Mở trình đơn chính

Chương trình đánh giá học sinh quốc tế

Chương trình Đánh giá học sinh quốc tế (Programme for International Student Assessment - PISA) là một khảo sát quốc tế do tổ chức OECD (Organisation for Economic Co-operation and Development) đề xuất, để đánh giá khả năng của học sinh 15 tuổi của các nước và vùng lãnh thổ trong và ngoài OECD, về toán, khoa học và đọc hiểu. Chương trình được thực hiện từ năm 2000 và cứ 3 năm lặp lại một lần. Mục đích của chương trình là cung cấp các dữ liệu so sánh nhằm giúp các nước cải thiện các chính sách và kết quả giáo dục. Chương trình hướng vào việc đo lường sự hiểu biết và khả năng giải quyết vấn đề trong cuộc sống hàng ngày của học sinh. Vào năm 2015 có 72 nước và vùng lãnh thổ, với tổng số khoảng 540.000 học sinh tham gia chương trình. PISA cũng khảo sát các mối quan hệ giữa việc học của học sinh và các yếu tố khác để hiểu rõ sự khác biệt về kết quả trong mỗi nước và giữa các nước.

Nội dung đánh giáSửa đổi

PISA kiểm tra mức hiểu biết và vận dụng trong ba lĩnh vực: đọc hiểu, toán và khoa học. PISA không kiểm tra kiến thức thu được tại trường học mà xem xét năng lực phổ thông thực tế của học sinh. Bài thi chú trọng đánh giá khả năng học sinh vận dụng kiến thức và kỹ năng của mình khi đối mặt với những tình huống và thử thách liên quan đến kiến thức và kỹ năng đó. Về toán học, đánh giá khả năng học sinh vận dụng hiểu biết toán học của họ để giải quyết các vấn đề được đặt ra trong bối cảnh thực tế. Về khoa học, kiểm tra khả năng vận dụng những kiến thức khoa học để hiểu và giải thích các tình huống toán học. Về đọc hiểu, đo lường mực độ vận dụng kiến thức và kỹ năng đọc để hiểu ý nghĩa của những thứ họ đọc được qua nhiều loại tài liệu khác nhau mà họ gặp trong cuộc sống. Tuy mọi lần đánh giá đều được thực hiện trên cả ba lĩnh vực, nhưng mỗi lần có tập trung nhiều hơn vào một lĩnh vực và sẽ thay đổi tuần tự (năm 2000: đọc hiểu; 2003: Toán; 2006: Khoa học; 2009: Đọc hiểu; 2012: Toán; 2015: Khoa học …).

Tổ chức đánh giáSửa đổi

PISA do OECD đề xuất, bảo trợ và quản lý, các thành viên tham gia đóng góp kinh phí.

Lấy mẫuSửa đổi

Học sinh tham gia kiểm tra nằm trong độ tuổi từ 15 năm 3 tháng đến 16 năm 2 tháng tính đến ngày kiểm tra, không cần quan tâm đến học lớp mấy, tuy nhiên chỉ đánh giá học sinh học ở trường, không phải tự học tại nhà. Theo yêu cầu đó, mỗi quốc gia phải lấy một mẫu ít nhất 5000 học sinh tham gia. Việc lấy mẫu được thực hiện bằng phương pháp khoa học để đảm bảo tính đại diện cho cả nước (hoặc vùng lãnh thổ) tham gia, và được quản lý rất nghiêm ngặt bởi tổ chức quản lý PISA của OECD. Đối với vài nước có học sinh ít hơn ngưỡng đó (Bỉ, Brussel) thì việc kiểm tra được thực hiện trên toàn bộ học sinh. Một số nước lấy các mẫu lớn hơn so với yêu cầu để có thể so sánh kết quả giữa các vùng trong nước với nhau.

Bài kiểm tra và bảng hỏiSửa đổi

Mỗi học sinh làm một bài kiểm tra trong 2 giờ. Một phần là các câu hỏi nhiều lựa chọn, một phần khác là các câu hỏi mà học sinh tự tạo câu trả lời, nhưng mỗi học sinh không phải được kiểm tra mọi thành phần của bài thi như nhau. Các bài kiểm tra được dịch sang bản ngữ của các nước tham gia và thẩm định rất cẩn thận. Sau khi làm bài kiểm tra về kiến thức, các thí sinh phải trả lời một bảng hỏi (questionnaire) trong gần một giờ về sở thích, động lực và hoàn cảnh gia đình. Hiệu trưởng nhà trường trả lời bảng hỏi mô tả về học sinh, giáo viên, tài chính v.v.. của trường. PISA được thực hiện phần lớn bằng bài thi trên giấy. Ở một số nước PISA bắt đầu thử nghiệm sử dụng kiểm tra theo phương pháp đáp ứng nhờ máy tính (computer adaptive testing).

