Mở trình đơn chính

Resistance (bài hát)

bài hát của Muse

"Resistance" là một ca khúc của ban nhạc alternative rock người Anh Muse, được phát hành từ album phòng thu thứ năm của nhóm The Resistance, do giọng ca chính kiêm nghệ sĩ chơi ghita và piano Matthew Bellamy sáng tác. Đây là đĩa đơn thứ ba được phát hành từ album vào ngày 22 tháng 10 năm 2010.[1] Ca khúc có một số mối liên hệ đến tiểu thuyết "1984" của George Orwell. Tháng 2 năm 2010, một hình ảnh câu đố của hình minh họa "Resistance" được đăng tải trên trang Facebook chính thức của Muse.[2] Dòng giới thiệu của bài hát được sử dụng trong tập phim cuối cùng của chương trình BBC Silent Witness và làm nhạc quảng cáo cho một tập phim của Human Target, đồng thời được phát hành làm đoạn nhạc tải về cho video game Guitar Hero: Warriors of Rock.[3] Tại lễ trao giải Grammy lần thứ 53, "Resistance" nhận được hai đề cử cho hạng mục Trình diễn song ca hoặc nhóm nhạc giọng rock xuất sắc nhấtBài hát rock hay nhất.[4]

"Resistance"
Đĩa đơn của Muse
từ album The Resistance
Mặt B"Popcorn" (7")
"Prague" (CD)
Phát hành22 tháng 2 năm 2010
Định dạng
Thu âm2008–09 tại phòng thu Bellini ở Hồ Como, Ý
Thể loại
Thời lượng5:46 (phiên bản album)
3:55 (hiệu đỉnh radio)
Hãng đĩa
Sáng tácMatthew Bellamy
Sản xuấtMuse
Thứ tự đĩa đơn của Muse
"Undisclosed Desires"
(2009)
"Resistance"
(2010)
"Exogenesis: Symphony"
(2010)
{{{Bài hát}}}
Video âm nhạc
"Resistance" trên YouTube

Sản xuất và sáng tácSửa đổi

"Resistance" mở đầu với tiếng piano và trống, đồng thời có cả một điệp khúc mang âm hưởng của Queen.[5] Bài hát được tạp chí NME miêu tả giống như có "tiếng trống thổ dân và một giai điệu piano theo phong cách của Starlight".[6]

Trong số mới nhất của tờ Spin đăng vào tháng 9 năm 2009, Matt nói: "Ca khúc 'Resistance' chủ yếu dựa trên một bản kể lại về mối quan hệ giữa Winston và Julia", liên quan tới hai nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết 1984 của George Orwell.[7] Những đoạn keyboard kì lạ trong điệp khúc của bài hát cũng bao gồm cả Ondes Martenot, một loại synthesizer ban đầu được tay ghita của Radiohead Jonny Greenwood sử dụng, cũng như từng được chiếu trên "The Making of The Resistance".[8] Matt phát biểu trên tờ Spin: "Ca khúc này bắt đầu giống như một phần mở rộng của 'Map of the Problematique', với một chút ảnh hưởng từ The Police. Nó phần lớn dựa trên cuốn sách '1984' của George Orwell, đặc biệt là mối tình giữa Winston và Julia, sự miêu tả về hành vi tình dục và tình yêu giống như một thứ gì đó mang tính chính trị, nơi duy nhất dâng hiến sự tự do từ Big Brother. Bài hát còn nói về tình yêu vượt qua những ranh giới như tôn giáo hoặc tín ngưỡng chính trị mạnh mẽ và sự nhìn nhận sau này về tầm ít quan trọng và sự chia rẽ của những đức tin như thế."[7]

Phát hành và đón nhậnSửa đổi

"Resistance" là đĩa đơn thứ ba được phát hành từ album sau "Uprising" và "Undisclosed Desires" vào ngày 22 tháng 10 năm 2010.[1] Tháng 2 năm 2010, Muse cho đăng tải một hình ảnh câu đố của hình minh họa "Resistance" trên trang Facebook chính thức của nhóm.[2] Bài hát mặt B của đĩa đơn này là "Popcorn" được thu âm trực tiếp trên kênh truyền hình "Taratata" của Pháp ngày 21 tháng 10 năm 2009.[10] "Resistance" được phát hành chính thức tại Vương quốc Anh ngày 22 tháng 2 năm 2010,[11] sau đó được phát hành trên Amazon.com với giá 9.34 bảng Anh.[12] Ca khúc cũng được phát hành làm đoạn nhạc tải về cho video game Guitar Hero: Warriors of Rock.[3] Bài hát đã đạt vị trí thứ 38 trên bảng xếp hạng UK Singles Chart vào ngày 6 tháng 3 năm 2010,[13] đồng thời chiếm giữ vị trí quán quân trên UK Rock Chart ngày 28 tháng 2 năm 2010.[14] Đĩa đơn cũng đoạt vị trí quán quân trên Billboard Alternative Songs[15] và xếp thứ 7 trên bảng xếp hạng Billboard Rock Songs.[16]

