Mở trình đơn chính

Cuộc xâm lược Hy Lạp lần thứ hai của Ba Tư, một phần của cuộc Chiến tranh Hy Lạp-Ba Tư, là chiến dịch tấn công đánh chiếm Hy Lạp do vua Ba Tư Xerxes I chỉ huy trong giai đoạn 480–479 TCN. Cuộc xâm lược này là sự nối tiếp của cuộc xâm lược lần thứ nhất diễn ra vào giai đoạn 492–490 TCN bởi vua Darius I, chấm dứt sau thất bại của quân Ba Tư tại Trận Marathon. Sau cái chết của vua Darius, con trai ông là Xerxes đã dành nhiều thời gian chuẩn bị và tập hợp một lưc lượng hải quân và lục quân khổng lồ cho cuộc xâm lược lần hai. Về phía Hy Lạp, hai thành bang AthensSparta chỉ huy liên quân gồm 70 thành bang. Tuy nhiên, hầu hết các thành bang Hy Lạp lại giữ vị trí trung lập hoặc đầu hàng Xerxes.

Ba Tư xâm lược Hy Lạp lần thứ hai
Một phần của Chiến tranh Hy Lạp-Ba Tư
Battle of Thermopylae and movements to Salamis, 480 BC.gif
Bản đồ thể hiện diễn biến chính khi Ba Tư xâm lược Hy Lạp lần thứ hai
Thời gian 480 TCN–479 TCN
Địa điểm Đại lục Hy Lạp, quần đảo Aegean và Ionia
Kết quả Hy Lạp chiến thắng
Nguy cơ Ba Tư xâm lược trở lại giảm đi nhiều
Tham chiến
Các thành bang Hy Lạp bao gồm AthensSparta Đế quốc Ba Tư
Chỉ huy và lãnh đạo
Themistocles
Eurybiades
Leonidas I 
Pausanias
Leotychides
Xerxes I
Mardonius 
Hydarnes
Artemisia I của Caria

Cuộc xâm lược bắt đầu vào mùa xuân năm 480 TCN, khi quân đội Ba Tư vượt Hellespont và hành quân xuyên qua ThraceMacedon đến Thessaly. Cuộc tiến quân của quân ba Tư bị chặn lại tại đèo Thermopylae bởi một lực lượng Liên quân nhỏ, chỉ huy bởi Vua Leonidas I của Sparta; cùng lúc đó, hạm đội Ba Tư cũng bị chặn lại trên biển tại eo biển Artemisium. Trong Trận Thermopylae, dù bị áp đảo về quân số, Liên quân đã cầm chân được quân Ba Tư trong bảy ngày trước khi quân ba Tư được chỉ con đường trên núi đã vòng ra phía sau quân Hy Lạp. Leonidas tử trận cùng với nhóm lính bọc hậu ở lại. Sau đó, quân ba Tư chiếm được hai vùng BoeotiaAttica trước khi đến Athens và đốt cháy thành phố này. Tuy nhiên, một lực lượng Liên quân lớn hơn đã củng cố phòng thủ tại Eo đất Corinth, bảo vệ Peloponnesus. Cả hai phe sau đó chuyển sang tìm kiếm một chiến thắng trên biển quyết định cuộc chiến. Tại Salamis, vị tướng Athens Themistocles đã dụ được hải quân Ba Trong khi đó, hạm đội Liên quân sau hai ngày đẩy lùi được cuộc tấn công của Ba Tư trong Trận Artemisium đã rút lui về Salamis sau khi nghe tin về chiến bại tại Thermopylae. Tư vào eo biển Salamis chật hẹp, nơi mà các tàu chiến Ba Tư với số lượng lớn trở nên hỗn loạn và do đó đã bị đánh bại hoàn toàn. Chiến thắng tại Salamis khiến cho kế hoạch kết thúc nhanh cuộc xâm lược của Xerxes phá sản và vị vua Ba Tư buộc phải trở về châu Á, để lại vị tướng Mardonius và lực lượng tinh nhuệ nhất cho việc hoàn tất cuộc xâm lược.

