Thiền sư Vô Chuẩn Sư Phạm (chữ Hán: 無準師範; ja. Bujun Shiban; 1178–1249), thiền sư Trung Quốc thuộc tông Lâm Tế. Sư là một vị Thiền sư xuất sắc với cơ phong giáo hóa đệ tử rất mạnh mẽ, dưới sư đã đào tạo ra nhiều vị đệ tử đạt Kiến Tính và những vị đệ tử này về sau đóng ghóp rất lớn trong việc phát triển Thiền Tông tại Trung Quốc và truyền bá Tông Lâm Tế sang Nhật Bản dưới thời nhà Tống, Nguyên.

Vô Chuẩn Sư Phạm
Chinesischer Maler von 1238 001.jpg
Ảnh họa Thiền sư Vô Chuẩn Sư Phạm, 1238.
Tôn giáoThiền Tông
Tông pháiTông Lâm Tế
Cá nhân
Sinh1178
Tứ Xuyên, Trung Quốc
Mất1249
Chức vụ
Chức danhThiền sư
Tiền nhiệmPhá Am Tổ Tiên
Kế nhiệmTuyết Nham Tổ Khâm
Đoạn Kiều Diệu Luân
Vô Học Tổ Nguyên
Viên Nhĩ Biện Viên
Tùng Nguyên Sùng Nhạc
Tào Nguyên Đạo Sinh
Ngột Am Phổ Ninh
Hoạt động tôn giáo
Sư phụPhá Am Tổ Tiên
Đồ đệTuyết Nham Tổ Khâm
Đoạn Kiều Diệu Luân
Vô Học Tổ Nguyên
Viên Nhĩ Biện Viên
Tùng Nguyên Sùng Nhạc
Tào Nguyên Đạo Sinh
Ngột Am Phổ Ninh

Ngoài ra sư cũng là nhà họa sĩ, thư pháp nổi tiếng với nhiều tác phẩm tranh họa, thư pháp vẫn còn được lưu truyền cho đến nay.

Tiểu sửSửa đổi

Sư họ Ung, hiệu là Vô Chuẩn (雍), quê ở huyện Tử Đồng, Kiểm Châu, tỉnh Tứ Xuyên. Năm 9 tuổi, sư theo Thiền sư Đạo Khâm ở núi Âm Bình (陰平山) xuất gia tu học. Mùa đông năm thứ 5 (1194) niên hiệu Thiện Hy, sư thọ giới cụ túc. Sư vì nhà nghèo không có dao cạo tóc nên mọi người gọi là " Ô Đầu Tử" (ông đầu đen).

Năm thứ nhất niên hiệu Khánh Nguyên (1195), sư đến nhập hạ ở Chính Pháp tự (正法寺) và học Thiền với thủ tọa Nghiêu. Tại đây sư có chổ khai ngộ.

Sau đó, sư đến tham học với Thiền sư Phật Chiếu Đức Quang (đệ tử nối pháp của Thiền sư Đại Huệ Tông Cảo) ở Đông Am (東庵) trên núi A Dục Vương (阿育王山). Một hôm, Thiền sư Phật Chiếu hỏi sư: " Quê quán của ông ở đâu?", sư đáp: "Con ở Kiếm Châu!". Ngài hỏi: "Ông có đem kiếm theo không", sư liền hét. Thiền sư Phật Chiếu thấy vậy cười rồi nói : " Gã đầu đen này ồn ào quá".

Kế tiếp, sư đến tham học với Thiền sư Phá Am Tổ Tiên ở Tây Hoa Tú Phong Tự (西華秀峰寺) ở vùng Tô Châu, tỉnh Giang Tô. Khi Thiền sư Tổ Tiên chuyển đến giáo hóa tại Linh Ẩn Thiền Tự, sư cũng đi theo thị giả hầu cận gần thầy tham học. Một hôm, có một vị đạo nhân đến xin Thiền sư Tổ Tiên chỉ dạy việc tu tập, ngài bèn dạy vị ấy tham công án " con hồ tôn" (con vượn). Lúc đó, sư đang đứng hầu bên cạnh thầy, sư nghe được bỗng đại ngộ và được Thiền sư Tổ Tiên ấn khả. Trước khi Thiền sư Tổ Tiên thị tịch, ngài đem y bát trao cho sư và công nhận sư làm pháp tử (người kế thừa dòng pháp) của mình, tiếp tục thay ngài truyền bá tông Lâm Tế.

