Mở trình đơn chính

Út Trà Ôn (1919-2001) là nghệ sĩ cải lương tài danh. Ông tên thật là Nguyễn Thành Út, tên thường gọi trong gia đình là Mười Út (vì ông là người con thứ 10 và cũng là con út). Ông sinh tại ấp Đông Phú, làng Đông Hậu, quận Trà Ôn, xưa thuộc tỉnh Cần Thơ, nay thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Nghệ sĩ Nhân dân
Infobox-realisateur-mini.png
Út Trà Ôn
Ut Tra On.jpg
Nghệ danh
  • Mười Út
Thông tin cá nhân
SinhNguyễn Thành Út
1919
Trà Ôn, Vĩnh Long
Mất13 tháng 8, 2001(2001-08-13) (81–82 tuổi)
Thành phố Hồ Chí Minh
Quốc tịch Việt Nam
Nghề nghiệpDiễn viên sân khấu
VợNguyễn Thị Bích Thủy
Con cáiBích Phượng
Lĩnh vựcCải lương
Giải thưởng

Tiểu sửSửa đổi

Năm 16 tuổi, anh thanh niên Mười Út với lòng đam mê nghệ thuật cải lương học hát tại làng quê. Quê hương của ông cũng là một vùng đất nổi tiếng với nghệ thuật cải lương.

Năm 1937, Mười Út được người quen giới thiệu với Đài phát thanh Sài Gòn và từ đó chính thức có nghệ danh Út Trà Ôn. Giọng ca truyền cảm, ấm áp, chân thành, đậm chất miền Tây Nam Bộ của ông được giới thiệu trên làn sóng điện đã nhanh chóng được đông đảo thính giả yêu chuộng. Bản vọng cổ đầu tiên ông ca trên đài là bản: "Thức trót canh thâu". Với niềm đam mê nghệ thuật và khả năng ca diễn xuất sắc, Út Trà ôn thường xuyên góp tiếng hát cho Đài phát thanh, thu âm cho các hãng băng đĩa. Đặc biệt, với giọng ca đặc biệt của mình, ông đã góp phần nâng cao uy tín cho hãng đĩa ASIA với bài vọng cổ "Tôn Tẩn giả điên" gồm có 20 câu, là một sáng tác của vị Yết-Ma (tu sĩ Phật giáo).

Năm 1942, ông lần lượt biểu diễn cho các gánh cải lương như: Hề Lập, Thanh Long, Tiến Hoá, Mộng Vân, Sao Mai, Thanh Minh...

Năm 1954, ông lập gánh hát Kim Thanh, đây là lần đầu tiên ông làm bầu 1 đại bang danh tiếng lừng lẫy lúc bấy giờ và cho đến ngày nay vẫn còn nhiều nghệ sĩ cao tuổi nhắc đến. Lúc ấy, đại bang này có nhiều nghệ sĩ tên tuổi lớn ví dụ như: Thanh Tao, Kim Chưởng, Thuý Nga cùng làm giám đốc.

Năm 1960, Út Trà Ôn cộng tác với đoàn Thủ Đô (chủ nhân của đoàn này là ông Phan Văn Bản và đồng thời là chủ nhân của hãng dĩa Hoành Sơn)

Năm 1962, Út Trà Ôn và người bạn thân là nghệ sĩ Hoàng Giang (cũng là tên tuổi lớn) lập gánh Thống Nhứt, rồi cộng tác với các đoàn như: Dạ Lý Hương, Thái Dương, Quốc Thanh, Hương Dạ Thảo, Phương Bình, Thanh Hải, Tân Hoa Lan, Kim Chung v.v..

Năm 1975, sau ngày 30/4/1975, ông cộng tác với đoàn cải lương Sài Gòn 1, Trần Hữu Trang và sau đó là Sân khấu Tài Năng hay còn gọi là đoàn 2-84.

Tháng 3 năm 1997, ông được phong tặng Nghệ sĩ Nhân dân. Ông từ trần ngày 13 tháng 8 năm 2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh, an táng tại Chùa Nghệ sĩ, Quận Gò Vấp. Hưởng thọ 82 tuổi.[1]

 
Mộ Út Trà Ôn tại nghĩa trang chùa Nghệ sĩ, Gò Vấp

Danh hiệuSửa đổi

Năm 1997: Ông được Nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân và Huân chương Vì sự nghiệp sân khấu vì những đóng góp của ông cho nghệ thuật cải lương.

Các vai diễn nổi bậtSửa đổi

Cải lươngSửa đổi

  • Cung đàn trên sông lạnh
  • Đời cô Lựu (vai Võ Minh Thành)
  • Kiều Nguyệt Nga (vai Kiều Công)
  • Kim Vân Kiều
  • La Thành thọ tiễn
  • Lưu Bình – Dương Lễ
  • Mười lăm năm ly hận (vai Minh)
  • Nạn con rơi (vai ông Phú)
  • Ngao Sò Ốc Hến (vai Quan huyện)
  • Nguyên soái bán vợ
  • Nửa bản tình ca
  • Quân vương và thiếp
  • Sân khấu về khuya (vai Quốc Sơn)
  • Thái tử A Xà Thế (vai Đức Thế Tôn)
  • Thằng điên vùng bến Hạ (vai Xuyên Hạ)
  • Thuyền ra cửa biển (vai Diệp Chấn Phong)
  • Tiếng hát Muồng Tênh
  • Tuyệt tình ca (vai ông cò Hương)

Các bài vọng cổ nổi tiếngSửa đổi

Bằng giọng hát ấm và ngọt, nghệ sĩ Út Trà Ôn nổi tiếng với rất nhiều bài vọng cổ. Ông được khán giả ái mộ với những vở cải lương. Rất nhiều bài vọng cổ cho đến ngày nay vẫn còn đọng lại ít nhiều ký ức và tình cảm trong lòng người mộ điệu:

Gia đìnhSửa đổi

Út Trà Ôn là cha của ca sĩ Bích Phượng. Bích Phượng không đi theo nghiệp cải lương cha mà hát, thể hiện những làn điệu dân ca Nam Bộ.

Tham khảoSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ “Vĩnh biệt NSND Út Trà Ôn”. Báo Người lao động. 14 tháng 3 năm 2001. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2001.