"Resistance" đã nhận được nhiều phản hồi tích cực từ giới phê bình âm nhạc. Trong một bài viết đánh giá của NME về album The Resistance, Ben Patashnik viết, "'Tình yêu là sự kháng cự của chúng ta' đến 'Resistance' và thông điệp vĩnh cửu rằng mối tình bị ngăn cấm này sẽ chống lại những xung đột, thậm chí trong cả ngày tận thế, sau đó giành chiến thắng. Tình trạng kiểm soát chủ đạo dần mệt mỏi nhanh chóng, với tất cả những câu chuyện vô lý về Cảnh sát tưởng tượng cũng như vậy, nhưng mối liên hệ đến 'tia sét chỉ đường của tôi' gợi ý rằng đằng sau những hành động âm nhạc điên rồ chỉ là một chàng trai đang yêu với một người phụ nữ xinh đẹp."[17] Trong một bài phê bình khác, Pitchfork nhận định, "Bellamy đang liên tục tung ra những ca từ tập trung lời kêu gọi cùng với sự sẵn sàng như 'chúng ta sẽ giành thắng lợi' và 'họ sẽ không ngừng làm suy sụp chúng ta'."[18] Estella Hung của PopMatters nhận xét về bài hát, "Trong 'Resistance' và 'Guilding Lights', Bellamy bắt chước một cách khó hiểu cách hát cao-tới-thủng-phổi thương hiệu của Gerard Way trong khi lại không sử dụng những tiếng riff ghita chói lọi với tất cả những nét cường điệu đau thương của Twilight."[19]

Trong lễ trao Giải Grammy lần thứ 53, "Resistance" nhận được hai đề cử cho hạng mục Trình diễn song ca hoặc nhóm nhạc giọng rock xuất sắc nhấtBài hát rock hay nhất, nhưng lần lượt thất bại trước "Tighten Up" của The Black Keys và "Angry World" của Neil Young.[20][21]

Video âm nhạcSửa đổi

 
Muse biểu diễn Resistance tại Birmingham NIA.

Video âm nhạc của "Resistance" là một tổng hợp các trích đoạn ngắn từ những buổi lưu diễn của Muse trong The Resistance Tour. Các địa điểm được xuất hiện trong video bao gồm Palacio de los Deportes (Madrid-Tây Ban Nha)[22]Birmingham NIA (Birmingham-Vương quốc Anh).[23]

Mở đầu đoạn video là hình ảnh những người hâm mộ đứng xếp hàng bên ngoài các sân vận động để chờ vé vào xem buổi diễn của Muse. Họ háo hức chạy vào sân để chứng kiến ban nhạc biểu diễn. Đoạn nhạc dạo riff piano của Matthew Bellamy bắt đầu, tiếng trống đập liên hồi của Dominic Howard vang lên và đoạn video hiện lên những cột ánh sáng lớn trên sân khấu cùng với sự cuồng nhiệt của khán giả. Xen giữa những lời hát của Matt là các trích đoạn trong những buổi lưu diễn của The Resistance Tour. Khi Matt ngân dài câu hát "We Must Run..." (chúng ta phải chạy trốn), phía dưới sân khấu xuất hiện những quả bóng trắng lớn trên tay những người hâm mộ. Cuối đoạn video là hình ảnh quảng cáo của ban nhạc cho đĩa đơn "Resistance" phát hành ngày 22 tháng 10 dưới định dạng CD, 7"tải kĩ thuật số.

