Chào bạn! Hoan nghênh bạn đã cộng tác với dự án này. Bạn có thể tham khảo bài Help:Mục lục nếu bạn muốn tìm hiểu về dự án này. Để học cách sửa đổi trang, xin đọc Help:Sửa đổi. Bạn cũng có thể xem cách viết trang mới. Dung Nguyen 06:08, 22 tháng 4 2005 (UTC)

Test tính năng,Sửa đổi

bài này tui làm để tui tự test tính năng của trang này thôi, xin các bạn thông cảm --Trungduongm 04:06, 23 tháng 4 2005 (UTC)

Chính tảSửa đổi

Xin hãy tra từ điển trước khi sửa chính tả! Ví dụ trong http://www.vietlex.com./vietlex-dict/ Tttrung 09:34, 24 tháng 4 2005 (UTC)

Đọc Talk:Bánh chưng, nhớ bấm vào link. Từ bánh dày không tồn tại. Từ bánh giầy tồn tại.Tttrung 09:52, 24 tháng 4 2005 (UTC)

Thêm Category và TemplateSửa đổi

Bạn xem Lịch sử của Lá dong để biết những gì tôi làm khi thêm Thư mục, và Template. Lần sau câu hỏi của bạn nên để ở Thảo luận của Lá dong, hay bài bạn mới tạo ra, không nên tạo trang mới.Tttrung 10:11, 24 tháng 4 2005 (UTC)

Bạn thân mếnSửa đổi

Chứng tỏ con người bạn rất đẹp dám làm dám nhận! Đây là đức tính mà người theo đạo nào cũng cần có. Chắc bạn theo đạo Phật?

Bạn hoàn toàn không có lỗi chi cả tôi mới phải xin lỗi vì viết hơi mạnh tay.

Thật ra tôi thấy bạn có phần lý. Nhưng sợ gieo một cái nghiệp hiểu lầm về chữ tâm cho nhiều người thôi.

Thời Phật thì chưa có thuyết duy vật hay duy tâm... chỉ có các nhà triết gia đặt thêm các bàn cãi sau này. Ngay cả Phật cũng tùy theo ngưòi mà giảng chớ không nhất định 1 chổ.

Bởi vậy viết đề tài về tôn gíao viết cả tuần lễ mà chưa xong vì vưà phải coi Anh ngữ họ nghĩ thế nào vưà xem lại Kinh Phật và các bài giảng như thế nào... chóng mặt trong khi viết về các danh từ khoa học 1 ngày viết mấy cái ít sợ bị sai hay hiểu nhầm vì có đầy đủ các chú giải Anh ngữ để dò.:)

Làng Đậu Mến TặngSửa đổi

(bài viết cuả Làng Đậu về Phật Giáo và khoa học)

Trong khi nền triết học Phưong Tây với bản sắc chú trọng nặng về thần linh, thượng đế thì ở Đông Phương đúng hơn là Ấn độ, đã có một nền văn minh vô cùng rực rỡ mà cho đến nay các nhà khảo cổ học, và các nhà khoa học chưa khám phá được hết mức độ sâu rộng cũng như những kiến giải về vũ trụ và thế giới chính xác đến độ bất ngờ đặc biệt là trong các kinh điển Phật Giáo, một loại tôn giáo “vô thần”.

Thật vậy, ra đời vào khỏang thế kỉ thứ 6 trước công Nguyên trong bối cảnh xã hội phân hoá cực kỳ phức tạp cuả xứ Ân mà đạo Bà La Môn ngự trị. Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni) cùng với các đồ đệ chỉ trong vòng vài trăm năm (*) đã khai hoá một hệ thống tư duy (trí huệ) hoàn toàn mới và họ đã để lại một kho kinh sách khổng lồ mà qua đó người ta có thể tìm rút ra được vô vàn những hiểu biết giải thích về thế giới và vũ trụ vẩn có giá trị cho đến tận thiên niên kỷ này.