Mùa xuân tiếp theo, Liên quân tập hợp một lực lượng bộ binh hạng nặng (hoplite) lớn chưa từng có để chạm trán với Mardonius. Trong Trận Plataea, bộ binh Hy Lạp đã một lần nữa thể hiện sức mạnh vượt trội khi làm thiệt hại nặng quân ba Tư và giết chết Mardonius. Cùng ngày, hải quân của Liên quân vượt Biển Aegean để tiêu diệt phần còn lại của hải quân Ba Tư trong Trận Mycale. Cuộc xâm lược của Ba Tư chính thức chấm dứt sau hai thất bại trên đồng thời quyền lực của Ba Tư tại vùng Aegean cũng bị sứt mẻ nghiêm trọng. Hy Lạp tiến hành cuộc phản công đẩy lùi quân Ba Tư ra khỏi châu Âu, quần đảo Aegean và Ionia trước khi chiến tranh chính thức kết thúc vào năm 479 TCN.

Sử liệuSửa đổi

Bài chi tiết: Herodotus

Sử gia Hy Lạp Herodotus, người được gọi "Ông tổ Sử học"[1] là tác giả của sử liệu chính cho việc nghiên cứu cuộc chiến tranh Hy Lạp-Ba Tư. Ông sinh năm 484 TCN tại Halicarnassus, Tiểu Á. Ông viết tác phẩm "Lịch sử" (Tiếng Hy Lạp:Historia) vào khoảng năm 440-430 TCN, với nỗ lực truy nguyên nguồn gốc cuộc Chiến tranh Hy Lạp – Ba Tư, vào thời điểm đó vẫn là một sự kiện lịch sử đương đại (cuộc chiến kết thúc hoàn toàn vào năm 450 TCN).[2] Cách tiếp cận của Herodotus trong tác phẩm này hoàn toàn mới mẻ, và ít nhất xã hội phương Tây đã xem ông như người tạo ra "sử học".[2] Holland nói: "Lần đầu tiên một sử gia tự mình truy nguyên nguồn gốc của một cuộc xung đột không quá xa về mặt thời gian, nên nguồn gốc ấy không mang tính chất huyền thoại, hay ý chí hoặc ý tưởng thần linh hay định mệnh con người mà là sự giải thích mang tính cá nhân của sử gia đó."[2]

Nhiều sử gia cổ đại về sau, mặc dù nối tiếp việc nghiên cứu của Herodotus nhưng lại chỉ trích ông, người đầu tiên là Thucydides.[3][4] Tuy nhiên, Thucydides lại chọn viết tiếp từ sự kiện mà Herodotus kết thúc (tại Cuộc vây hãm Sestos) và điều này cho thấy tài liệu lịch sử của Herodotus đủ chính xác để không cần viết lại hoặc sửa chữa.[4] Trong khi đó, Plutarch chỉ trích Herodotus trong bài luận của mình "Gian ý của Herodotus" là một người "Philobarbaros" (thích bọn rợ) vì đã không ủng hộ đủ cho Hy Lạp nhưng điều này cũng cho thấy Herodotus có thể là một sử gia công bằng.[5] Những quan điểm tiêu cực về Herodotus kéo dài đện tận thời kỳ Phục Hưng mặc dù vậy tác phẩm của ông vẫn được đọc nhiều.[1] Phải đến thế kỷ XIX danh tiếng của ông mới được phục hồi đáng kể bằng các phát hiện khảo cổ học chứng minh những gì ông đã thuật lại.[6] Quan điểm hiện đại nhìn nhận Herodotus đã có một công trình nghiên cứu đáng chú ý trong tác phẩm Historia của mình, mặc dù một số thông tin chi tiết (đặc biệt là quân số và ngày tháng) nên được xem xét với thái độ hoài nghi.[6] Vẫn có nhiều sử gia tin rằng Herodotus đã đưa nhiều chi tiết hư cấu trong những câu chuyện của mình.[7]

Sử gia Diodorus Siculus, trong tác phẩm Bibliotheca Historica viết vào thế kỷ I TCN, cũng cung cấp nhiều thông tin về cuộc Chiến tranh Ba Tư – Hy Lạp, tham khảo một phần từ sử gia Hy Lạp Ephorus. Các thông tin ở đây có nhiều tương đồng với tác phẩm của Herodotus.[8] Cuộc chiến tranh Hy Lạp-Ba Tư cũng được mô tả chi tiết hơn bởi một số nhà sử học xưa bao gồm Plutarch, Ctesias và được ám chỉ bởi các tác giả khác, chẳng hạn như nhà viết kịch Aeschylus. Nhiều bằng chứng khảo cổ, chẳng hạn như các cột Serpent cũng đã xác nhận nhiều chi tiết cụ thể mà Herodotus đã từng đưa ra trong các tác phẩm của mình.[9]

