Viêm tiểu phế quản

Viêm tiểu phế quản là tắc nghẽn các tiểu phế quản trong phổi do nhiễm virus.[1] Nó thường chỉ xảy ra ở trẻ em dưới hai tuổi.[2] Các triệu chứng có thể bao gồm sốt, ho, sổ mũi, thở khò khè và các vấn đề về hô hấp.[1] Các trường hợp nghiêm trọng hơn có thể liên quan đến sưng mũi, khò khè hoặc da giữa các xương sườn bị kéo vào khi thở.[1] Nếu trẻ không thể bú đúng cách, có thể có dấu hiệu mất nước.[1]

Viêm tiểu phế quản thường là kết quả của nhiễm trùng do virus hợp bào hô hấp (72% trường hợp) hoặc virut mũi người (26% trường hợp).[2] Chẩn đoán thường dựa trên các triệu chứng.[1] Các xét nghiệm như X-quang ngực hoặc xét nghiệm vi-rút không thường xuyên cần thiết.[2] Xét nghiệm nước tiểu có thể được xem xét ở những người bị sốt.[2]

Không có điều trị đặc hiệu.[3] Chăm sóc hỗ trợ tại nhà nói chung là đủ.[1] Thỉnh thoảng nhập viện để thở oxy, hỗ trợ cho ăn, hoặc truyền dịch là cần thiết.[1] Bằng chứng dự kiến hỗ trợ nước muối tăng tiết nebulized.[4] Bằng chứng về kháng sinh, thuốc chống siêu vi, thuốc giãn phế quản hoặc epinephrine nebulized là không rõ ràng hoặc không hỗ trợ được người bệnh.[5]

Khoảng 10% đến 30% trẻ em dưới hai tuổi bị ảnh hưởng bởi viêm tiểu phế quản tại một số thời điểm.[1][2] Nó thường xảy ra vào mùa đôngBắc bán cầu.[1] Nguy cơ tử vong ở những người nhập viện là khoảng 1%.[6] Bùng phát tình trạng này được mô tả lần đầu tiên vào những năm 1940.[7]

Dấu hiệu và triệu chứngSửa đổi

Trong một trường hợp điển hình, trẻ sơ sinh dưới hai tuổi bị ho, thở khò khè và khó thở trong một hoặc hai ngày. Tiếng vỡ bong bóng hoặc thở khò khè là những phát hiện điển hình về nghe ngực bằng ống nghe. Trẻ sơ sinh có thể bị khó thở trong vài ngày. Sau khi bị bệnh cấp tính, thông thường đường thở vẫn nhạy cảm trong vài tuần, dẫn đến ho và khò khè tái phát.

Một số dấu hiệu của bệnh nặng bao gồm:[8]

  • ăn kém (ít hơn một nửa lượng chất lỏng thông thường trong 24 giờ trước)
  • giảm đáng kể hoạt động
  • lịch sử ngừng thở
  • nhịp thở> 70 / phút
  • sự hiện diện của sưng mũi và / hoặc lẩm bẩm
  • suy thoái thành ngực nghiêm trọng (dấu hiệu của Hoover)
  • da xanh

Nguyên nhânSửa đổi

 
Viêm cấp tính tiết ra làm tắc nghẽn phế quản và viêm cấp tính một phần của thành phế quản

Thuật ngữ này thường đề cập đến viêm tiểu phế quản do virus cấp tính, một bệnh phổ biến ở trẻ nhỏ. Điều này thường được gây ra bởi virus hợp bào hô hấp [9] (RSV, còn được gọi là pneumovirus ở người). Các tác nhân khác gây bệnh này bao gồm metapneumovirus ở người, cúm, parainfluenza, coronavirus, adenovirus, rhovovirusmycoplasma.

Trẻ sinh non (dưới 35 tuần), nhẹ cân hoặc mắc bệnh tim bẩm sinh có thể có tỷ lệ viêm tiểu phế quản cao hơn và có nhiều khả năng phải nhập viện. Có bằng chứng cho thấy cho con bú cung cấp một số bảo vệ chống lại viêm tiểu phế quản.[10]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a ă â b c d đ e ê Friedman JN, Rieder MJ, Walton JM, ((Canadian Paediatric Society, Acute Care C, Drug Therapy and Hazardous Substances)) (tháng 11 năm 2014). “Bronchiolitis: Recommendations for diagnosis, monitoring and management of children one to 24 months of age.”. Paediatrics & Child Health 19 (9): 485–98. PMC 4235450. PMID 25414585. doi:10.1093/pch/19.9.485.  Lỗi văn phong Vancouver (trợ giúp)
  2. ^ a ă â b c Schroeder, AR; Mansbach, JM (tháng 6 năm 2014). “Recent evidence on the management of bronchiolitis.”. Current Opinion in Pediatrics 26 (3): 328–33. PMC 4552182. PMID 24739493. doi:10.1097/MOP.0000000000000090. 
  3. ^ Hancock, DG; Charles-Britton, B; Dixon, DL; Forsyth, KD (tháng 9 năm 2017). “The heterogeneity of viral bronchiolitis: A lack of universal consensus definitions.”. Pediatric Pulmonology 52 (9): 1234–1240. PMID 28672069. doi:10.1002/ppul.23750. 
  4. ^ Zhang, L; Mendoza-Sassi, RA; Wainwright, C; Klassen, TP (ngày 21 tháng 12 năm 2017). “Nebulised hypertonic saline solution for acute bronchiolitis in infants.”. The Cochrane Database of Systematic Reviews 12: CD006458. PMID 29265171. doi:10.1002/14651858.CD006458.pub4. 
  5. ^ Brooks, CG; Harrison, WN; Ralston, SL (ngày 18 tháng 4 năm 2016). “Association Between Hypertonic Saline and Hospital Length of Stay in Acute Viral Bronchiolitis: A Reanalysis of 2 Meta-analyses.”. JAMA Pediatrics 170 (6): 577–84. PMID 27088767. doi:10.1001/jamapediatrics.2016.0079. 
  6. ^ Kendig, Edwin L.; Wilmott, Robert W.; Boat, Thomas F.; Bush, Andrew; Chernick, Victor (2012). Kendig and Chernick's Disorders of the Respiratory Tract in Children (bằng tiếng Anh). Elsevier Health Sciences. tr. 450. ISBN 978-1437719840. 
  7. ^ Anderson, Larry J.; Graham, Barney S. (2013). Challenges and Opportunities for Respiratory Syncytial Virus Vaccines (bằng tiếng Anh). Springer Science & Business Media. tr. 392. ISBN 9783642389191. 
  8. ^ BRONCHIOLITIS IN CHILDREN (Sign Guideline 91). Scottish Intercollegiate Guidelines Network. 2006. ISBN 9781905813018. 
  9. ^ Smyth RL, Openshaw PJ (tháng 7 năm 2006). “Bronchiolitis”. Lancet 368 (9532): 312–22. PMID 16860701. doi:10.1016/S0140-6736(06)69077-6. 
  10. ^ Carbonell-Estrany X, Figueras-Aloy J (2004). “Identifying risk factors for severe respiratory syncytial virus among infants born after 33 through 35 completed weeks of gestation: different methodologies yield consistent findings.”. Pediatr Infect Dis J 23 (11 Suppl): S193–201. PMID 15577573. doi:10.1097/01.inf.0000144664.31888.53.