Xuân Phương, Xuân Trường

xã thuộc Xuân Trường

Xuân Phương là một thuộc huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, Việt Nam.

Xuân Phương

Hành chính
TỉnhNam Định
HuyệnXuân Trường
Thành lập1952[1]
Địa lý
Tọa độ: 20°18′9″B 106°21′44″Đ / 20,3025°B 106,36222°Đ / 20.30250; 106.36222Tọa độ: 20°18′9″B 106°21′44″Đ / 20,3025°B 106,36222°Đ / 20.30250; 106.36222
Diện tích2,84 km²[2]
Dân số (1999)
Tổng cộng6706 người[2] năm 2013
Mật độ2370 người/km² (năm 2013)
Khác
Mã hành chính14122[2]

Xã Xuân Phương có diện tích 2,84 km², dân số năm 1999 là 5698 người,[2] mật độ dân số đạt 2006 người/km². Năm 2013 là 6706 người.

Gồm tám xóm hành chính: 1,2,3,4,5,6, Bắc, Nam.

Các làng cổ: Trà Lũ Đông, Trà Lũ Đoài, Phú Nhai.

Lịch sử tên gọiSửa đổi

Lịch sử sử xã Xuân Phương bắt đầu từ làng Trà Lũ và làng Phú Nhai.

Làng Trà Lũ khởi tạo là quá trình hình thành ấp, rồi thành làng và lớn nhất là xã. Sau này khi dân số đông, tôn giáo phức tạp lại chia tách thành các thôn xã.

Cần phân biệt với Tổng Trà Lũ mà xã Trà Lũ là một bộ phận.

(Tổng Trà Lũ có 8 xã, phường là: Trà Lũ, Lạc Nghiệp, Vạn Lộc, Trà Khê, Quần Cống, Hoành Vực, Chuỳ Trà, phường thuỷ cơ Trà Lũ. Đầu thế kỷ XX đổi tên xã Hoành Vực thành xã Thọ Vực; xã Chuỳ Trà thành xã Thanh Trà (sau lại đổi Thanh Trà thành Thanh Khê); xã Quần Cống thành xã Thiên Thiện; Chia xã Trà Lũ làm Trà Lũ Đông, Trà Lũ Đoài, Trà Lũ Bắc, Trà Lũ Trung và lấy trại Nam Điền thuộc xã Trà Lũ Trung lập thành xã Nam Điền. Bỏ phường thuỷ cơ Trà Lũ.)

Về tên gọi Trà Lũ được giải thích như sau:

Theo gia phả Họ Trần xã Xuân Trung và sách Trà Lũ xã chí thì vốn dân Trà Lũ di cư từ làng Lủ (Lũ) (Có tài liệu ghi rằng từ xã Phượng Lủ, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, nay là xã Kim Thi, tỉnh Hưng Yên. Cũng có giả thiết khác từ làng Lủ xã Kim Lũ, tổng Khương Đình, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín nay là phường Đại Kim - Hoàng Mai - Hà Nội) khai phá đầu tiên vào giữa thế kỷ XV, lấy một phần tên làng cũ đặt cho đất mới là Trà Lũ. Những vị tổ mở đất còn để lại di huấn cho con cháu câu ca dao về sự việc này, nhắc nhở con cháu không quên quê gốc:

"Chữ Kim đổi lấy chữ Trà

Còn một chữ Lũ để mà làm ghi."

Năm Thành Thái thứ 1 (1889) do việc tăng đinh, bổ sưu - nộp thuế mà các Giáp giáo - Họ đạo (theo đạo Công giáo) của ba thôn hợp thành thôn Đoài (Trà Lũ Đoài trừ làng Phú Nhai).

Năm Duy Tân thứ 9 (1915), 4 thôn của Trà Lũ tách thành 4 xã: Trà Bắc (Trà Lũ Bắc nay thuộc Xuân Bắc). Trà Đông (Trà Lũ Đông nay thuộc Xuân Phương), Trà Trung (Trà Lũ Trung nay thuộc Xuân Trung), Trà Đoài (Trà Lũ Đoài, các họ Thôn Đông, Thất Sự, Thánh Tâm nay thuộc Xuân Phương).[3]

Làng Phú Nhai vốn thuộc tổng Thủy Nhai (Gồm các xã Thuỷ Nhai, Trung Lễ, Hạ Linh, Trung Linh, An Cư, Phú Đường, Phú Nhai, Lục Thuỷ, Thượng Miêu, Nhật Hy, Bùi Chu, Hoành Quán, phường thuỷ cơ An Cư. Đầu thế kỷ XX chia tách xã Phú Đường thành hai xã mới là Liên Thuỷ và Phú An; Tách xã Thuỷ Nhai thêm thôn Thuỷ Nhai Trung; Đổi tên xã Thượng Miêu thành xã Thượng Phúc; Chia xã Nhật Hy thành hai xã Nhật Hy Thượng và Xuân Bảng).