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a ă David Pipes. “Herodotus: Father of History, Father of Lies”. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2008. 
  2. ^ a ă â Holland 2006, tr. xvixvii
  3. ^ Thucydides, History of the Peloponnesian War, e.g. I, 22
  4. ^ a ă Finley 1972, tr. 15
  5. ^ Holland 2006, tr. xxiv
  6. ^ a ă Holland 2006, tr. 377
  7. ^ Fehling 1989, tr. 1–277
  8. ^ Diodorus Siculus, Bibliotheca Historica, XI, 28–34
  9. ^ Note to Herodotus IX, 81

Tham khảoSửa đổi

Sử liệu cổ đạiSửa đổi

Sử liệu hiện đạiSửa đổi

  • Holland, Tom (2006). Persian Fire: The First World Empire and the Battle for the West. Abacus, ISBN 0-385-51311-9.
  • Green, Peter (1996). The Greco-Persian Wars. University of California Press.
  • de Souza, Philip (2003). The Greek and Persian Wars, 499–386 BC. Osprey Publishing, (ISBN 1-84176-358-6)
  • Lazenby, JF (1993). The Defence of Greece 490–479 BC. Aris & Phillips Ltd., (ISBN 0-85668-591-7)
  • Burn, A.R., Persia and the Greeks in The Cambridge History of Iran, Volume 2: The Median and Achaemenid Periods, Ilya Gershevitch, ed. (1985). Cambridge University Press.
  • Sekunda, N & Chew, S (1992). The Persian Army (560–330 BC), Elite series, Osprey Publishing.
  • Bradford, E. Thermopylae: The Battle for the West. Da Capo Press, ISBN 0-306-81360-2.
  • Strauss, Barry. The Battle of Salamis: The Naval Encounter That Saved Greece—and Western Civilization. New York: Simon and Schuster, 2004 (hardcover, ISBN 0-7432-4450-8; paperback, ISBN 0-7432-4451-6).
  • Bury, J. B. & Meiggs, R. (2000). A History of Greece to the Death of Alexander the Great (4th Revised Edition). Palgrave Macmillan.
  • Grote, G. A History of Greece: Part II
  • Maurice, F (1930). The size of the army of Xerxes in the invasion of Greece 480 BC. Journal of Hellenic Studies v.50, pp115–128.
  • Delbrück, Hans (1920). History of the Art of War. University of Nebraska Press. Reprint edition, 1990. Translated by Walter, J. Renfroe. 4 Volumes.
  • Warry, J. (1998). Warfare in the Classical World. ISBN 1-84065-004-4.
  • Engels, DW. (1978). Alexander the Great and the Logistics of the Macedonian Army. Berkeley/Los Angeles/London.
  • Scott, JA (1915). "Thoughts on the Reliability of Classical Writers, with Especial Reference to the Size of the Army of Xerxes", The Classical Journal 10 (9).
  • von Fischer, R. Das Zahlenproblem in Perserkriege 480–479 v. Chr. Klio, N. F., vol. VII.
  • Cohen, R (1934). La Grece et l'hellenization du monde antique
  • Tarn, WW. (1908). The Fleet of Xerxes, The Journal of Hellenic Studies v.28
  • Obst, E. (1914). Der Feldzug des Xerxes. Leipzig
  • Munro, JAR (1929). Cambridge Ancient History vol. IV
  • Köster, AJ (1934). Studien zur Geschichte des Antikes Seewesens. Klio Belheft 32
  • Οι δυνάμεις των Ελλήνων και των Περσών (The forces of the Greeks and the Persians), E Istorika no.164 ngày 19 tháng 10 năm 2002.
  • Papademetriou, K (2005). Περσικό Πεζικό: Η δύναμη που κατέκτησε τη νοτιοδυτική Ασία (Persian Infantry: The force that conquered southwest Asia), Panzer magazine, Issue 22 September–October 2005, Periscopio editions Athens.
  • Kampouris, MΗ (2000). στρατηγική διάσταση των Μηδικών Πολέμων (The strategic dimension of the Persian Wars), Πόλεμος και Ιστορία (War and History) Magazine no.34, October 2000.
  • Fehling, D (1989). Herodotus and His "Sources": Citation, Invention, and Narrative Art. Translated by J.G. Howie. Leeds: Francis Cairns.
  • Finley, Moses (1972). “Introduction”. Thucydides – History of the Peloponnesian War (translated by Rex Warner). Penguin. ISBN 0-14-044039-9.