Video âm nhạc ra mắt ngày 14 tháng 1 năm 2010 và được Muse đăng tải trên trang Youtube của nhóm ngày 10 tháng 2 năm 2010.[24] Video do Wayne Isham đạo diễn.[1][25] James Montgomery của MTV nhận xét về video: "'Resistance' giống như mua một chiếc vé vào chương trình biểu diễn trực tiếp của Muse, chỉ không có phụ phí của những chiếc vé Ticketmaster khó chịu. Không đề cập đến nó là một "video trực tiếp" cổ điển đẹp mắt, chiếm được sức ép của đám đông - những cuộc chạy nước rút quay chậm vượt qua chướng ngại vật và đúng là một hành động tàn ác trong bối cảnh của ban nhạc."[25] Video âm nhạc còn lọt vào danh sách top 40 video của năm do VH1 bình chọn.[26]

Thành viên thực hiệnSửa đổi

Muse
Các nhạc sĩ hỗ trợ và thành viên khác[8]
  • Ted Jensen - chuyên viên thâu âm
  • Mark "Spike" Stent - phối nhạc
  • Dàn nhạc giao hưởng Edodea Ensemble do Audrey RileyNhạc trưởng Edoardo de Angelis chỉ huy.
  • La Boca – thiết kế hình minh họa
  • Des Broadbery - hỗ trợ kĩ thuật và hậu cần
  • Wayne Isham - đạo diễn video âm nhạc
  • Danny Clinch - quay phim

Định dạng bài hátSửa đổi

Đĩa CD[27][28]
STT Tên bài hátSáng tác Thời lượng
1. "Resistance"  Matthew Bellamy 5:46
2. "Prague" (bản cover của Mega City Four)Darren Brown 3:36
Tổng thời lượng:
9:22
7" vinyl[28][29]
STT Tên bài hátSáng tác Thời lượng
1. "Resistance"  Bellamy 5:46
2. "Popcorn" (bản cover của Gershon Kingsley)Gershon Kingsley 2:25
Tổng thời lượng:
8:11
Tải kĩ thuật số[30][31]
STT Tên bài hátSáng tác Thời lượng
1. "Resistance"  Bellamy 5:46
2. "Resistance" (hiệu đỉnh radio)Bellamy 3:55
3. "Resistance" (bản remix của Tiësto[32])Bellamy 8:10
Tổng thời lượng:
17:51
Tải "mặt B bundle"[33]
STT Tên bài hátSáng tác Thời lượng
1. "Resistance" (bản remix của Tiësto)Bellamy 8:10
2. "Popcorn" (bản cover của Gershon Kingsley)Kingsley 2:25
3. "Prague" (bản cover của Mega City Four)Brown 3:36
Tổng thời lượng:
14:51

Xếp hạng bài hátSửa đổi

Xếp hạng (2010) Vị trí
cao nhất
Úc (ARIA)[34] 72
Bỉ (Ultratip Flanders)[35] 10
Bỉ (Ultratip Wallonia)[36] 5
Canada (Canadian Hot 100)[37] 91
Hà Lan (DutchTipparade)[38] 51
Scotland (Official Charts Company)[39] 33
Anh Quốc (UK Singles Chart)[13] 38
Anh Quốc (UK Rock Chart)[14] 1
Hoa Kỳ (US Billboard Bubbling Under Hot 100 Singles) 14
Hoa Kỳ (US Billboard Rock Songs)[16] 7
Hoa Kỳ US (Billboard Alternative Songs)[15] 1

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a ă â “Resistance Single Release - Watch 30 Seconds of the Video Now!”. Muse. 11 tháng 1 năm 2010. Truy cập 23 tháng 4 năm 2016. 
  2. ^ a ă “New single Feb 22”. Muse.mu. 18 tháng 2 năm 2010. Truy cập 28 tháng 4 năm 2016. 
  3. ^ a ă “Guitar Hero: Warriors Of Rock With Over 18 New Downloadable Tracks”. ultimate-guitar.com. Truy cập 30 tháng 4 năm 2016. 
  4. ^ Allen J. Schaben. “Grammy Awards 2011: Winners and nominees for 53rd Grammy Awards”. Los Angeles Times. Truy cập 5 tháng 5 năm 2016. 
  5. ^ Julien Bordier (4 tháng 7 năm 2009). “Jai ecoute le nouveau Muse.”. L'Express. 
  6. ^ “New album preview”. NME. 22 tháng 7 năm 2009. tr. 23–25. 
  7. ^ a ă Muse - The Resistance (iTunes LP) trên YouTube
  8. ^ a ă MUSE - Making of The Resistance (Full) trên YouTube
  9. ^ “Our new album is influenced by George Orwell's 1984, says Muse frontman Matt Bellamy”. dailyrecord.co.uk. 2 tháng 7 năm 2012. Truy cập 24 tháng 4 năm 2016. 
  10. ^ MUSE "Pop Corn" (Taratata Oct. 2009) trên YouTube
  11. ^ “Resistance Single - PRE-ORDER NOW FROM MUSE.MU!”. 1 tháng 2 năm 2010. Truy cập 30 tháng 4 năm 2016. 
  12. ^ “Resistance single (2010)”. Amazon.com. Truy cập 28 tháng 4 năm 2016. 
  13. ^ a ă “Resistance_UK Singles Chart”. UK Singles Chart. Truy cập 26 tháng 4 năm 2016. 
  14. ^ a ă “Resistance_UK Rock Chart”. UK Rock Chart. Truy cập 26 tháng 4 năm 2016. 
  15. ^ a ă "Resistance - Muse: Currently Charting". Billboard.com. Truy cập 26 tháng 4 năm 2016. 
  16. ^ a ă “Muse Awards_AllMusic”. AllMusic. Truy cập 27 tháng 4 năm 2016. 
  17. ^ Ben Patashnik (18 tháng 9 năm 2009). “Album review: Muse - 'The Resistance'. NME. Truy cập 2 tháng 5 năm 2016. 
  18. ^ “Muse_The Resistance”. Pitchfork. Truy cập 2 tháng 5 năm 2016. 
  19. ^ Estella Hung (13 tháng 9 năm 2009). “Muse_The Resistance”. PopMatters. Truy cập 2 tháng 5 năm 2016. 
  20. ^ “The 53rd Annual Grammy Nominations for Genre Rock”. Viện thu âm nghệ thuật và khoa học quốc gia. Truy cập 5 tháng 5 năm 2016. 
  21. ^ Allen J. Schaben. “Grammy Awards 2011: Winners and nominees for 53rd Grammy Awards”. Los Angeles Times. Truy cập 5 tháng 5 năm 2016. 
  22. ^ Muse - Resistance Live @ Madrid 2009 trên YouTube
  23. ^ Muse Birmingham NIA 10/11/09 - Resistance trên YouTube
  24. ^ Muse-Resistance trên YouTube
  25. ^ a ă James Montgomery (13 tháng 1 năm 2010). “Muse's 'Resistance' Video: Just like the real thing”. MTV News. Truy cập 5 tháng 5 năm 2016. 
  26. ^ TAMAR ANITAI (13 tháng 1 năm 2010). “LOOK, MA! I'M ON TV! WATCH 'VH1'S TOP 40 VIDEOS OF 2010' TONIGHT AT 9PM ET”. MTV News. Truy cập 5 tháng 5 năm 2017. 
  27. ^ “Resistance: CD Single”. Muse. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2010. 
  28. ^ a ă “Muse_Resistance Discogs”. Discogs.com. Truy cập 6 tháng 5 năm 2016. 
  29. ^ “Resistance: Limited Edition 7" Picture Disc Single (muse.mu exclusive)”. Muse. Bản gốc lưu trữ 30 tháng 4 năm 2016. Truy cập 30 tháng 4 năm 2016. 
  30. ^ “Resistance: MP3 [256k]”. Muse. Truy cập 30 tháng 4 năm 2016. 
  31. ^ Mark Beaumont (25 tháng 2 năm 2010). Muse: Out of This World. Paperback. 
  32. ^ “Tiesto Remix Video”. 22 tháng 2 năm 2010. Truy cập 30 tháng 4 năm 2016. 
  33. ^ “MUSE: SHOP - Resistance - MP3 B-side Bundle”. Muse. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2015. 
  34. ^ “Australia's Official Music Charts”. ARIA Charts. 27 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2012. 
  35. ^ "Ultratop.be - Muse - Resistance" (bằng tiếng Hà Lan). Ultratip. ULTRATOP & Hung Medien / hitparade.ch.
  36. ^ "Ultratop.be - Muse - Resistance" (bằng tiếng Hà Lan). Ultratip. ULTRATOP & Hung Medien / hitparade.ch.
  37. ^ “Muse: Chart History”. Billboard.com. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2013. 
  38. ^ Megacharts. “Dutch Tipparade”. Megacharts. 
  39. ^ "Archive Chart". Scottish Singles Top 40. Official Charts Company.

Liên kết ngoàiSửa đổi