Do buổi đầu đến khai hoang, người Trà Lũ chọn những nơi đất cao để lập làng, chọn những rẻo đất màu mỡ để canh tác mà không quan tâm đến vị trí xa hay gần. Vì thế đất đai Trà Lũ từng kéo xuống tận đến khu vực Giao Thủy, giáp đất Hải Hậu ngày nay. Đây là nguyên nhân dẫn tới hiện tượng đất đai Trà Lũ xen kẽ với nhiều làng xã, tục gọi là cài răng lược.

Khi người Trà Lũ còn mải mê tìm những mảnh đất ở xa màu mỡ, thì khu vực Vụng Thuyền Chài nằm giữa các thôn Trà Lũ Trung, Trà Lũ Bắc, Trà Lũ Đông được người xã Thủy Nhai cắm mốc, về sau người xã Thủy Nhai mới kéo đến khai khẩn, định cư và thành lập trại Phú Nhai.[4]

Cho đến trước khi sáp nhập Phú Nhai vào Trà Lũ, đất Trà Lũ vẫn có hình thế đặc biệt

“ Ba thôn Trà Lũ bò ra ngoài

Một thôn Phú Nhai, nhai vào giữa”

Năm 1948, Trà Trung, Trà Bắc, Trà Đông, Trà Đoài và Phú Nhai hợp nhất lại thành xã Trà Phú, sự chia cắt của Trà Lũ bị xoá bỏ.

Năm 1950, Trà Phú tách thành Xuân Bắc và Trà Phú.

Năm 1952, Trà Phú đổi thành Xuân Phương.[5]

Năm 1956, Xuân Phương lại tách thành Xuân Phương và Xuân Trung.

Như vậy, đến thời điểm này:

Làng Trà Lũ xưa đã nằm trong các đơn vị hành chính xã Xuân Bắc, Xuân Phương, Xuân Trung và một phần trại Nam Điền nay thuộc xã Xuân Vinh.[6][7]

Giáo xứ Phú Nhai là theo địa dư tôn giáo gồm làng Phú Nhai và các giáo họ thuộc làng Trà Lũ Đoài xưa.

Văn hóa Tôn giáoSửa đổi

Xuân Phương có chùa Tiên Quang Tự thường gọi là chùa Trà Đông xây dựng năm 1560 đời vua Lê Anh Tông.

Đền Trần ba xã Bắc - Trung - Phương thờ Trần Hưng Đạo xây dựng năm Đồng Khánh - Ất Dậu 1885.[3]

Đền làng Trà Lũ Đông thờ Bản cảnh thành hoàng Hinh Long đại vương thượng đẳng thần[3] (10 sắc chỉ ban tặng triều đình phong kiến). Nguyên trước xây dựng cách phía bắc chùa Đông hơn trăm mét, năm 1963 bị phá dỡ (cùng với Đình, Văn chỉ, Võ chỉ, miếu xóm thôn Đông) lấy vật liệu xây trường học, làm cống đi Thọ Nghiệp năm 2001 tái lập về vị trí hiện nay.

Tổng Trà Lũ xưa, địa danh ghi dấu trong sử nước Việt là một trong ba nơi đạo Công giáo được truyền đến đầu tiên ở nước ta.

Chính tại vùng này, lịch sử ghi nhận các nhà truyền giáo phương Tây đã lần đầu tiên đến truyền đạo:

"Gia tô: Theo sách Dã Lục, thì ngày tháng 3 năm Nguyên Hòa thứ nhất (1533) đời Lê Trang Tông, người Tây Dương tên là Y-nê-xu lén lút đến xã Ninh Cường, xã Quần Anh huyện Nam Chân và xã Trà Lũ huyện Giao Thủy, ngấm ngầm truyền giáo về tả đạo Gia tô."

Nơi đây có Vương cung thánh đường Phú Nhai kính Đức mẹ vô nhiễm nguyên tội nổi tiếng về kiến trúc gôtich đặc trưng mái vòm nhọn.

Theo Trà Lũ xã trí của Lê Văn Nhưng thì xóm "Bắc Tỉnh đúng là nơi gốc truyền đạo, trước đây các giáo mục người Y Nha Pho, Tây Ban Nha thường về đây trước rồi mới về Phú Nhai là xã toàn tòng"[3]

Các họ đạo Giáo họ Thôn Đông, Giáo họ Thánh Tâm, Giáo họ Thất Sự

Hiện nay, trên 70% dân số theo đạo Công giáo.

Ngoài ra còn rất nhiều nhà thờ tổ, miếu đường, nguyện đường...

