 200, nơi nó đạt đến vị trí thứ 4. Vào ngày 14 tháng 12 năm 2000, "Stan" được phát hành tại Anh và Úc, và sau đó đạt vị trí đầu bảng tại cả hai quốc gia này. Vài tiếng sau đó, dựa vào sự thành công của "Stan", quyết định đưa No Angel vào thị trường châu Âu được thông qua.

Album được phát hành tại khu vực châu Âu vào ngày 13 tháng 10 năm 2000, với cùng một danh sách nhạc như của bản gốc tại Mỹ, nhưng có thêm hai video ca nhạc của "Thank You" và "Here With Me", cho dù "Thank You" không được chọn làm đĩa đơn tại châu Âu lúc đó, và "Stan". Vào thời điểm ra mắt tại châu Âu thì album đã bán được hơn 1 triệu bản và được chứng nhận đĩa Bạch kim tại Mỹ. 3 tuần sau khi album được phát hành tại châu Âu, một phiên bản tại Nhật Bản cũng được phát hành, bao gồm hai ca khúc bổ sung được ra mắt trong tuyển tập thu thử Odds & Ends trước đó, mang tên "Worthless" và "Me".

No Angel trở thành một trong những album bán chạy nhất năm 2001 tại Anh và trên toàn cầu. Đây còn là album bán chạy thứ nhì tại Úc, nơi mà album được chứng nhận 6 lần Bạch kim với hơn 420.000 bản được bán ra. Album cũng đạt tới vị trí thứ năm tại Canada. Album còn giành 1 giải BRIT Awards cho "Album Anh Quốc xuất sắc nhất" trong năm 2002, nơi Dido cũng thắng giải "Nữ nghệ sĩ Anh Quốc xuất sắc nhất". Năm 2006, album được chứng nhận 3 lần Bạch kim tại Thuỵ Sĩ, khi bán ra hơn 100.000 bản tại đó.

Danh sách bài hátSửa đổi

STT Tên bài hátSáng tác Nhà sản xuất Thời lượng
1. "Here with Me"  Dido Armstrong, Paul Statham, Pascal GabrielDido, Rick Nowels* 4:14
2. "Hunter"  D. Armstrong, Rollo ArmstrongDido, R. Nowels 3:57
3. "Don't Think of Me"  D. Armstrong, R. Armstrong, Pauline Taylor, Paul HermanMartin Glover 4:32
4. "My Lover's Gone"  D. Armstrong, Jamie CattoDuncan Bridgeman, Jamie Catto, Dido 4:27
5. "All You Want"  D. Armstrong, P. Herman, R. ArmstrongDido, R. Nowels 3:53
6. "Thank You"  D. Armstrong, P. HermanRollo, Dido 3:38
7. "Honestly OK"  D. Armstrong, Matty Benbrook, R. ArmstrongRollo, Dido 4:37
8. "Slide"  D. Armstrong, P. HermanRollo, Dido 4:53
9. "Isobel"  D. Armstrong, R. ArmstrongRollo, Dido 3:54
10. "I'm No Angel"  D. Armstrong, P. Statham, P. GabrielRollo, Dido 3:55
11. "My Life"  D. Armstrong, R. Armstrong, Mark BatesRollo, Dido 3:09
12. "Take My Hand"  D. Armstrong, Richard DekkardRollo, Dido, Sister Bliss 6:42

* Ban đầu được sản xuất nhờ Paul Statham và Pascal Gabriel.