Phân tích dữ liệu, kết nối và so bằngSửa đổi

Dữ liệu từ các bài làm và phiếu kiểm tra của học sinh và hiệu trưởng được nhập vào máy tính, sau đó được tính toán và phân tích. Công cụ phân tích là các phần mềm tính toán dựa trên mô hình Rasch và Lý thuyết Ứng đáp Câu hỏi [1]. Các kết quả kiểm tra từ các nước khác nhau được kết nối (linking), so bằng (equating) đưa lên cùng một thang đo (scaling) để có thể so sánh với nhau. Thang điểm cho các lĩnh vực (toán, đọc hiểu và khoa học) được quy định đặt giá trị trung bình ở 500 điểm và độ lệch tiêu chuẩn bằng 100 điểm.[1] Các bảng hỏi cũng được phân tích, kết nối với kết quả kiểm tra kiến thức về các lĩnh vực để rút ra các nhận xét và đánh giá liên quan đến chính sách và hiệu quả giáo dục.

Kết quảSửa đổi

Kết quả hàng năm của PISA thường được công bố vào tháng 12 của năm kế tiếp, đăng ở trang web http://www.oecd.org.pisa/, dưới dạng các báo cáo, trong các báo cáo có các bảng sắp xếp điểm trung bình của học sinh từng nước theo các lĩnh vực kiểm tra. OECD không đưa ra điểm tổng hợp của 3 lĩnh vực. Thông thường có thể xem sự sai khác về điểm vào khoảng 9 điểm là có ý nghĩa thống kê (statistically significant). Dưới đây là kết quả ngắn gọn của PISA 2015 được công bố vào ngày 6 tháng 12 năm 2016 dưới dạng bảng xếp thứ tự các nước và vùng lãnh thổ theo từng lĩnh vực đánh giá. Bảng dưới đây được trích từ [PISA, Wikipedia,English]. Từ bảng kết quả có thể thấy Singapore là nước mà kết quả kiểm tra học sinh ở cả ba lĩnh vực đều đứng đầu bảng.