Năm 2009, nhà thờ tổ Phan tộc được UBND tỉnh Nam Định công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.[8]

Các nhân vật được tôn kínhSửa đổi

Người đỗ đạt khoa cử

1. Cụ Phan Chính Tín đỗ Tứ trường - Hương cống triều Lê.

2. Cụ Phan Đình Tuấn đỗ Hương cống triều Lê phong tước Tả hiệu úy An sơn hầu.

3. Cụ Phan Cự Đệ đỗ Thủ khoa triều Tây Sơn, niên hiệu Quang Trung năm 1789, giữ chức Tri huyện Thiên Phú-Phú Xuyên.

4. Cụ Phan Viết Cân đỗ Phó bảng tiến sĩ võ triều Nguyễn, đời Tự Đức, năm Mậu Thìn 1868.

Người có công

Cụ Phan Triều Thắng, tự Như Trụ giữ chức Cai tổng Trà Lũ, phân chia ruộng đất cho dân. Cụ bà Hoàng Thị Từ Tâm đức độ cứu đói cho dân. Nhân dân phụng thờ.

Lãnh đạo khởi nghĩa nông dân

Cụ Phan Bá Vành, đời thứ 8 họ Phan - Trà Lũ, thủ lĩnh khởi nghĩa nông dân triều Nguyễn từ 1821-1828. Đây là cuộc nghĩa có quy mô lớn nhất, kéo dài nhất (đưa vào sách giáo khoa lịch sử 7, 10). Căn cứ chính tại Trà Lũ - Xuân Trường. Khi nhà Nguyễn triệt hạ, dân cư được Nguyễn Công Trứ thu nạp lập huyện Kim Sơn và Tiền Hải.

Tu sĩ, chức sắc tôn giáo tiêu biểu

- Xứ đạo Phú Nhai là quê hương của các Giám mục Công giáo [9]

ĐGM Đaminh Đinh Đức Trụ (1908-1982) 

ĐGM Đaminh Hoàng Văn Đoàn (1912-1974) 

ĐGM Đaminh Lê Hữu Cung (1898-1987) 

ĐGM Giuse Đinh Bỉnh (1920-1989) 

ĐGM Đaminh Nguyễn Chu Trinh (1940-)

*** Thông tin một số tài liệu cho biết:

ĐGM Gioan Maria Phan Ðình Phùng có gốc tiên tổ chi cụ Phan Phúc Lành - Trà Đông;

ĐGM Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi có gốc tiên tổ Phạm tộc - Trà Trung.[10]

Các cụ đời sau đi lập ấp ở Kim Sơn - Ninh Bình sau biến cố khởi nghĩa Phan Bá Vành.

- Xứ Phú Nhai 6 vị được Giáo hoàng Ðức Piô XII phong thánh tử đạo, xã Xuân Phương có 3 vị:

Vinh Sơn Lê Quang LIÊM (Phạm Hiếu Liêm) sinh năm 1732, Linh Mục, Dòng Ða Minh, xử trảm ngày 07-11-1773 tại Ðồng Mơ dưới đời chúa Trịnh Sâm, phong Chân Phúc ngày 15-4-1906, kính ngày 07-11.

Ðaminh Ðinh ÐẠT, sinh năm 1803, Binh Sĩ, xử giảo ngày 18-7-1839 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Minh Mạng, phong Chân Phúc ngày 27-5-1900, kính ngày 18-7.

Tôma Ðinh Viết DỤ, sinh năm 1783, Linh Mục, Dòng Ða Minh, xử trảm ngày 26-11-1839 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Minh Mạng, phong Chân Phúc ngày 27-5-1900, kính ngày 26-11.

- Ni trưởng Thích Đàm Y, trụ trì chùa Tiên Quang Tự (chùa Trà Đông), nuôi dấu cán bộ cách mạng, có bài thuốc Thồng, Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhì.

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ 1108/1952/TC-QN
  2. ^ a ă â b “Mã số đơn vị hành chính Việt Nam”. Bộ Thông tin & Truyền thông. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2012. 
  3. ^ a ă â b “Lê Văn Nhưng. Trà lũ xã trí. Năm Duy Tân thứ 9.” (PDF). 
  4. ^ “Tạp chí khoa học Đại học quốc gia Hà Nội”. 
  5. ^ Nghị định số 224-TTg của Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ngày 15 – 10 – 1952 đổi tên 19 xã của huyện Xuân Trường.
  6. ^ Đinh thị thùy hiên. Nguồn sử liệu về làng Trà Lũ (Nam Định) trước năm 1945: Luận văn ThS. 2006 Lịch sử: 60 22 58
  7. ^ “Quá trình thay đổi địa danh hành chính xã (làng) Trà Lũ thuộc huyện Xuân Trường”. 
  8. ^ “Di tích từ đường Xuân Trường”. 
  9. ^ “Lịch sử phú nhai”. 
  10. ^ Lịch sử đảng bộ xã Xuân Trung 1930-200, trang 112

Tham khảoSửa đổi