Sau khi ngộ đạo, sư bắt đầu thuyết pháp và thu nhận môn đệ, giáo hóa đồ chúng tại chùa Thanh Lương ở vùng Minh Châu, tỉnh Triết Giang. Ngoài ra, sư cũng đến hoằng hóa tại nhiều nơi khác như Tiêu Sơn, Tuyết Đậu Sơn, A Dục Vương Sơn. Năm 1232, vua ban chiếu chỉ thỉnh sư đến trụ trì và giáo hóa ở Kính Sơn.

Năm 1233, vua Lý Tông (理宗;1224-1264) thỉnh sư vào nội cung tại Từ Minh Điện (慈明殿) thuyết pháp và vua cũng tham hỏi về Thiền Tông, Phật Pháp với sư. Vua ban cho sư hiệu là Phật Giám Thiền sư, những câu hỏi của vua và lời đáp của sư được ghi lại trong Vô Chuẩn Hòa Thượng Tấu Đối Ngữ Lục.

Trong cuộc đời hoằng pháp của sư, từng có nhiều vị tăng người Nhật vì mến mộ danh tiếng và đạo hạnh của sư mà đến học Thiền. Điển hình như các vị Viên Nhĩ Biện Viên, Tính Tài Pháp Tâm, Diệu Kiến Đường Đạo Hựu từng đến tham học với sư được đại ngộ và được sư ấn khả. Sau này, họ trở về Nhật Bản và truyền bá Tông Lâm Tế, dòng pháp của sư mạnh mẽ, Thiền sư Viên Nhĩ Biện Viên là người sáng lập ngôi Đại Đức Tự (Tōfuku-ji)- đại bản sơn nổi tiếng của tông Lâm Tế Nhật Bản . Ngoài ra, một số đệ tử đắc pháp khác của sư như Vô Học Tổ Nguyên, Ngột Am Phổ Ninh cũng truyền bá Tông Lâm Tế sang Nhật và rất nổi tiếng. Pháp tôn đời thứ 4 của sư là Thiền sư Nam Phổ Thiện Minh là người truyền bá Thiền tông tại Nhật Bản nổi trội nhất và là người dẫn đầu dòng truyền tông Lâm Tế ( dòng pháp chính) tại Nhật Bản về sau, những vị Thiền sư nổi tiếng như Nhất Hưu Tông Thuần, Bạch Ấn Huệ Hạc, Hồng Nhạc Tông Diễn (Soyen Shaku, 釈 宗演, 1850-1919) đều thuộc dòng pháp của Nam Phổ.

Ngày 18 tháng 3 năm thứ 9 niên hiệu Thuần Hựu (淳祐), sư an nhiên tọa Thiền thị tịch, hưởng thọ 71 tuổi. Trước khi tịch, sư có viết 20 trang di biểu để căn dặn, nhắc nhở chúng đệ tử. Sư có để lại bài kệ thị tịch:

Khi đến trống hoang hoác

Ra về sạch trọi trơn

Muốn hỏi điều chân yếu

Chiếc cầu đá Thiên Thai

Ngữ lục của sư được ghi lại bộ Phật Giám Thiền Sư Ngữ Lục (佛鑑禪師語錄) gồm 5 quyển.

Nghệ thuậtSửa đổi

Một số bản thư pháp do sư viết và truyền lại cho đệ tử là Thiền sư Viên Nhĩ Biện Viên vẫn còn được lưu giữ cho đến ngày nay tại ngôi đại bản sơn Đại Đức tự (Tōfuku-ji) của Tông Lâm Tế Nhật Bản. Một cuộn thư pháp của sư cũng từng được tặng cho Shogun dòng tộc Tokugawa. Ngoài ra còn có một lá thư của sư ( được viết năm 1242) bây giờ đang được bảo tồn tại Bảo tàng quốc gia Tokyo như một báu vật quốc gia của Nhật Bản.

Bức họa chân dung của sư được vẽ vào năm 1238 bởi một họa sĩ vô danh, sư từng trao bức tranh này cho đệ tử nối pháp Viên Nhĩ. Và Viên Nhĩ đã đem bức họa về Nhật Bản vào năm 1241 và đến nay vẫn được lưu giữ tại Đại Đức tự, nó được chỉ định là báu vật quốc gia trong các thể loại tranh họa.

Một số bút tích của sư còn lưu lại cho đến nay:

Tham khảoSửa đổi

  • Embree, Ainslie Thomas (1997). Asia in Western and World History: A Guide for Teaching. Armonk: ME Sharpe, Inc.
  • Faure, Bernard. (2003). Chan Buddhism in Ritual Context. New York: RoutledgeCurzon. ISBN 0-415-29748-6.
  • Lauer, Uta. (2002). A Master of His Own. Stuttgart: Steiner. ISBN 3-515-07932-7.