Đế quốc Khwarazmia

Đế chế Khwarazmia [note 2] (tiếng Anh: /kwəˈræzmiən/;[7] còn được đánh vần: Khwarezmian) là một đế chế Hồi giáo dòng Sunni của người Thổ-Ba Tư [8] cai trị phần lớn Trung Á, AfghanistanIran ngày nay. Trong giai đoạn 1077 đến 1231, đầu tiên nó là chư hầu của Đế quốc Seljuk [9]Qara Khitai (triều đại Tây Liêu),[10] và sau đó trở nên độc lập, cho đến khi bị Đế quốc Mông Cổ chinh phục vào thế kỷ XIII. Người ta ước tính rằng đế chế này trải dài trên diện tích từ 2,3 triệu km2 [11] đến 3,6 triệu km2 [12] vào đầu thế kỷ XIII, khiến nó trở thành một trong những đế chế trên đất liền lớn nhất trong lịch sử nhân loại.

Khwarazmian Empire
1077–1231
Lãnh thổ Đế chế Khwarazmia k. 1205
Lãnh thổ Đế chế Khwarazmia k. 1205
Vị thếĐế quốc
Thủ đôGurganj
(1077–1212)
Samarkand
(1212–1220)
Ghazni
(1220–1221)
Tabriz
(1225–1231)
Thành phố lớn nhấtShahr-e Ray
Ngôn ngữ thông dụng
Tôn giáo chính
Hồi giáo Sunni
Chính trị
Chính phủQuân chủ chuyên chế
Khwarazmshah 
• 1077–1096/7
Anushtegin Gharchai
• 1220–1231
Jalal ad-Din Mingburnu
Lịch sử
Thời kỳTrung cổ
• Thành lập
1077
1219–1221
1230
• Giải thể
1231
Địa lý
Diện tích 
• 1210 est.[4] or
2.300.000 km2
(888.035 mi2)
• 1218 est.[5]
3.600.000 km2
(1.389.968 mi2)
Dân số 
• 1220[6][note 1]
5,000,000
Kinh tế
Đơn vị tiền tệDirham
Tiền thân
Kế tục
Đế quốc Seljuk
Nhà Ghur
Tây Liêu
Kara-Khanid
Eldiguzids
Ahmadilis
Triều đại Bavand
Đế quốc Mông Cổ

Ngày thành lập nhà nước Khwarazmshahs vẫn còn gây tranh cãi. Vương triều cai trị đế chế được thành lập bởi Anush Tigin (còn được gọi là Gharachai), ban đầu là nô lệ người Thổ của những nhà cai trị Gharchistan, sau đó trở thành Mamluk phục vụ cho Seljuqs. Tuy nhiên, chính Ala ad-Din Atsiz, hậu duệ của Anush Tigin, người đã giành được độc lập cho Khwarazm khỏi các nước láng giềng.

Năm 1220, người Mông Cổ dưới sự cai trị của Thành Cát Tư Hãn đã xâm lược Đế chế Khwarazmia, chinh phục thành công toàn bộ nó trong vòng chưa đầy hai năm. Người Mông Cổ đã khai thác những điểm yếu và xung đột hiện có trong đế chế, bao vây và cướp bóc những thành phố giàu có nhất, đồng thời tạo ra một trong những cuộc chiến đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại.

Lịch sửSửa đổi

Lịch sử ban đầuSửa đổi

Nổi lênSửa đổi

Mở rộng lãnh thổSửa đổi

Suy yếu và sụp đổSửa đổi

Bộ máy cai trịSửa đổi

Thủ phủSửa đổi

Dân sốSửa đổi

Văn hoáSửa đổi

Ngôn ngữSửa đổi

Quân độiSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên pop
  2. ^ Also known as Khwarazm (tiếng Ba Tư: خوارزم‎, chuyển tự Khwārazm) or the Khwarazmshahs (tiếng Ba Tư: خوارزمشاهیان‎, chuyển tự Khwārazmshāhiyān)

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a b Babayan, K. (2003). Mystics, monarchs, and messiahs: cultural landscapes of early modern Iran. Harvard Center for Middle Eastern Studies. tr. 14.
  2. ^ Gafurov, B.G. Central Asia:Pre-Historic to Pre-Modern Times, Vol. 2, (Shipra Publications, 1989), p. 359.
  3. ^ Vasilyeva, G.P. "Ethnic processes in origins of Turkmen people." Soviet Ethnography. Publishing house: Nauka, 1969. pp. 81-98.
  4. ^ Turchin, Peter; Adams, Jonathan M.; Hall, Thomas D. (tháng 12 năm 2006). “East-West Orientation of Historical Empires”. Journal of World-Systems Research. 12 (2): 222. ISSN 1076-156X. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2016.
  5. ^ Rein Taagepera (tháng 9 năm 1997). “Expansion and Contraction Patterns of Large Polities: Context for Russia”. International Studies Quarterly. 41 (3): 497. doi:10.1111/0020-8833.00053. JSTOR 2600793.
  6. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên John Man 2007. Page 180
  7. ^ “Khwarazmian: definition”. Merriam Webster. 8 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2010.
  8. ^ C. E. Bosworth : Khwarazmshahs i. Descendants of the line of Anuštigin. In Encyclopaedia Iranica, online ed., 2009: "Little specific is known about the internal functioning of the Khwarazmian state, but its bureaucracy, directed as it was by Persian officials, must have followed the Saljuq model. This is the impression gained from the various Khwarazmian chancery and financial documents preserved in the collections of enšāʾdocuments and epistles from this period. The authors of at least three of these collections—Rašid-al-Din Vaṭvāṭ (d. 1182-83 or 1187-88), with his two collections of rasāʾel, and Bahāʾ-al-Din Baḡdādi, compiler of the important Ketāb al-tawaṣṣol elā al-tarassol—were heads of the Khwarazmian chancery. The Khwarazmshahs had viziers as their chief executives, on the traditional pattern, and only as the dynasty approached its end did ʿAlāʾ-al-Din Moḥammad in ca. 615/1218 divide up the office amongst six commissioners (wakildārs; see Kafesoğlu, pp. 5-8, 17; Horst, pp. 10-12, 25, and passim). Nor is much specifically known of court life in Gorgānj under the Khwarazmshahs, but they had, like other rulers of their age, their court eulogists, and as well as being a noted stylist, Rašid-al-Din Vaṭvāṭ also had a considerable reputation as a poet in Persian." Norman M. Naimark, Genocide: A World History (Oxford University Press, 2017), 20 "The Persian-speaking and Islamic Khwarezmian empire, which was founded in Central Asia south of the Aral Sea around its capital of Samarkand, and included such remarkable centers of trade and civilizations as Bukhara and Urgench, ..."
  9. ^ Rene Grousset, The Empire of the Steppes:A History of Central Asia, Transl. Naomi Walford, Rutgers University Press, 1991, page 159.
  10. ^ Biran, Michel, The Empire of the Qara Khitai in Eurasian history, (Cambridge University Press, 2005), 44.
  11. ^ Turchin, Peter; Adams, Jonathan M.; Hall, Thomas D (tháng 12 năm 2006). “East-West Orientation of Historical Empires”. Journal of World-Systems Research. 12 (2): 222. ISSN 1076-156X. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2016.
  12. ^ Rein Taagepera (tháng 9 năm 1997). “Expansion and Contraction Patterns of Large Polities: Context for Russia”. International Studies Quarterly. 41 (3): 497. doi:10.1111/0020-8833.00053. JSTOR 2600793.

Liên kết ngoàiSửa đổi