Khi nói đến tôn giáo sẽ khó tránh cho chúng ta liên tưởng tới nhiều hình ảnh có tính cách thần linh hay siêu thực xa vời hay thậm chí mê tín, thụ động. Tuy nhiên, không ai có thể biết được chính xác những lời dạy ban đầu cuả Thích Ca có dính dáng gì đến những hình thức tôn giáo trong đó kể cả các hoạt động tích cực hay tiêu cực hiên nay cuả Phật giáo. Bởi vì ở thời mà đức phật giảng dạy thì không được ghi nhận nguyên văn. Chỉ có Những kinh sách được chép và dịch lại sau này nên chắc khó tránh khỏi sự điều chỉnh hay sưã chưã cuả những thế hệ sau đó. Chưa kể rằng, ngay chính trong thời gian thuyết pháp, Thích Ca đã tuỳ theo hiểu biết, lòng tin, và kinh nghiêm cuả từng đối tương để truyền thụ giáo hoá chứ không cứng ngắt giáo điều. (Đây có lẽ cũng là nguyên do cuả việc phân hoá phong phú nhưng thống nhất trong tư tưởng cuả Phật giáo ngày nay)

Tạm thời bỏ qua các tranh cãi về tôn giáo, khi khảo cứu tham vấn các kinh điển Phật học, người ta có thể rút ra đưọc nhiều quan điểm hay giải thích cuả Phật giáo về thế giới và con người cũng như nhiều phương pháp phân tích khoa học đã được dùng đến. Mặc dù các kinh điển tập trung nhiều trong việc giảng d ạy các phương cách thoát khổ, ta vẩn tìm thấy khá đầy đủ những luận cứ và quan điểm cuả phật giáo về thể tính vật lý cuả thế giới và vũ trụ. Ỏ đây ta chỉ dừng lại trên những ý niệm có liên quan nhưng không đi xa hơn để tránh lạc khỏi đề tài vật lý sử.

Giải thích cuả Phật giáo về nguồn gốc hình thành, và quy luật phát triển chung cuả vũ trụ:

Một trong những câu hỏi hóc buá và lâu đời nhất cuả vật lý và triết học là vũ trụ do đâu mà có? Nó vận động và phát trển ra sao? Hầu hết các quan điểm có được từ khi có câu hỏi trên cho tới khi phật giáo ra đời đều mang nặng tính thần quyền và ngay cả đến thiên niên kỉ thứ hai này chúng ta vẩn còn thấy nhan nhản các lý thuyết dưạ vào niềm tin lên đấng sáng thế, người có toàn quyền tạo ra vũ trụ. Vậy mà Phật giáo một tôn giáo tối cổ lại chạy ra khỏi các giáo điều cứng ngắt và thiết lập nên một hệ thống nhân sinh quan hoàn toàn vô thần. Theo các kinh điển cuả phật giáo, vạn vật bất kể sinh giới hay vật chất phải tuân theo những qui luật tác động một cách không thiên vị lên chúng.

Điều quan trọng nhất cần đề cập là nguyên lý Nhân-Quả. Nguyên lý này cho rằng mọi hành vi, vận động đều gây ra các hậu quả tất yếu cuả nó. Các hậu quả này trước hay sau sẽ đến lúc quay ngược lại tác động vào chính chủ thể cuả hành vi vận động ban đầu. Đây là nguyên lý bao trùm các hoạt động cuả vũ trụ.

So sánh ra, thì nguyên lí này là một sự mở rông cuả nguyên lí tương tác lực và phản lực mà Newton đã phát biểu. Cái khác ở đây, theo phật giáo qui luật Nhân -Quả không chỉ đúng cho thế gíơi vật chất mà nó còn đúng luôn cho cả thế giới giới tâm lý con người.

Phật giáo cho rằng mỗi hiện tượng mà ta có thể nhận biết hay suy diễn ra (hay ngay cả các hiện tượng mà ta chưa đủ khả năng để quan sát qua các giác quan hoặc qua suy diễn), đã là kết quả cuả sự phối hợp từ các nhân tố vận động (nhân) kết hợp với điều kiện sẵn có cuả môi trường (duyên).

Điều này thì chúng ta đã có thể thấy rất rõ trong thế giới sống: một hạt giống không thể nảy mầm và phát triển mạnh mẽ nếu không có các điều kiện thích hợp cuả môi trường. Mặc dù, hạt giống có thể tự thân nó mang những tính trạng rất khoẻ.

Tiếp xa hơn, luật Nhân-quả không chỉ đứng yên hay tác động trên một sự kiện cô lập mà nó có tính phổ dụng trong toàn vũ trụ. Nghiã là bất kể vật thể có kích cỡ nhỏ hay to có đời sống dài hay ngắn đều phải tuân theo sư chi phối cuả luật nhân quả.

Và chuổi nhân quả luôn luôn xảy ra tác động nhau. Mỗi hậu quả cuả các vận động, tác động một lần nưã cùng với sự biến chuyển mới cuả môi trường sẽ là tiền đề tạo điều kiện cho các vận động và tương tác mới … và tập họp những vận động và tương tác họp thành một vòng luân chuyển không ngừng nghĩ gọi là “trùng trùng duyên khởi”

Như vậy, theo cái nhìn cuả phật giáo, vũ trụ là sự vận động và tương tác lẫn nhau cuả các hiện tượng tiếp nối không có bước đầu và cũng không có kết thúc. Các hiện tượng này liên tục, sinh diệt và chuyển biến theo luật nhân quả. (Pháp Duyên Khởi)

Quan điểm duyên sinh trong phật giáo cho ra một hệ quả là không có vật thể nào có thể tồn tại độc lập mà chúng nương tưạ vào nhau tồn tại hài hoà nhau. “Vật này có, cho nên vật khác có, cái này không thì cái kia cũng không; vật này sinh, cho nên vật khác sinh, mà cái này diệt thì cái kia cũng diệt”. (trích - Đại thưà phật giáo tư tưởng luận – chương 1 cuả Kimura Taiken Thích Diễn Bồi dịch).

Ở đây ta có thể so sánh với việc cho rằng cả vũ trụ này tồn tại bởi sự tượng tác lẫn nhau cuả vật chất (bằng các lực vật lý chẳng hạn) và không thể nào có một vật thể riêng biệt hoàn toàn không tương tác với các vật thể còn lại.

Các ảnh hưởng tương tác lẫn nhau cuả các sự kiện trong đời sống có khi sâu rộng hơn như chúng ta tưởng. Theo Stephen Hawking, một nhà vật lý thiên tài đã trình bày trong chương 4 cuả quyển “vũ trụ trong một võ hạt” xuất bản năm 2001 rằng: “Một con bướm vỗ cánh ở Tokyo có thể gây ra mưa ở công viên trung tâm ở Newyork” đã phần nào chứng thực cho cái ý tưởng duyên khởi cuả nhà phật.

Quan Điểm cuả Phật Giáo về Sự chuyển hoá cuả thế giới vật lý:

  • 1. Vai Trò Đấng Sáng Thế và sự thành hoại cuả vật chất

Kế đến, phải kể tới nguyên lý Vô Thường: Phát biểu ngắn gọn cuả nguyên lý này là Không có vật gì thường tồn vĩnh cưũ hay có thể ở mãi trong trạng thái nhất định.

Một hệ quả đơn giản là mọi vật có lúc sinh ra thì sẽ có lúc nó bị tiêu diệt.

Do đó, trong phật giáo không tồn một đấng vĩnh hằng.

Mặc dù có sự tạm phân chia sinh giới ra làm 6 loại trong đó có trời, (và tiếp theo là người, a-tu-la, súc sinh, ngạ quỉ, và điạ ngục) Nhưng ở đây vai trò cuả trời (các đấng phạm thiên) không phải là tối hậu mà tất cả đều phải tuân theo luật nhân quả.