Toán học Khoa học Đọc hiểu
1   Singapore 564
2   Hồng Kông 548
3   Ma Cao 544
4   Đài Loan 542
5   Nhật Bản 532
6   Trung Quốc 531
7   Hàn Quốc 524
8   Thụy Sĩ 521
9   Estonia 520
10   Canada 516
11   Hà Lan 512
12   Đan Mạch 511
13   Phần Lan 511
14   Slovenia 510
15   Bỉ 507
16   Đức 506
17   Ba Lan 504
18   Ireland 504
19   Na Uy 502
20   Áo 497
21   New Zealand 495
22   Việt Nam 495
23   Nga 494
24   Thụy Điển 494
25   Úc 494
26   Pháp 493
27   Anh Quốc 492
28   Cộng hòa Séc 492
29   Bồ Đào Nha 492
30   Ý 490
31   Iceland 488
32   Tây Ban Nha 486
33   Luxembourg 486
34   Latvia 482
35   Malta 479
36   Litva 478
37   Hungary 477
38   Slovakia 475
39   Israel 470
40   Hoa Kỳ 470
41   Croatia 464
42   Kazakhstan 460
43   Hy Lạp 454
44   Malaysia 446
45   România 444
46   Bulgaria 441
47   Síp 437
48   Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất 427
49   Chile 423
50   Thổ Nhĩ Kỳ 420
51   Moldova 420
52   Uruguay 418
53   Montenegro 418
54   Trinidad và Tobago 417
55   Thái Lan 415
56   Albania 413
57   Argentina 409
58   México 408
59   Gruzia 404
60   Qatar 402
61   Costa Rica 400
62   Liban 396
63   Colombia 390
64   Peru 387
65   Indonesia 386
66   Jordan 380
67   Brasil 377
68   Macedonia 371
69   Tunisia 367
70   Kosovo 362
71   Algérie 360
72   Cộng hòa Dominica 328
1   Singapore 556
2   Nhật Bản 538
3   Estonia 534
4   Đài Loan 532
5   Phần Lan 531
6   Ma Cao 529
7   Canada 528
8   Việt Nam 525
9   Hồng Kông 523
10   Trung Quốc 518
11   Hàn Quốc 516
12   New Zealand 513
13   Slovenia 513
14   Úc 510
15   Anh Quốc 509
16   Đức 509
17   Hà Lan 509
18   Thụy Sĩ 506
19   Ireland 503
20   Bỉ 502
21   Đan Mạch 502
22   Ba Lan 501
23   Bồ Đào Nha 501
24   Na Uy 498
25   Hoa Kỳ 496
26   Áo 495
27   Pháp 495
28   Thụy Điển 493
29   Cộng hòa Séc 493
30   Tây Ban Nha 493
31   Latvia 490
32   Nga 487
33   Luxembourg 483
34   Ý 481
35   Hungary 477
36   Litva 475
37   Croatia 475
38   Iceland 473
39   Israel 467
40   Malta 465
41   Slovakia 461
42   Kazakhstan 456
43   Hy Lạp 455
44   Chile 447
45   Bulgaria 446
46   Malaysia 443
47   Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất 437
48   Uruguay 435
49   România 435
50   Síp 433
51   Argentina 432
52   Moldova 428
53   Albania 427
54   Thổ Nhĩ Kỳ 425
55   Trinidad và Tobago 425
56   Thái Lan 421
57   Costa Rica 420
58   Qatar 418
59   Colombia 416
60   México 404
61   Montenegro 411
62   Gruzia 411
63   Jordan 409
64   Indonesia 403
65   Brasil 401
66   Peru 397
67   Liban 386
68   Tunisia 386
69   Macedonia 384
70   Kosovo 378
71   Algérie 376
72   Cộng hòa Dominica 332
1   Singapore 535
2   Hồng Kông 527
3   Canada 527
4   Phần Lan 526
5   Ireland 521
6   Estonia 519
7   Hàn Quốc 517
8   Nhật Bản 516
9   Na Uy 513
10   New Zealand 509
11   Đức 509
12   Ma Cao 509
13   Ba Lan 506
14   Slovenia 505
15   Hà Lan 503
16   Úc 503
17   Thụy Điển 500
18   Đan Mạch 500
19   Pháp 499
20   Bỉ 499
21   Bồ Đào Nha 498
22   Anh Quốc 498
23   Đài Loan 497
24   Hoa Kỳ 497
25   Tây Ban Nha 496
26   Nga 495
27   Trung Quốc 494
28   Thụy Sĩ 492
29   Latvia 488
30   Cộng hòa Séc 487
31   Croatia 487
32   Việt Nam 487
33   Áo 485
34   Ý 485
35   Iceland 482
36   Luxembourg 481
37   Israel 479
38   Litva 472
39   Hungary 470
40   Hy Lạp 467
41   Chile 459
42   Slovakia 453
43   Malta 447
44   Síp 443
45   Uruguay 437
46   România 434
47   Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất 434
48   Bulgaria 432
49   Malaysia 431
50   Thổ Nhĩ Kỳ 428
51   Costa Rica 427
52   Trinidad và Tobago 427
53   Kazakhstan 427
54   Montenegro 427
55   Argentina 425
56   Colombia 425
57   México 423
58   Moldova 416
59   Thái Lan 409
60   Jordan 408
61   Brasil 407
62   Albania 405
63   Qatar 402
64   Gruzia 401
65   Peru 398
66   Indonesia 397
67   Tunisia 361
68   Cộng hòa Dominica 358
69   Macedonia 352
70   Algérie 350
71   Kosovo 347
72   Liban 347

Việt Nam tham gia PISASửa đổi

Viêt Nam bắt đầu tham gia PISA từ đợt đánh giá năm 2012, theo mẫu học sinh được lấy trong cả nước. Việc chọn mẫu rất nghiêm ngặt, theo phương pháp chọn ngẫu nhiên nhờ phần mềm do ban quản lý PISA của OECD cung cấp và giám sát. Kết quả của học sinh Việt Nam qua 2 lần tham gia chương trình PISA được biểu diễn ở bảng sau (trong các ô số trước là thứ hạng, số sau là điểm số):

Năm Toán Khoa học Đọc hiểu
2012 17 ↔ 511 8 ↔ 528 19 ↔ 508
2015 22 ↔ 495 8 ↔ 525 32 ↔ 487

Để hiểu rõ hơn kết quả trên, có thể xem điểm trung bình các lĩnh vực đánh giá của khối các nước OECD ở bảng sau:

Năm Toán Khoa học Đọc hiểu
2012 494 501 496
2015 490 493 493

Như vậy, kết quả kiểm tra của Việt Nam ở cả ba lĩnh vực được đánh giá, trừ lĩnh vực đọc hiểu trong kỳ 2015, đều cao hơn giá trị trung bình của các nước OECD.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Lâm Quang Thiệp (2011). Đo lường trong Giáo dục – Lý thuyết và ứng dụng. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội