175 Andromache

tiểu hành tinh vành đai chính

Andromache /ænˈdrɒmək/ (định danh hành tinh vi hình: 175 Andromache) là một tiểu hành tinh nguyên thủy và lớn ở vành đai chính.

175 Andromache
Khám phá
Khám phá bởiJames Craig Watson
Ngày phát hiện1 tháng 10 năm 1877
Tên định danh
(175) Andromache
Phiên âm/ænˈdrɒmək/[1]
A877 TA; 1893 KA;
1895 XB; 1946 MB;
1946 OD
Vành đai chính
Đặc trưng quỹ đạo[2]
Kỷ nguyên 31 tháng 7 năm 2016
(JD 2.457.600,5)
Tham số bất định 0
Cung quan sát52.992 ngày (145,08 năm)
Điểm viễn nhật3,9264 AU (587,38 Gm)
Điểm cận nhật2,4442 AU (365,65 Gm)
3,1853 AU (476,51 Gm)
Độ lệch tâm0,232 67
5,69 năm (2076,5 ngày)
35,697°
0° 10m 24.132s / ngày
Độ nghiêng quỹ đạo3,2184°
21,353°
320,41°
Trái Đất MOID1,43446 AU (214,592 Gm)
Sao Mộc MOID1,4866 AU (222,39 Gm)
TJupiter3,154
Đặc trưng vật lý
Bán kính trung bình
50,585±3,5 km
8,324 h (0,3468 d)
0,0819±0,013
8,06[3]
8,31[2]

Ngày 1 tháng 10 năm 1877, nhà thiên văn học người Mỹ gốc Canada James C. Watson phát hiện tiểu hành tinh Andromache khi ông thực hiện quan sát tại Đài quan sát Detroit và đặt tên nó theo tên Andromache, vợ của Hector trong chiến tranh thành Troy. Bức điện tín của Watson gửi tới châu Âu để thông báo về khám phá của ông đã bị thất lạc, vì vậy phải đến vài tuần sau đó mới có thông báo. Kết quả là, một tiểu hành tinh khác đã được đánh số 175, sau này được định danh lại là 176 Iduna.[4]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Noah Webster (1884) A Practical Dictionary of the English Language
  2. ^ a b Yeomans, Donald K., “175 Andromache”, JPL Small-Body Database Browser, NASA Jet Propulsion Laboratory, truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2016.
  3. ^ Warner, Brian D. (tháng 12 năm 2007), “Initial Results of a Dedicated H-G Project”, The Minor Planet Bulletin, 34 (4): 113–119, Bibcode:2007MPBu...34..113W.
  4. ^ Leuschner, A. O. (tháng 4 năm 1936), “The Story of Andromache, an Unruly Planet”, Publications of the Astronomical Society of the Pacific, 48 (282): 57–60, Bibcode:1936PASP...48...55L, doi:10.1086/124659.

Liên kết ngoàiSửa đổi