Bài hát bổ sung
STT Tên bài hát Đạo diễn Thời lượng
13. "Here with Me" (video)Liz Friedlander 4:06
14. "Thank You" (video)Dave Meyers 3:14
STT Tên bài hátSáng tác Thời lượng
13. "Here with Me" (Phiên bản mộc)Dido, P. Statham, P. Gabriel 4:23
14. "Here with Me" (Bản phối của Rollo Orchestra)Dido, P. Statham, P. Gabriel 5:18
15. "Stan" (hợp tác cùng Eminem)Dido, P. Herman, Marshall Mathers 6:44
STT Tên bài hátSáng tác Thời lượng
13. "Stan" (hợp tác cùng Eminem)Dido, P. Herman, Marshall Mathers 6:44
STT Tên bài hátSáng tác Thời lượng
13. "Stan" (bản kiểm duyệt của đài phát thanh) (có sự tham gia của Eminem)Dido, P. Herman, Marshall Mathers 3:58
STT Tên bài hát Thời lượng
13. "Worthless"   7:52
14. "Me"   2:38
STT Tên bài hát Thời lượng
13. "Stan" (hợp tác cùng Eminem) 6:44
14. "Christmas Day"   4:03
15. "Here with Me" (Phiên bản mộc) 4:23
16. "All You Want" (Bản phối của Divide & Rule) 6:47
STT Tên bài hátSáng tác Thời lượng
13. "Stan" (Bản phối của S&S)Dido, P. Herman, Marshall Mathers] 3:41
14. "Flowerstand Man" (cùng với Faithless)Rollo, Dido 5:43
15. "Don't Think of Me" (bản thu trực tiếp theo bản phối điện tử)Dido, Rollo, P. Taylor, P. Herman 5:18
16. "Take My Hand" (Bản phối điện tử của Deroga)Dido, Rollo, Sister Bliss 4:53
17. "Aria (nhạc nền phim The Talented Mr. Ripley)"    3:18
  • HDCD
STT Tên bài hátSáng tác Thời lượng
13. "Christmas Day"    4:03
14. "One Step Too Far" (cùng với Faithless)  5:20
15. "Worthless"    7:52
Đĩa đính kèm phiên bản bổ sung
  1. "Here With Me" (video)
  2. "Thank You" (phiên bản mộc thu trực tiếp)
  3. "Photo Gallery"
  • Nhật Bản và Úc
  1. "Thank You" (Bản phối của Deep Dish)
  2. "Thank You" (Bản phối của Skinny)
  3. "Here with Me" (Bản phối của Chillin' with the Family)
  4. "Here with Me" (Bản phối của Lukas Burton)
  5. "Hunter" (Bản phối của Franasios K)
  1. "Here With Me" (Bản phối của Lukas Burton)
  2. "Thank You" (Bản phối của Deep Dish)
  3. "Hunter" (Bản phối của MJ Cole)
  4. "Take My Hand" (Bản phối của Rollo & Sister Bliss)
  5. "Christmas Day"
  6. "Hunter" (video)
  7. "All You Want" (video thu trực tiếp)
  8. "Honestly OK" (video thu trực tiếp)
  • Brazil
  1. "Here With Me" (Bản phối của Lukas Burton)
  2. "Thank You" (Bản phối của Deep Dish)
  3. "Hunter" (Bản phối của MJ Cole)
  4. "Take My Hand" (Bản phối của Rollo & Sister Bliss)
  5. "All You Want" (Bản phối của Divide & Rule)
  6. "My Lover's Gone" (Bản phối của Meme)
  7. "Hunter" (video)
  8. "All You Want" (video thu trực tiếp)
  9. "Honestly OK" (video thu trực tiếp)

Trên các bảng xếp hạngSửa đổi

Chứng nhậnSửa đổi

Quốc gia Chứng nhận Doanh số
Argentina (CAPIF)[26] Bạch kim 40,000^
Úc (ARIA)[27] 6× Bạch kim 420.000^
Áo (IFPI Austria)[28] Bạch kim 30,000*
Brazil (ABPD)[29] 2× Bạch kim 250.000*
Canada (Music Canada)[30] 4× Bạch kim 400.000^
Đan Mạch (IFPI Denmark)[31] Bạch kim 30,000^
Phần Lan (Musiikkituottajat)[32] Bạch kim 50,514[32]
Pháp (SNEP)[33] Kim cương 1,262,300[34]
Đức (BVMI)[35] 3× Vàng 750,000^
Greece (IFPI Greece)[36] Vàng 15,000^
Ý (FIMI)[37] Bạch kim 100.000*
Mexico (AMPROFON)[38] Bạch kim 150.000^
Hà Lan (NVPI)[39] Bạch kim 80,000^
New Zealand (RIANZ) 5× Bạch kim 75,000^
Na Uy (IFPI Norway)[40] Bạch kim 40,000*
Ba Lan (ZPAV)[41] Bạch kim 100.000*
Thụy Điển (GLF)[42] Bạch kim 60,000^
Thụy Sĩ (IFPI Switzerland)[43] 3× Bạch kim 150.000^
Anh (BPI)[44] 10× Bạch kim 3,070,926[45]
Hoa Kỳ (RIAA)[46] 4× Bạch kim 4.000.000^
Tóm lược
Châu Âu (IFPI)[47] 5× Bạch kim 5.000.000*

*Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ
^Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng
xChưa rõ ràng

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Paphides, Peter (ngày 25 tháng 3 năm 2005). “Music to watch girls by”. London: Times Newspapers, Ltd. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2008. 
  2. ^ Burger, Jeff. Album review trên AllMusic. Truy cập ngày ngày 2 tháng 7 năm 2011.
  3. ^ Johnson, Beth (ngày 4 tháng 6 năm 1999). “No Angel Review”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2012. 
  4. ^ “The new Rolling Stone album guide - Nathan Brackett, Christian David Hoard - Google Books”. Books.google.com. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2011. 
  5. ^ “The Best 50 Albums of 2001”. Q. Tháng 12 năm 2001. tr. 60–65. 
  6. ^ "Dido – No Angel". Australiancharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2013.
  7. ^ a ă "Dido - No Angel" (bằng tiếng Đức). Austriancharts.at. Hung Medien. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2013.
  8. ^ "Dido Album & Song Chart History" Billboard Canadian Albums Chart cho Dido. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2013.
  9. ^ "Dido – No Angel". Danishcharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2013.
  10. ^ Paul Sexton (ngày 7 tháng 5 năm 2001). “Geri Halliwell Earns Fourth U.K. No. 1”. Billboard. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2008. 
  11. ^ a ă "Dido: No Angel" (bằng tiếng Phần Lan). Musiikkituottajat – IFPI Finland. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2013.
  12. ^ "Dido – No Angel". Lescharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2013.
  13. ^ "Longplay-Chartverfolgung at Musicline". Musicline.de (bằng tiếng Đức). Media Control. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2013.
  14. ^ "Dido – No Angel". Mexicancharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2013.
  15. ^ a ă "Dido – No Angel". Dutchcharts.nl. Hung Medien. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2013.
  16. ^ "Dido – No Angel". Charts.org.nz. Hung Medien. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2013.
  17. ^ "Dido – No Angel". Norwegiancharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2013.
  18. ^ "Dido – No Angel". Italiancharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2013.
  19. ^ "Dido – No Angel". Swedishcharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2013.
  20. ^ "Dido – No Angel". Swisscharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2013.
  21. ^ "Dido | Artist | Official Charts". UK Albums Chart. The Official Charts Company. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2013.
  22. ^ "Dido Album & Song Chart History" Billboard 200 cho Dido. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2013.
  23. ^ “Dido: Charts & Awards”. Billboard. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2007. 
  24. ^ "Dido – No Angel" (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop.be. Hung Medien. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2013.
  25. ^ "Dido – No Angel" (bằng tiếng Pháp). Ultratop.be. Hung Medien. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2013.
  26. ^ “Argentina album certifications – Dido – No Angel”. Argentine Chamber of Phonograms and Videograms Producers. 
  27. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2004 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. 
  28. ^ “Austrian album certifications – Dido – No Angel” (bằng tiếng Đức). IFPI Áo.  Nhập Dido vào ô Interpret (Tìm kiếm). Nhập No Angel vào ô Titel (Tựa đề). Chọn album trong khung Format (Định dạng). Nhấn Suchen (Tìm)
  29. ^ “Brasil album certifications – Dido – No Angel” (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Associação Brasileira dos Produtores de Discos. 
  30. ^ “Canada album certifications – Dido – No Angel”. Music Canada. 
  31. ^ “Denmark album certifications – Dido – No Angel”. IFPI Đan Mạch. 
  32. ^ a ă “Finland album certifications – Dido – No Angel” (bằng tiếng Phần Lan). Musiikkituottajat – IFPI Finland. 
  33. ^ “France album certifications – Dido – No Angel” (bằng tiếng Pháp). Syndicat national de l'édition phonographique. 
  34. ^ “Les Albums Diamant:” (bằng tiếng Pháp). Infodisc.fr. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2012. 
  35. ^ “Gold-/Platin-Datenbank (Dido; 'No Angel')” (bằng tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie. 
  36. ^ “Ελληνικό Chart”. Web.archive.org. Ngày 23 tháng 2 năm 2002. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2014. 
  37. ^ “Italy album certifications – Dido – No Angel” (bằng tiếng Ý). Liên đoàn Công nghiệp âm nhạc Ý.  Chọn lệnh "Tutti gli anni" trong bảng chọn "Anno". Nhập "No Angel" vào ô "Filtra". Chọn "Album e Compilation" dưới phần "Sezione".
  38. ^ “Certificaciones – Dido” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Asociación Mexicana de Productores de Fonogramas y Videogramas. 
  39. ^ “Netherlands album certifications – Dido – No Angel” (bằng tiếng Hà Lan). Nederlandse Vereniging van Producenten en Importeurs van beeld - en geluidsdragers. 
  40. ^ “Norway album certifications – Dido – No Angel” (bằng tiếng Na Uy). IFPI Na Uy. 
  41. ^ “Poland album certifications – Dido – No Angel” (bằng tiếng Ba Lan). ZPAV. 
  42. ^ “Guld- och Platinacertifikat − År 2000” (PDF) (bằng tiếng Thụy Điển). IFPI Thụy Điển. 
  43. ^ “The Official Swiss Charts and Music Community: Awards (Dido; 'No Angel')”. IFPI Switzerland. Hung Medien. 
  44. ^ “Britain album certifications – Dido – No Angel” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry.  Chọn albums trong bảng chọn Format. Chọn Multi-Platinum trong nhóm lệnh Certification. Nhập No Angel vào khung "Search BPI Awards" rồi nhấn Enter
  45. ^ “BPI Highest Retail Sales” (PDF). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2012. 
  46. ^ “American album certifications – Dido – No Angel” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Album rồi nhấn Search
  47. ^ “IFPI Platinum Europe Awards – 2007”. Liên đoàn Công nghiệp ghi âm quốc tế. 

Liên kết ngoàiSửa đổi

Tiền nhiệm:
Chocolate Starfish and the Hot Dog Flavored Water
của Limp Bizkit
The Id của Macy Gray
Album quán quân UK Albums Chart
10 tháng 2 năm 2001 – 23 tháng 3 năm 2001

6 tháng 10 năm 2001 – 12 tháng 10 năm 2001
Kế nhiệm:
Songbird của Eva Cassidy

Fever của Kylie Minogue
Tiền nhiệm:
The Marshall Mathers LP của Eminem
Album quán quân ARIA Albums Chart
12 tháng 3 năm 2001 – 6 tháng 5 năm 2001
Kế nhiệm:
The Disney Album của Michael Crawford