A Bái (chữ Mãn: ᠠᠪᠠᡳ, âm Mãn: Abai, chữ Hán: 阿拜, bính âm: Ābài, 8 tháng 9 năm 1585 - 14 tháng 3 năm 1648), Ái Tấn Giác La, là một nhà quân sự và Hoàng tử có ảnh hưởng khá lớn trong thời kì đầu nhà Thanh. Ông trải qua 3 đời quân chủ là Thanh Thái Tổ, Thanh Thái TôngThanh Thế Tổ. Ông thuộc Chính Lam kỳ, là Chính Lam kỳ đệ lục tộc.

A Bái
阿拜
Trấn quốc Cần Mẫn công
Tiền nhiệm Được phong tước
Kế nhiệmPhụ Quốc công Củng An
Thông tin chung
Chính thấtTha Tháp Lạp thị
Kế thấtĐông Giai thị
Hậu duệTrấn quốc Tướng quân Tịch Đặc Khố
Nữu Vọng Giám
Phụng ân Tướng quân Phí Nhã Tam
Phụ quốc Giới Trực công Can Đồ
Phụ quốc Hoài Nghi Tướng quân Phạm Đồ
Phụ Quốc công Củng An
Phụ Quốc công Hạo Thiện
Thụy hiệu
Trấn quốc Cần Mẫn công
Thân phụNỗ Nhĩ Cáp Xích
Thân mẫuThứ phi Triệu Giai thị
Sinh(1585-09-08)8 tháng 9, 1585
Mất14 tháng 3, 1648(1648-03-14) (62 tuổi)

Cuộc sốngSửa đổi

A Bái sinh vào ngày 15 tháng 8 (âm lịch) năm Minh Vạn Lịch thứ 13 (1585). Ông là con trai thứ ba của Nỗ Nhĩ Cáp Xích, mẹ là Thứ phi Triệu Giai thị, con gái của Lạc Khắc Đạt (喇克達).

Năm Thiên mệnh thứ 10 (1625), cùng với Tháp Bái, Ba Bố Thái thảo phạt Đông hải Nữ Chân Hô Nhĩ Cáp bộ, bắt được 1500 hộ. Khi ông trở lại, được Nỗ Nhĩ Cáp Xích xuất thành nghênh đón, và thụ phong Ngưu Lục Chương Kinh (牛录章京).

Năm Thiên Thông thứ 8 (1634), A Bái thụ phong Mai Lặc Ngạch Chân (梅勒额真).

Năm Sùng Đức thứ 3 (1638), ông được bổ nhiệm làm Thừa Chính (承政) của Lại bộ.

Năm Sùng Đức thứ 4 (1639), được phong làm Tam đẳng Trấn quốc Tướng quân (三等镇国将军).

Năm Sùng Đức thứ 6 (1641), chịu trách nhiệm đóng quân trấn giữ Cẩm Châu.

Năm Sùng Đức thứ 8 (1643), với lý do tuổi già, A Bái bị bãi miễn chức vụ Thừa Chính.

Năm Thuận Trị thứ 4 (1647), tiến phong Nhị đẳng Trấn quốc Tướng quân (二等镇国将军).

Năm Thuận Trị thứ 5 (1648), A Bái bệnh mất vào ngày 21 tháng 2, thọ 64 tuổi.

Vào tháng 5 năm Thuận Trị thứ 10 (1653), triều đình truy phong ông làm Trấn Quốc công (镇国公), thuỵ hào "Cần Mẫn" (勤敏).[1]

Gia đìnhSửa đổi

Cha mẹSửa đổi

  • Cha: Nỗ Nhĩ Cáp Xích
  • Mẹ: Thứ phi Triệu Giai thị, con gái của Lạc Khắc Đạt, gả cho Nỗ Nhĩ Cáp Xích năm 1584, năm sinh năm mất không rõ.

Thê thiếpSửa đổi

Chính thấtSửa đổi

  • Đích thê: Tha Tháp Lạp thị, con gái của Tá lĩnh Thác Bố (佐领 托布).
  • Kế thê: Đông Giai thị, con gái của Thượng thư Mông A Đồ (尚书 蒙阿图).

ThiếpSửa đổi

  • Cáp Đạt Nạp Lạt thị, con gái của Phúc Lộc (福禄).

Hậu duệSửa đổi

A Bái có bảy người con trai, trong đó có ba người có tước vị, Củng An thừa tập tước vị Tam đẳng Trấn quốc Tướng quân của A Bái, sau tiến phong Phụ quốc công. Can Đồ và Hạo Thiện đều được phong Phụ quốc Công. Hậu duệ của Củng An và Hạo Thiện đều thế tập Phụng ân Tướng quân.

  1. Trấn quốc Tướng quân Tịch Đặc Khố (席特库, 1612 - 1677), mẹ là Tha Tháp Lạp thị[2], Chính Lam kỳ đệ thập nhất tộc.
    • Thê thiếp
      • Đích thê: Y Nhĩ Căn Giác La thị, con gái Khô Tích Tha (枯锡他).
      • Kế thê: Y Nhĩ Căn Giác La thị, con gái Nam Vĩnh Thuận (男永顺).
      • Tam thú thê: Nạp Lạt thị, con gái Tô Ba Tích Thái (苏巴锡泰).
    • Hậu duệ
      • Trưởng tử: Tinh Anh (星英)
      • Thứ tử: Phụng ân Tướng quân Năng Ngạch Lý (能额理).
      • Tam tử: Phụng ân Phụ quốc công Anh Ngạch Lý (英额里).
      • Tứ tử: Phụng ân Phụ quốc công Anh Cách Nghi (英格宜).
      • Ngũ tử: Năng Cách Nghi (能格宜)
      • Lục tử: Nhan Đồ (颜图).
  2. Nữu Vọng Giám (钮望鉴, 1614 - 1628), mẹ là Tha Tháp Lạp thị, vô tử nữ.[2]
  3. Phụng ân Tướng quân Phí Nhã Tam (1621 - 1646), mẹ là Tha Tháp Lạp thị.[2]
    • Đích thê: Đông Giai thị, con gái Bố Tô (布苏).
    • Hậu duệ:
      • Trưởng tử: Quý Nhã Đạt (贵雅达).
      • Thứ tử: Ái Đạt (爱达).
  4. Phụ quốc Giới Trực công Can Đồ (干图, 1624 - 1659), mẹ là Đông Giai thị.[2]
    • Đích thê: Nữu Hỗ Lộc thị, con gái Thượng thư Xa Nhĩ Cách (车尔格).
    • Thiếp:
      • Vương thị, con gái Vương Ân (王恩).
      • Vương thị, con gái Vương Hữu Minh (王佑明).
    • Trưởng tử: Xước Khắc Thác (绰克托).
  5. Phụ quốc Hoài Nghi Tướng quân Phạm Đồ (范图, 1627 - 1648), mẹ là Đông Giai thị.[2]
    • Đích thê: Đông giai thị, con gái Khinh Xa Đô Uý Ông Khắc Nghi (翁克宜).
    • Hậu duệ:
      • Trưởng tử: Phụng quốc Tướng quân Pháp Khách (法喀).
      • Thứ tử: Dĩ cách Phụ quốc Tướng quân Pháp Phục Lễ (法复礼).
  6. Phụ quốc công Củng An (巩安, 1629 - 1682), mẹ là Đông Giai thị[2]. Chính Lam kỳ đệ thập tộc.
    • Thê thiếp:
      • Đích thê: Kỳ Lộc thị, con gái Tề Mặc Khắc (齐默克).
      • Kế thê: Nạp Lạt thị, con gái Hộ quân Tham lĩnh Bính Đồ (炳图).
    • Hậu duệ:
      • Trưởng tử: Thông An (通安).
      • Thứ tử: Dĩ cách Phụ quốc Tướng quân Ý Tát (图萨).
      • Tam tử: Phụ quốc Tướng quân Ba Cáp Mục (巴哈穆).
  7. Phụ quốc công Hạo Thiện (1634 - 1706), mẹ là Đông Giai thị[2]. Chính Lam kỳ đệ nhất tộc.
    • Thê thiếp:
      • Đích thê: Qua Nhĩ Giai thị, con gái Bố Nhan (布颜).
      • Thiếp: Trương thị, con gái Trương Tề (张齐).
    • Hậu duệ:
      • Trưởng tử: Dĩ cách Trấn quốc Tướng quân Phật Cách (佛格).
      • Thứ tử: Phụng ân Tướng quân Bảo Cách (保格), nhậm chức Tông học Tổng quản (宗学总管, chức quan hàm Thất phẩm, quản lý sự vụ của Tông học và sau này kiêm cả Giác La học, đều do Tông nhân phủ chọn từ Tông thất Trưởng giả)[3].
      • Tam tử: Phụ quốc Tướng quân Thiện Phúc (善福), nhậm chức Tông học Tổng quản.[3]
      • Tứ tử: Phụ quốc Tướng quân Thượng Lộc (尚禄), sau cáo thối.
      • Ngũ tử: Phụ quốc Tướng quân Mã Tích Lễ (玛锡礼, 1666 - 1741), mẹ là Qua Nhĩ Giai thị. Năm 1670 phong Tam đẳng Phụ quốc Tướng quân.
        • Thê thiếp:
          • Đích thê: Quách Lạc La thị, con gái Xa Nhĩ Môn (车尔门).
          • Kế thê: Quách Lạc La thị, con gái Xa Nhĩ Môn (车尔门).
          • 3 vị thiếp thất.
        • Con nuôi: Phụng quốc Tướng quân Đức Mẫn (德敏, 1719 - 1809), con trai của Trấn quốc Tướng quân Phật Cách, trở thành con thừa tự của Mã Tích Lễ lúc 6 tháng. Hàng tập Tam đẳng Phụng quốc Tướng quân (1739), thụ phong Tam đẳng Thị vệ (1740) sau cáo thối (1744). Năm 1749 cáo thối Phụng quốc Tướng quân. Có 12 con trai, 5 người mất sớm.
      • Lục tử: Thượng Tân Bảo (尚新保).
      • Thất tử: Phụng quốc Tướng quân Tát Mục Đương (萨穆当).

