Pinedjem I là một Đại tư tế của Amun tại Thebes. Ông đã cai trị toàn bộ Thượng Ai Cập, song song với Pharaon Smendes (Vương triều thứ 21) ở Hạ Ai Cập[1] trong khoảng năm 1070 đến năm 1030 TCN[2].

Gia đìnhSửa đổi

Pinedjem I là con của Đại tư tế Piankh[2]; mẹ của ông có thể là Nodjmet. Ông có 3 anh em trai (Heqanefer, Heqamaat, Ankhefenmut) và 1 chị em gái (Faienmut). Các bà vợ được chứng thực của Pinedjem I và những người con (có thể) của họ:

Cai trịSửa đổi

 
Vòng cổ bằng vàng của Pinedjem I

Theo những giả thuyết sau này, Đại tư tế Piankh mất khi Pinedjem I còn khá nhỏ để kế vị ông, vì thế mà Herihor đã lên làm Đại tư tế. Sau khi Herihor qua đời, Pinedjem đã lấy lại danh hiệu[15]. Tuy nhiên, cũng có thể Herihor mới là người tiền vị của Piankh[16].

Trong thời gian cai trị của mình, Pinedjem I tăng cường quyền kiểm soát của mình đối với cả Trung và Thượng Ai Cập. Ông đã kết hôn với con gái của pharaon Ramesses XI để xây dựng mối quan hệ với hoàng gia. Khoảng năm thứ 16 của vua Smendes, Pinedjem chính thức xưng vương[17][18].

Pinedjem I cũng đã quấn lại băng vải của một số xác ướp hoàng gia thuộc Vương triều thứ 17 đến 20 và cho tái chôn cất tại ngôi mộ DB320, cũng là nơi mà xác ướp của Pinedjem được tìm thấy. Ông cũng đã cho trùng tu và bổ sung thêm nhiều đền đài dọc hai bên bờ sông Nin tại Thebes. Pinedjem cũng đã chiếm đoạt một bức tượng khổng lồ được dựng dưới thời Ramesses II tại đền Karnak. Dưới chân tượng là một công chúa Bintanath, cũng được đổi thành tên của Maatkare[19][20].

Sách tham khảoSửa đổi

  • Aidan Dodson (2012), Afterglow of Empire: Egypt from the Fall of the New Kingdom to the Saite Renaissance, Đại học Hoa Kỳ tại Cairo ISBN 978-9774165313
  • Aidan Dodson & Dyan Hilton (2004), The Complete Royal Families of Ancient Egypt, Thames & Hudson ISBN 0-500-05128-3
  • Beatrice L. Goff (2014), Symbols of Ancient Egypt in the Late Period, Nhà xuất bản Walter de Gruyter GmbH & Co KG ISBN 978-3110801804

Chú thíchSửa đổi

 
Một bức tượng shabti của Pinedjem I
  1. ^ Ralph Ellis (2010), Solomon, Pharaoh of Egypt: The capital city of the United Monarchy was Tanis in Egypt, Nhà xuất bản Edfu Books, tr.295 ISBN 978-1905815234
  2. ^ a ă Michael Rice (2002), Pinudjem - Who's who in ancient Egypt, Nhà xuất bản Routledge, tr.154 ISBN 978-1134734207
  3. ^ a ă Dodson & Hilton, sđd, tr.207
  4. ^ Dodson & Hilton, sđd, tr.205
  5. ^ Dodson (2012), sđd, tr.54-55 link
  6. ^ a ă Dodson & Hilton, sđd, tr.206
  7. ^ Françoise Dunand & Roger Lichtenberg (2006), "Masaharta" - Mummies and Death in Egypt, Nhà xuất bản Đại học Cornell, tr.197 ISBN 978-0801444722
  8. ^ a ă Dodson & Hilton, sđd, tr.202
  9. ^ a ă â Dodson (2012), sđd, tr.57 link
  10. ^ Dodson (2012), sđd, tr.46 link
  11. ^ Andrzej Niwiński (1984), Three More Remarks in the Discussion of the History of the Twenty-First Dynasty, BES 6, tr.81-88
  12. ^ Aidan Dodson (2000), Monarchs of the Nile, Nhà xuất bản American University in Cairo Press, tr.156 ISBN 978-9774246005
  13. ^ Kenneth Kitchen (1996), The Third Intermediate Period in Egypt (1100–650 BC), Warminster: Aris & Phillips Limited, tr.260 ISBN 978-0856682988
  14. ^ a ă “Princess Nany”. sites.google.com. 
  15. ^ Karl Jansen-Winkeln (1992), Das Ende des Neuen Reiches, ZAS 119, tr.22-37
  16. ^ Goff, sđd, tr.52-53 link
  17. ^ Goff, sđd, tr.57 link
  18. ^ John H. Taylor, "Nodjmet, Payankh and Herihor: The Early Twenty-First Dynasty Reconsidered", trong: C.J. Eyre (1998), Proceedings of the Seventh International Congress of Egyptologists, 3–ngày 9 tháng 9 năm 1995, Leuven, tr.1143-1155
  19. ^ John H. Taylor (1996), Unwrapping a Mummy: The Life, Death, and Embalming of Horemkenesi, Nhà xuất bản Đại học Texas, tr.33-34 ISBN 978-0292781412
  20. ^ Robert Kriech Ritner (2009), The Libyan Anarchy: Inscriptions from Egypt's Third Intermediate Period, Nhà xuất bản Society of Biblical Lit, tr.113-116 ISBN 978-1589831742