Mở trình đơn chính

Tuyên ngôn độc lập

tuyên bố của một lãnh thổ rằng nó hoàn toàn độc lập và đủ điều kiện để hình thành một quốc gia
(đổi hướng từ Tuyên bố độc lập)

Tuyên ngôn độc lậpvăn bản tuyên bố sự độc lập của một quốc gia, thường là ra đời để khẳng định chủ quyền của quốc gia vừa giành lại từ tay ngoại bang. Có văn bản không mang tên như vậy, nhưng có ý nghĩa tương tự, cũng được coi là tuyên ngôn độc lập.

Những tuyên ngôn độc lập trong lịch sửSửa đổi

Trong lịch sử, đã có những bản tuyên ngôn độc lập sau:

ASửa đổi

BSửa đổi

CSửa đổi

DSửa đổi

ĐSửa đổi

GSửa đổi

HSửa đổi

ISửa đổi

VSửa đổi

Những bản tuyên ngôn độc lập của Việt NamSửa đổi

Sử học Việt Nam hiện nay coi là Việt Nam có cả thảy 3 bản tuyên ngôn độc lập[1][2]:

  1. Bài thơ Nam quốc sơn hà: là tác phẩm được sử dụng trong kháng chiến chống Tống lần thứ nhất (Lê Hoàn) và lần thứ 2 (Lý Thường Kiệt) nhằm mục đích khẳng định chủ quyền dân tộc, khích lệ ba quân tướng sĩ và uy hiếp tinh thần giặc Tống.
  2. Bình Ngô đại cáo: Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo thay lời Bình Định vương Lê Lợi năm Đinh Mùi (1427), tuyên bố bình định giặc Minh, giành lại độc lập cho dân tộc.
  3. Bản tuyên ngôn độc lập do Hồ Chí Minh viết, sau đó đọc tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, ngày 2 tháng 9 năm 1945, tuyên bố Việt Nam độc lập, thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp, phát xít Nhật, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “Tinh thần bất diệt trong các bản Tuyên ngôn độc lập của dân tộc”. Antv. 2 tháng 9 năm 2015. Truy cập 30 tháng 9 năm 2015. 
  2. ^ “Giá trị của Tuyên ngôn Độc lập”. Báo Điện tử Tiền Phong. Truy cập 30 tháng 9 năm 2015.