Một phần cũng do việc phủ nhận sự tồn tại một đấng sáng tạo cuả vũ trụ này mà nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng: “Phật giáo là một khoa hoc”. Ngày nay, nguyên lý vô thường đã được chứng minh rộng rãi trong các lí thuyết vật lý hiện đại. Từ một hạt cơ bản cho đến … vũ trụ bao la cũng đều có thời hạn tồn tại cuả nó! Ngoài ra, vật chất luôn luôn chuyển hoá không ngừng.

Mỗi sự kiện hay sự vật đều có 4 thời kì chính đó là hình thành (thành), tồn tại và lớn lên (trụ), hao mòn và huỷ hoại (hoại), và chân như (không) và không gì có thể thoát khỏi qui luật này.

  • 2. Vũ trụ vô cùng tận về không gian và thời gian:

Theo Phật giáo thì vũ trụ lớn vô cùng tận. số lượng thế giới giống như thế giới chúng ta đang sống thì “nhiều như cát ở sông Hằng”:

1000 thế giới nhỏ = 1 tiểu thiên thế giới

1000 tiểu thiên thế giới = 1 trung thiên thế giới

1000 trung thiên thế giới= Tam thiên đại thiên thế giới.

Vũ trụ không chỉ có một Tam Thien đại thiên thế giới mà có đến vô số.

Và theo chu kì “thành, trụ, hoại, không” thì sự khi thế giới này hình thành cũng sẽ có sự tận diệt cuả thế giới khác, cứ như thế luân chuyển không bao giờ dứt

Triết học tánh không và Cấu trúc cuả vật chất:

  • 1. “Vạn Vật Đều Có Tánh Không!“

Về luận lý, thì trong phật học không có sự tồn tại cuả trạng thái nhị nguyên. Nghiã là không có sự phân biệt giưã hai trạng thái 1 và 0, có và không, … Nguyên do cuả sự phân biệt này là do chính tự tâm lí con người phân biệt mà ra (bằng các qui ước và định nghiã). Thế giới tự nó không có sự tách rời phân biệt. Thay vào đó, trạng thái có và không chỉ là sự biểu hiện một thực thể. Có thể đây là khái niệm khó khăn và được bàn thảo nhiều nhất cho người làm khoa học. Chúng ta tạm gọi đây là quan niêm nhất nguyên (hay tánh không). Trong đoạn kế ta sẽ đề cập thêm

  • 2. Cấu thành cuả vật chất và định luật bảo toàn năng lượng

Có Một câu hỏi khác cũng không kém phần quan trọng và lâu đời trong thế giới vật lý đó là câu hỏi về sự cấu tạo cuả vật chất. Gần như mãi cho đến cuối thế kỷ 20 người ta mới có được một câu trả lơì tương đối rõ ràng dựa trên phương trình E = mc² do Einstein phát triển. Cái ý nghiã triết học nằm trong phương trình này là một sự khẳng định rằng vật chất đều chỉ là một dạng năng lượng.

Trong Phật học, vật chất thì được phân lớp một cách sơ khởi thành bốn loại (tứ đại) bao gồm: Đất dùng để chỉ tất cả những vật chất ở thể rắn, nưóc cho vật chất thể lỏng, gió cho thể khí, và dạng vật chất cuối cùng, lưã, chỉ năng lượng chuyển hoá thuần tuý. Các dạng vất này không tồn tại vĩnh cửu mà có thể bị chuyển hoá bởi luật vô thường. Theo quan niệm nhất nguyên thì các thể này chỉ là một (tính không) và tính không này có tính phổ dụng cho vạn vật. (Nói nôm na theo các thiền học phật giáo: ‘vạn vật đều có phật tính!’ Tức là mọi vật đều có bên trong nó thể tính cuả chân lý).

Để dể cho các bạn hình dung, thì ta có thể so sánh cách luận giải đó với luận giải cuả vật lý hiện đại rằng “vạn vật cho dù ở bất kì dạng gì đều có thể mô tả ở một dạng duy nhất đó là năng lượng!”