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ “Thanh sử cảo, quyển 217”. 镇国勤敏公阿拜, 太祖第三子. 天命十年, 偕塔拜, 巴布泰伐东海北路呼尔哈部, 俘千五百户, 还, 太祖出城迎劳, 授牛录章京. 天聪八年, 授梅勒额真. 崇德三年, 授吏部承政. 四年, 封三等镇国将军. 六年, 驻防锦州. 八年, 以老, 罢承政. 顺治四年, 进二等. 五年二月, 卒. 十年, 追封谥. 阿拜子有爵者三: 巩安, 袭三等镇国将军, 进辅国公; 乾图, 灏善封辅国公, 乾图谥介直. 巩安, 灏善之後, 皆以奉恩将军世袭. 
  2. ^ a ă â b c d đ 《愛新覺羅宗譜》乙冊,3999-4000頁。
  3. ^ a ă 宗学总管是官名. 清代宗学属官. 左翼, 右翼宗学各设总管二人 (食七品俸), 副管八人 (食八品俸), 均由宗人府拣选宗室中分尊年长者引见补授. 于宗学轮流值日, 管理日常事务. 五年期满, 果有成就, 系闲散宗室以宗人府主事补用, 系将军等品级则量加议叙. 又, 盛京宗学总管二人, 并兼管盛京觉罗学事务

Tham khảoSửa đổi

  • "《清皇室四谱》Thanh hoàng thất tứ phổ"
  • Thanh sử cảo》Liệt truyện tứ, Chư vương tam
  • Thanh sử cảo》Biểu nhị, Hoàng tử thế biểu nhị