Tàu điện ngầm Busan

Busan Metro (Hangul: 부산 도시철도; hanja: 釜山 都市鐵道; RR: Busan dosicheoldo) điều hành bởi Tổng công ty vận chuyển Busan là hệ thống tàu điện của Busan, Hàn Quốc. Hệ thống tàu điện lần đầu mở cửa vào năm 1985 với 17 nhà ga. Metro bao gồm 4 tuyến, dài 116,5 kilômét (72,4 dặm) và có 114 nhà ga; bao gồm, tuyến Tàu điện khổ hẹp Busan–GimhaeTuyến Donghae, toàn bộ mạng lưới Busan là 168,4 kilômét (104,6 dặm) và 150 ga.

Busan Metro
South Korea subway logo.svg
Busan Subway Line 2.jpg
Tổng quát
Tên địa phương부산 도시철도
釜山 都市鐵道
Busan dosicheoldo
ChủThành phố Busan
Địa điểmBusan, Hàn Quốc
Loại tuyếnVận chuyển nhanh
Số tuyến6
Số nhà ga114 (chỉ tính metro)
150 (bao gồm BGL, Tuyến Donghae)
Lượt khách hàng ngày938,000 (2019, chỉ tính metro)[1]
Lượt khách hàng năm343,000,000 (2019, chỉ tính metro)[1]
Hoạt động
Bắt đầu vận hành19 tháng 7 năm 1985
Đơn vị vận hànhTổng công ty vận chuyển Busan
B&G Metro
Korail
Kỹ thuật
Chiều dài hệ thống116,5 km (72,4 dặm) (chỉ tính metro)
168,4 km (104,6 dặm) (bao gồm BGL, Tuyến Donghae)
Khổ đường sắt1.435 mm (4 ft 8 12 in) đường sắt khổ tiêu chuẩn[2]
Bản đồ tuyến đường

Busan metro now.svg

Busan Metro
Hangul
Hanja
Romaja quốc ngữBusan dosicheoldo
McCune–ReischauerPusan tosich'ŏlto
Hán-ViệtPhủ Sơn đô thị thiết đạo

Tất cả ký hiệu chỉ dẫn trên Busan Metro được viết bằng tiếng Hàntiếng Anh, và thông báo bằng giọng nói phát trên tàu chỉ các ga sắp tới, tuyến chuyển đổi và lối ra được nói bằng tiếng Hàn, sau đó là tiếng Anh. Thông báo tại ga khi tàu đến là tiếng Hàn, sau đó là tiếng Anh, kế tiếp là tiếng Nhật và tiếng Trung. Tất cả các ga được đánh số và chữ số đầu tiên cũng giống như số tuyến, ví dụ ga 123 là tuyến 1.

Bản đồ Metro bao gồm thông tin trên mỗi ga, và số lối ra từ nhà ga, được sử dụng cho các điểm tham quan chính.

TuyếnSửa đổi

Quản lý Tên tuyến
Tiếng Anh
Tên tuyến
Tiếng Hàn
Ga bắt đầu Ga kết thúc Ga[3] Tổng độ dài[4]
Tổng công ty
vận chuyển Busan
Tuyến 1
1호선 Biển Dadaepo Nopo 40 40.5 km
Tuyến 2
2호선 Jangsan Yangsan 43 45.2 km
Tuyến 3
3호선 Suyeong Daejeo 17 18.1 km
Tuyến 4
4호선 Minam Anpyeong 14 12.7 km
Tổng 114 116.5 km
B&G Metro
BGL
부산-김해
경전철
Sasang Đại học Kaya 21 23.4 km
 
     Tuyến Donghae
동해선 Bujeon Ilgwang 15 28.5 km
Tổng toàn tuyến 150 168.4 km

Tuyến 1Sửa đổi

 
Ký hiệu ngoài Ga Seomyeon, ga chuyển đổi giữa tuyến 1 và tuyến 2

Tàu điện ngầm Busan tuyến 1 (1호선) là tuyến Bắc-Nam. Nó dài 32,5 kilômét (20,2 dặm) với 34 ga.[4] Tuyến sử dụng tàu có 8 khoang cho mỗi toa. Tổng chi phí xây dựng là 975.1 tỉ won.