Đáng chú ý hơn nưã, khi mô tả trạng thái cuả vũ trụ thì trong bộ kinh ngắn (toàn bộ có khoảng hơn 200 chữ): “Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh” chỉ ra rõ ràng hơn: “…Thị chư pháp không tướng, bất sinh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm” (tạm dịch: vạn vật đều là tướng không, không sinh ra, không mất đi, không dơ, không sạch, không tăng, không giảm). Như vậy, bạn nghĩ sao về sự xác thực cuả điều này nếu ta liên tưởng tới định luật bảo toàn năng lượng cuả vật chất trong vũ trụ mà các nhà vật lý đang cổ suý?

  • 3. Bản chất thật cuả Vạn Vật:

Từ mấy ngàn năm trước, phật giáo đã đưa khái niệm liên quan đến việc phủ nhận sự tồn tại cuả các dạng nhận thức từ con người về vật chất (tính “không”). Theo ý chỉ này thì tất cả các dạng thông tin mà ta nhận thức về vật chất đều không chính xác. Chẳng hạn, hai khái niệm quan trọng nhất có thể xem xét tới là “sắc” và “tướng”.

Sắc là thuộc tính màu cuả vật chất mà chúng ta cảm nhận. Còn “tướng “ là thuộc tính về hình dáng cuả vật chất. Như vậy tại sao lại phủ nhận hai thuộc tính này?

Cho đến nay thì người ta đã biết khá rõ rằng màu sắc chỉ là sự thụ cảm cuả mắt đối với một số bước sóng ánh sáng khác nhau và nó gần như là thuộc tính cuả tâm lý (hai sinh vật khác nhau có thể cảm nhận về màu khác nhau tuỳ theo kinh nghiệm và bẩm sinh cuả sinh vật đó) và cấu trúc không gian cuả vật chất cũng tương tự, cấu thành bởi vô vàn những hạt cơ bản. Cũng vậy, nếu như đem cọng tóc phẳng trơn lên kính hiển vi điện tử thì ta sẽ có cảm nhận về hình dáng (tướng) cuả cọng tóc sẽ hoàn toàn khác (và có lẽ xấu xí và khá đúng hơn) với cảm nhận ban đầu.

Do đó, không thể vinh vào hai thuộc tính “sắc” và “tướng” mà cho rằng đó là thể tính chân lý cuả vật chất mà ta cảm thấy được. Tưong tự như vậy cho âm thanh, cảm giác, nhân thức, …(Duy Thức Luận và Bát Nhã Tâm Kinh).

Cũng xin nói thêm ở đây việc phủ nhận mọi thứ trong phật giáo nhằm mụch đích giáo hoá rằng mọi cái nhìn, thụ cảm, suy diễn, quan điểm, hiểu biết, hay hành động cuả con người đều do tự tâm cuả chính con người đã dựa vào kinh nghiêm, bản năng, và các điều kiện tác động cuả môi trường mà có (vạn pháp duy tâm tạo) Nhưng những điều này lại không phải là thể tính chân lý cuả thế giới. Do đó, nếu hoàn toàn dưạ vào hay tin vào những thấy biết cuả cảm quan sẽ bị sai lầm (vô ngã – vô chấp).

Phương Pháp Luận -- Khách quan tuyệt đối:

Trong các nghiên cứu khoa học thì việc tách rời những thiên kiến, hay định kiến ra khỏi các đánh giá hay thực nghiệm khoa học đóng vai trò vô cùng quan trọng. Một lý thuyết càng khách quan bao nhiêu thì càng đem lại kết quả dự đoán chính xác bấy nhiêu. Tuy nhiên, khó mà một nhà nghiên cứu có thể hoàn toàn tách rời được các tư tưởng chủ quan cuả mình vào trong khoa học. Thí dụ việc cho rằng vật nặng hơn sẽ rơi nhanh hơn nếu so sánh tốc độ rơi cuả hai vật trong cùng 1 thời điểm và cùng độ cao đã phổ biến từ rất xa xưa. Mãi cho đến khi … Galileo kiểm chứng lại rằng nó sai.

Trong vật lý cổ điển, việc chấp nhận thời gian phẳng lặng và độc lập với không gian đã được Newton mặc nhiên dùng trong các chứng minh cuả mình và cho đến nay thì hiểu biết này là … không hoàn toàn chính xác.

Ngay từ khi mới hình thành, các giáo huấn cuả Phật đã ý thức rõ ràng về những sai lạc mà con người đã mặc nhiên gán cho thế giới xung quanh và định kiến cho rằng đó là đặc tính thực cuả thiên nhiên.

Trong phần trên chúng ta đã thấy sự phủ nhận cuả các giáo huấn về sắc tướng và các cảm quan cuả cá nhân con người. Bên cạnh, Phật giáo còn chỉ rõ hơn nưã về sự sai sót này nhằm mụch đích dẫn dắt tư tưởng con người đến việc nhìn nhận sự vật khách quan hơn (trí huệ) thông qua việc cho rằng “mọi thứ cảm nghĩ hay suy diển đều là sản phẩm tâm lý cuả con người” (vạn pháp duy tâm). Từ đó, để hiểu và đạt được chân lí một cách đúng đắn thì việc quan trọng nhất là tránh tối đa việc dựa vào hay trụ vào bất kì một ý kiến, tri kiến nào mà cho đó là tuyệt đối (Ưng vô sở trụ nhi sinh kì tâm).

Như vậy, thế giới quan phật giáo tiềm chưá một cái nhìn rất tương đối về các lý thuyết (pháp). Ngoài ra, việc khuyên bảo giáo đồ trong con đường đi tìm chân lý cũng đã ghi rõ là không được dựa vào sắc, âm hay các cảm xúc. (nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thinh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai – – Xin hiểu thêm Như Lai ở đây là biểu hiện cuả chân lý tối thượng cuả vạn vật chứ không phải là cá nhân xác thịt cuả Phật Thích Ca: “Như Lai giả, tắc chư Pháp như nghiã” -- Kim Cang Kinh).

Phật giáo còn cho rằng: Chân lý không từ đâu đến cũng không đi về đâu; chân lý hiện hữu không có sự áp đặt từ bên ngoài (“Như Lai giả, vô sở tùng lai diệc vô sở khứ, cố danh Nhu Lai” -- Kim Cang kinh).


Như vậy phương pháp mà phật giáo dùng trong các luận lí là hoàn toàn khách quan

Tiện đây, cũng xin nhắc thêm một phán đoán cuả Phật: “Trong một ly nước đầy có chưá hàng vạn sinh linh” Đây đã là một phán đoán về sự tồn tại cuả thế giới vi sinh (vi trùng, vi khuẩn,…) mà bằng mắt trần người thời đó khó có thể kiểm nghiệm lại được. Sự tiên đoán này thì hiển nhiên được khẳng định từ khi người ta phát minh ra kính hiển vi.

Thay lơì kết:

Điểm nổi bật nhất làm cho phật giáo đặc sắc hơn các tôn giáo khác là việc có nhiều kết luận hay giáo huấn tương đồng với khoa học và phương pháp luận hiện đại. Việc phủ nhận đấng sáng thế và việc cho rằng mọi sự việc nếu xảy ra đều phải tuân theo các qui luật công bằng cuả thiên nhiên (nhân quả) đã đưa vị trí cuả phật giáo lên ngang hàng với một nền khoa học chân chính. Điều đáng gây ngạc nhiên cho chúng ta là phật giáo đã ra đời từ hơn 2500 năm trước, khi mà con người chỉ có những công cụ sản xuất thô sơ. Không có dụng cụ thí nghiệm mà Phật giáo đã hoàn bị được một hệ thống hiểu biết cho đến nay vẩn còn giữ nguyên giá trị thực dụng cuả nó.

Để thay cho lời kết luận cuả phần này xin trích lại hai câu nói cuả nhà vật lý học Albert Einstein:

“Nếu có một tôn giáo nào mà có thể thoả mãn được các đòi hỏi cuả khoa học thì nó chính là phật giáo.”

Bởi Vì

“Phật giáo có những đặc tính mong muốn cho một tôn giáo phổ dụng cuả tương lai: Nó vượt quá khả năng thượng đế, tránh khỏi các giáo điều và các thần linh; nó bao hàm cả bản năng và tinh thần, và nó dựa trên nhận thức tôn giáo đòi hỏi mãnh liệt từ kinh nghiệm cuả vạn vật, từ bản năng và tinh thần, như là một sự thống nhất đầy ý nghiã”


“If there is any religion that would cope with modern scientific needs it would be Buddhism.”

"Buddhism has the characteristics of what would be expected in the cosmic religion for the future: It trancends a personal God, avoids dogma and theology; it covers both the natural and the spiritual, and it is based on a religious sense aspiring from the experience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity."

—Albert Einstein


Ghi chú: (*) Sau khi Phật Thích Ca qua đời, thì Tăng đoàn phật giáo thời bấy giờ đã trải qua 3 kì kiết Tập nhằm cũng cố và điều chỉnh các giới luật cũng như hoàn thiện kinh điển. Hầu hết các kinh điển phật giáo còn sót lại là có từ 3 tạng kinh cuả kì kiết tập thứ 3 này do ngài Mahinda mang từ Ấn Độ sang đảo Sri-Lanka; kinh viết bằng tiếng Phạn (Pali) các kinh điển này còn lưu giữ nguyên vẹn


Giống như khoa học, phật giáo rất coi trọng thực tế. Người phật tử không dưạ vào các khả năng siêu nhiên mà ngược lại chú trọng tối đa vào thực nghiệm cho chính bản thân. Câu chuyện sau đây là một minh chứng: Một hôm, trên đưòng thuyết giảng Phật đang định nhờ người chèo chở vượt qua một con sông nhỏ thì tình cờ gặp một thầy Bà La Môn. Để biểu thị tài cán cuả mình, thầy Bà La Môn đã biểu diễn khả năng đi bộ trên mặt nước qua sông trước mặt phật.

Phật điềm đạm hỏi: “Nhà ngươi đã tu luyện bao lâu mới có đựợc phép đi trên nước như vậy?” Thầy Bà La Môn kiêu hảnh trả lời: "Ta học pháp này hết 40 năm".

Lúc đó người cheò xuồng thuê đã cập bến. Sau khi nhờ ngưòi lái đò chở sang sông xong. Phật mới quay lại nói với thầy Bà La Môn rằng: "Ta chỉ tốn có hai xu mà cũng làm được 1 chuyện mà nhà ngươi đã phải khổ luyện 40 năm".



Tài liệu Tham Khảo:

Kinh Kim Cang

Bát Nhã Ba-La-Mật Đa Tâm Kinh

Duy Thức Luận

http://www.thuvienhoasen.org/index-kinhdien.htm

http://www.buddhanet.net/e-learning/history/s_scripts.htm

http://www.silk-road.com/artl/buddhism.shtml

www.photogrammetry.ethz.ch/ research/bamiyan/pub/isprsV_corfu02.pdf

Trung Luận

“Phật Học Phổ Thông bài thứ 9: V ũ Trụ quan Phật Giáo” cuả Thích Thiện Hoa. http://www.thuvienhoasen.org/phathocphothong-05-09.htm

“Lịch Sử Tư Tưởng và Triết Học Tánh Không” cuả “Thích Tâm Thiện”. http://www.thuvienhoasen.org/tt-tanhkhong-02.htm

Atomic numberSửa đổi

Atomic number dịch sang tiếng Việt là nguyên tử lượng hay số nguyên tử chứ không phải số hiệu nguyên tử, tương đương với số lượng điện tử/điện tích hạt nhân mà nguyên tử của nguyên tố đó có khi ở dạng nguyên chất. User:Vương Ngân Hà

Hình như atomic number được SGK dùng là số hiệu nguyên tử. Còn khối lượng nguyên tử (nguyên tử lượng) là atomic weight.--Á Lý Sa 06:37, 29 tháng 4 2005 (UTC)
Đúng vậy, sách giáo khoa, và hệ thống giáo dục Việt Nam dùng nó là số hiệu nguyên tử: vì đa số các từ khoa học Việt Nam xuất phát từ tiếng Hoa, nếu muốn biết chính xác, các bạn có thể tra cứu thử tiếng Hoa, sẽ thấy 原子序数 có nghĩ là số hiệu nguyên tử. Vả lại, dịch nguyên tử lượng là không đúng, lượng không có nghĩa là số lượng như nhiều người nghĩ, mà là khối lượng, và nguyên tử lượng là khối lượng nguyên tử. Trong tiếng Hoa, có một số nguyên tắc ghép chữ (nói chính xác là thói quen), không phải ghép vào là được. Còn dùng số nguyên tử, không thể hiện được ý nghĩa số thứ tự của Atomic number.

Nói hệ thống giáo dục Việt Nam là tôi nói có vẻ cục bộ, thực ra, đa số các từ ngữ khoa học Việt Nam đều là từ Hán Việt, và đây cũng không là ngoại lệ.

Bằng cách nàoSửa đổi

Trungduongm hỏi tôi về chính tả tiếng Việt là Trungduongm hỏi sai người: tiếng Việt là tiếng thứ ba của tôi. Tôi đã không dùng nó hơn 30 năm rồi. (Gần đây, vì tôi retire sớm, tôi giúp đỡ Wikipedia Tiếng Việt nên tôi mới dùng nó lại.) Khi tôi nói không nên viết on-line, tôi muốn nói đến vấn đề tâm lý: khi chúng ta viểt on-line chúng ta hay làm cho nhanh, làm cho nhanh hơn và làm cho nhanh hơn nữa. (Đây là một problem tâm lý tôi nhận thấy của rất nhiều programmers đã làm việc cho tôi.) Để tránh chuyện đó, đừng viết on-line. Mở Words, hay Notepad, ra, viết, đọc lại, sửa lỗi chính tả, đọc lại, sửa lời văn... xong rồi cut&paste. Mekong Bluesman 13:00, 29 tháng 4 2005 (UTC)

PS: Còn một lời khuyên nữa: đừng quên ký tên (với 4 dấu ~) khi viết thảo luận. Mekong Bluesman 13:02, 29 tháng 4 2005 (UTC)

Chào bạn Trùng Dương MSửa đổi

Tôi đã đọc phần ý kiến của bạn trong mục [Wikipedia:Thảo luận]]. Tôi rất đồng ý và hoàn toàn ủng hộ bạn trong một thành ý của bạn nhận đóng vai trò "hướng dẫn" hay tạo những "guide map" cho các thành viên mới. Tôi rất mong và đón nhận muốn chia sẻ với câu nói của bạn "tất cả vì một đam mê và lí tưởng.". Thân mến. NOB

Mong anh trở lại cho ý kiến về việc đùng các đại từ chỉ thứ bậc cho ngườiSửa đổi

http://vi.wikipedia.org/wiki/Talk:Th%C3%ADch_Ca_M%C3%A2u_Ni

Võ Quang Nhân 16:04, 11 tháng 5 2005 (UTC)

Về bài Việt NamSửa đổi

Chào anh Trungduongm, tôi có đọc phần văn hóa trong mục văn hóa của bài Việt Nam, có đoạn do anh viết(nếu tôi không nhầm, còn nếu nhầm thì xin trao đổi với anh vậy), đó là văn hóa Việt nam.... giao thoa của văn hóa Trung Ấn và Văn hóa lúa nước.... Tôi nghĩ dùng từ văn hóa ở đây không phù hợp lắm.Hồi nhỏ tôi học, thấy sách hay dùng văn minh Trung Ấn và nền văn minh lúa nước. Không biết dạo này sách vở cải cách có dùng mới lại không? Chân thành. Wikilover 15:55, ngày 25 tháng 10 năm 2005 (UTC)