Thái Cổ Phổ Ngu

Thiền sư Thái Cổ Phổ Ngu (kr: 태고보우, Taego Bou, zh: 太古普愚, 1301-1382), Thiền sư nổi tiếng thuộc dòng Tào Khê Tông Hàn Quốc. Người đã truyền Thiền Lâm Tế và lối tu tập Thiền Thoại Đầu vào Cao Ly, ảnh hưởng từ Thiền Đại Huệ(Thiền sư Đại Huệ Tông Cảo). Tư tưởng Thiền và pháp ngữ của sư có ảnh hưởng rất lớn và vẫn còn vang vọng tới ngày nay trong Thiền Tông Hàn Quốc.

Thiền sư Triều Tiên
Tam.jpg

Cơ duyênSửa đổi

Sư sinh năm 1301 tại Yanggeun. Năm 12 tuổi, sư xuất gia ở chùa Hoeam với Thiền sư Gwangji. Năm 18 tuổi, sư bắt đầu tu tập Thiền Tông tại chùa núi Ca Trí Sơn. Trong thời gian này, sư được thầy giao cho tham câu thoại: ” Muôn pháp về một, một về chổ nào?”. Năm 26 tuổi, sư thấu được huyền nghĩa của Kinh Hoa Nghiêm, và quyết định nghiên cứu kinh này. Sư đã giữ phong cách của một người chân tu khi nỗ lực tọa Thiền và thâm nhập các Kinh điển.

Tuy nhiên sau đó vì thấy được điểm hạn chế của việc học Kinh điển, sư quay trở lại việc tu tập Thiền Tông. Sau 7 ngày chuyên tâm thực hành, sư khai ngộ tại Cam Lộ Tự vào năm 1333. Sau đó, khi đọc Kinh Viên Giác, tới câu ” Nếu tất cả mọi thứ biến mất, không có gì rời đi”, sư bỗng có tỉnh ngộ. Năm 1334, sư thực hành công án Vô. Sư trở về quê nhà Yanggeun và tiếp tục nỗ lực tham công án này. Nhân đọc tập 1700 công án của Thiền Tông, sư thấu triêt mối nghi tình mà mình đã tham cứu suốt 20 năm và đạt đại ngộ triệt để.

Sau khi đạt đạo, sư đến Trung Quốc vào năm 45 tuổi, và 1 năm sau đó sư gặp được vị Thiền sư nổi tiếng tông Lâm Tế là Thạch Ốc Thanh Củng(zh: Shiyu Qinggong) và nhận ấn khả từ vị này, tiếp nhận mạch truyền thừa Tông Lâm Tế vào Đại Hàn. Sau khi thuyết Phật Pháp theo yêu cần của vua nhà Nguyên, sư trở lại Cao Ly vào năm 1348, trở thành một vị Thiền sư nổi danh, từng được mời làm Vương sư và Quốc sư.

Sư nổi bật với việc thực hiện sự hợp nhất của 9 trường phái Thiền bản địa Hàn Quốc là Cửu Sơn Thiền tại Quang Minh Thị Tự và ghóp phần giải quyết các vấn đề bất đồng, mâu thuẫn trong các tông phái phật giáo Hàn Quốc. Sư đến trụ trì và hoằng hóa tại Trùng Hưng Tự ở Tam Giác Sơn, lập một nơi ẩn cư ở phía Đông ngôi chùa, gọi đó là Thái Cổ. Ở đó sư viết tập Ca nhất thiên (k: Kailp'yŏn 歌一篇) và sau đó sư viết Sơn trung tự lạc ca (k: Sanjungjallakka 山中自樂歌).

Năm 1382, sư an nhiên thị tịch, tho 81 tuổi, hạ lạp 69 năm. Sư có hơn 1000 môn đệ, nổi bật nhất là các vị: Hwanam Honsu, Mogam Chanyeong, Myoeom Joi.

Tham khảoSửa đổi

  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • http://www.buddhism.org/?p=524