Dự án cho tuyến này được thành lập vào 1979. Hai năm sau, vào năm 1981, công trình khởi công giai đoạn đầu tiên, giữa Nopo-Dong (hiện là Nopo) và Beomnaegol, hoàn thành vào tháng 7 năm 1985. Đoạn này dài 16,2 kilômét (10,1 dặm). Sau đó tiếp tục mở rộng về phía Nam: một đoạn dài 5,4 kilômét (3,4 dặm) từ Beomnaegol đến Jungang-dong (hiện là Jungang) mở cửa vào tháng 6 năm 1987; đoạn mở rộng 4,5 kilômét (2,8 dặm) từ Seodaeshin-dong (hiện là Seodaeshin) mở cửa vào tháng 2 năm 1990; và một đoạn mở rộng 6,4 kilômét (4,0 dặm) từ Shinpyeong mở cửa vào tháng 6 năm 1994.[4]

Đoạn mở rộng của tuyến đến Saha-gu hiện đang xây dựng và dự kiến hoàn thành vào cuối 2016.

Tuyến 2Sửa đổi

 
Trụ sở chính của Tổng công ty vận chuyển Busan, quản lý tuyến 1-4

Tàu điện ngầm Busan tuyến 2 (2호선) đi qua Busan từ phía Đông sang Tây, chạy dọc theo bờ HaeundaeGwangalli, và phía Bắc hướng đi Yangsan. Nó dài 46,0 kilômét (28,6 dặm), phục vụ 43 nhà ga. Tuyến sử dụng tàu có mỗi toa có 6 khoang.

Giai đoạn 1 bắt đầu vào năm 1991. Đoạn dài 21,7 kilômét (13,5 dặm), phục vụ 21 nhà ga giữa Hopo và Seomyeon, nó không mở cửa cho đến 30 tháng 6 năm 1999. Với giai đoạn 2 (dự kiến là 16,3 kilômét (10,1 dặm) trên toàn tuyến), tuyến mở rộng đầu tiên dài 7,7 kilômét (4,8 dặm) về phía Nam từ Seomyeon đến Geumnyeonsan vào 8 tháng 8 năm 2001. Phần còn lại của giai đoạn 2 được thực hiện trong 2 giai đoạn: tuyến 2 được mở rộng 1,8 km (1,1 dặm) về phía Bắc đến Gwangan vào 16 tháng 1 năm 2002, và cuối cùng vào 29 tháng 8 năm 2002 nó được mở rộng 6,8 kilômét (4,2 dặm) về phía Đông đến Jangsan.[4]

Giai đoạn 3, bắt đầu từ 1998, mở rộng tuyến 2 về phía Bắc từ Hopo vào trong thành phố Yangsan. Giai đoạn đầu chỉ thêm 11,3 kilômét (7,0 dặm) vào tuyến, thêm 7 nhà ga. Vào 10 tháng 1 năm 2003, tuyến 2 mở rộng thêm 8 kilômét (5,0 dặm) đến ga hiện giờ là Yangsan, nhưng chỉ có 3 trong tổng 7 nhà ga trong kế hoạch được vận hành. Đại học quốc gia Pusan ga khuôn viên Yangsan, là 4 nhà ga mở cửa trong giai đoạn 3, mở cửa vào 1 tháng 10 năm 2009.[4] Thành phố Yangsan sau này đã hoàn thành mở rộng và xây thêm 3 nhà ga cuối cùng.

Mở rộng tuyến 2 hướng phía Đông của Haeundae-gu đã lên kế hoạch. Nếu phần mở rộng này mở cửa, thì 4 nhà ga mới sẽ được thêm vào tuyến 2. Nhà ga tên munjeon đổi tên thành Trung tâm tài chính quốc tế Busan, ngân hàng Busan

Liên kếtSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a ă “2019년 12월 도시철도 수송실적입니다”. Busan Transportation Corporation. 16 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2020. 
  2. ^ “Archived copy”. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  3. ^ “Bản đồ ga > Bản đồ ga tổng hợp”. Tổng công ty vận chuyển Busan. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2014. 
  4. ^ a ă â b c “Giới thiệu> Lịch sử”. Tổng công ty vận chuyển Busan. 2011. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2014.