Hạ Hầu Uy

Quan viên Tào Ngụy thời Tam Quốc

Hạ Hầu Uy (tiếng Trung: 夏侯威; bính âm: Xiahou Wei; 201? – 249?), tên tựQuý Quyền (季權), là quan viên Tào Ngụy thời Tam Quốc trong lịch sử Trung Quốc.

Hạ Hầu Uy
Tên
Tự Quý Quyền (季權)
Thông tin chung
Sinh 201?
Mất 249?
Lạc Dương, Hà Nam
Thụy hiệu Mục hầu

Phục vụ Tào NgụySửa đổi

Hạ Hầu Uy là người huyện Tiếu, nước Bái, Dự Châu[a], là con trai thứ tư của danh tướng Hạ Hầu Uyên với em gái của Đinh phu nhân; là em trai của Hạ Hầu Hành, Hạ Hầu Xứng, Hạ Hầu Bá. Hạ Hầu Uy thời trẻ có phong thái nghĩa hiệp, có năng lực nhìn người. Quan hệ của Uy với công tử Tào Phi, Tào Thực vô cùng tốt đẹp.[1] Có một lần, Tào Thực theo quân đánh trận trở về, Hạ Hạ Uy từ huyện Tiếu đến gặp Tào Thực, rồi tiễn đến tận Nghiệp Thành. Tào Thực cảm động chảy nước mắt, làm bài thơ Ly hữu khi chia tay.[2]

Năm 211, Tào Phi được bổ nhiệm làm Ngũ quan Trung lang tướng, cho mở yến hội, mời Chu Kiến Bình đến đoán thọ cho bản thân và mọi người trong tiệc. Kiến Bình xem tướng cho Hạ Hầu Uy, nói rằng: Ngài năm bốn mươi chín tuổi làm Châu mục, nhưng sẽ có hạn, nếu qua được hạn, có thể thọ tới bảy mươi, ngôi vị đến chức Công phụ[b].[3][4]

Thời Tào Ngụy, Hạ Hầu Uy gặp gỡ con cháu Thái Sơn Dương thị là Dương Hỗ. Uy thấy Hỗ dung mạo không tầm thường, lại bác học, có tài viết văn, giỏi ăn nói, nên vô cùng thưởng thức. Hạ Hầu Uy bèn làm mối, gả con gái của anh trai Hạ Hầu Bá cho Dương Hỗ. Quả nhiên sau này Dương Hỗ trở thành danh tướng, được phối thờ trong Võ miếu.[5]

Hạ Hầu Uy làm quan đến chức Thứ sử Kinh Châu, rồi Thứ sử Duyện Châu khi được 49 tuổi.[1] Thượng tuần tháng Chạp năm đó, Uy bị ốm, nhớ đến lời của Chu Kiến Bình, cho là bản thân sắp tới số, bèn soạn sẵn di lệnh cùng đồ lễ. Đến hạ tuần cùng tháng thì bệnh tình chuyển biến tốt, sắp khỏi hẳn. Quá trưa ngày 30, Hạ Hầu Uy cho gọi Kỷ cương Đại lại[c] bày tiệc rượu, mời các quan viên trong châu đến dự. Trong tiệc, Uy nói: Bệnh của ta dần dần bình phục, sáng mai gà gáy, ta được năm mươi tuổi, lời cảnh báo của Kiến Bình, tất sai thật rồi.[4][7]

Sau khi tan tiệc, Hạ Hầu Uy bỗng nhắm hai mắt. Bệnh tái phát đến nửa đêm thì chết.[4] Triều đình Tào Ngụy truy thụy là Mục hầu[d].[8]

Gia đìnhSửa đổi

Con trai:

Cháu:

Chắt:

  • Hạ Hầu Thừa (夏侯承; ? – ?), tự Văn Tử (文子), con trai của Hạ Hầu Thuần. Thời Ngũ Hồ loạn Hoa, gia tộc Hạ Hầu hầu như bị diệt, chỉ có Hạ Hầu Thừa chạy thoát xuống phía nam nương nhờ anh họ Tư Mã Duệ, nhận chức An Đông quân sự, sau dời Thái thú Nam Bình.[8] Năm 322, Vương Đôn làm binh biến. Hạ Hầu Thừa cùng Thứ sử Lương Châu Cam Trác, Ba Đông Giám quân Liễu Thuần[e], Thái thú Nghi Đô Đàm Cai truyền hịch thảo phạt Vương Đôn. Do Cam Trác không chịu xuất quân, nên quân Tấn thua trận.[16] Vương Đôn khống chế triều đình, muốn giết Hạ Hầu Thừa, nhưng anh họ Thừa là Vương Dị[f] cầu tình nên bảo vệ được tính mạng. Cuối cùng, Hạ Hầu Thừa làm đến chức Tán kỵ Thường thị.[8]

Trong văn hóaSửa đổi

Trong tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Hạ Hầu Uy xuất hiện ở hồi 102, là con trai thứ hai của Hạ Hầu Uyên (thay vì con thứ tư), làm tướng lĩnh Tào Ngụy. Năm 234, Thừa tướng Thục Hán Gia Cát Lượng ra quân Kỳ Sơn, khiến Ngụy chủ Tào Duệ vô cùng lo lắng, triệu Tư Mã Ý hỏi kế. Tư Mã Ý tiến cử bốn anh em Hạ Hầu Bá, Hạ Hầu Uy, Hạ Hầu Huệ, Hạ Hầu Hòa. Hạ Hầu Uy giỏi cung ngựa, cùng anh trai Bá được phong làm tả hữu tiên phong, cho quân dựng trại ở Vị Tân. Gia Cát Lượng dự định nghi binh đánh Bắc Nguyên rồi cho quân vượt Vị Thủy chiếm mé nam sông. Tư Mã Ý đoán được, bố trí các tướng mai phục. Hạ Hầu Bá, Hạ Hầu Uy dẫn quân lên núi Nam Sơn chờ quân Thục hỗn loạn thì ra đánh.[17]

Năm 238, Tư Mã Ý dẫn quân bình định Công Tôn Uyên. Hạ Hầu Bá, Hạ Hầu Uy mai phục ở Lương Thủy, đánh bại quân Liêu do Ti Diễn, Dương Tộ chỉ huy. Sau Hạ Hầu Uy cùng Hạ Hầu Bá, Hồ Tuân, Trương Hổ, Nhạc Lâm tham gia bao vây, bức cha con Công Tôn Uyên đầu hàng.[18]

Tham khảoSửa đổi

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ Nay là Bạc Châu, An Huy.
  2. ^ Công phụ (公輔), chỉ Tam công, Tứ phụ, là những chức quan hàng Tể tướng.
  3. ^ Kỷ cương Đại lại (紀綱大吏) có thể là chức quan nhỏ coi giữ kỷ cương trong sở quan của châu.[6]
  4. ^ Chưa rõ Hạ Hầu Uy được phong tước gì.
  5. ^ Liễu Thuần (柳純), người Thành Đô, quận Thục, con trai của Liễu Phù (bạn cùng tộc của tướng Liễu Ẩn nhà Thục Hán).[15]
  6. ^ Tấn thư chép người cầu tình là Vương Cảo (王暠), nhưng không tìm thấy ghi chép nào khác về nhân vật này.[8] Anh họ của Hạ Hầu Thừa hẳn là Vương Dị, con của Vương Chính và Hạ Hầu thị.

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a ă â b c d Trần Thọ, Bùi Tùng Chi chú, Tam quốc chí, Ngụy thư, quyển 9, Chư Tào chư Hạ Hầu truyện.
  2. ^ Tào Thực, Tào Tử Kiến tập, Quyển 5.
  3. ^ Bùi Thông, tr. 244, Tập V
  4. ^ a ă â Trần Thọ, Bùi Tùng Chi chú, Tam quốc chí, Ngụy thư, quyển 29, Phương kỹ truyện.
  5. ^ Phòng Huyền Linh, Tấn thư, liệt truyện, quyển 34, Dương Hỗ Đỗ Dự truyện.
  6. ^ Bùi Thông, tr. 245, Tập V
  7. ^ Bùi Thông, tr. 246, Tập V
  8. ^ a ă â b c d đ Phòng Huyền Linh, Tấn thư, liệt truyện, quyển 55, Hạ Hầu Trạm Phan Nhạc Trương Tái truyện.
  9. ^ Phòng Huyền Linh, Tấn thư, liệt truyện, quyển 47, Phó Huyền truyện.
  10. ^ Phòng Huyền Linh, Tấn thư, liệt truyện, quyển 58, Chu Xử Chu Phóng truyện.
  11. ^ a ă Phòng Huyền Linh, Tấn thư, liệt truyện, quyển 31, Hậu phi truyện (thượng).
  12. ^ Phòng Huyền Linh, Tấn thư, liệt truyện, quyển 76, Vương Thư Vương Dị Ngu Đàm Cố Chúng Trương Khải truyện.
  13. ^ Phòng Huyền Linh, Tấn thư, liệt truyện, quyển 80, Vương Hi Chi truyện.
  14. ^ Phòng Huyền Linh, Tấn thư, chí, quyển 20, Lễ chí (trung).
  15. ^ Thường Cừ, Hoa Dương quốc chí, quyển 11, Hậu hiền chí.
  16. ^ Phòng Huyền Linh, Tấn thư, liệt truyện, quyển 70, Ưng Chiêm Cam Trác Biện Khổn Lưu Siêu Chung Nhã truyện.
  17. ^ La Quán Trung, Tam quốc diễn nghĩa, hồi 102, Tư Mã Ý chiếm giữ Bắc Nguyên, Vị Kiều; Gia Cát Lượng chế ra trâu gỗ, ngựa máy.
  18. ^ La Quán Trung, Tam quốc diễn nghĩa, hồi 106, Công Tôn Uyên thua trận, chết ở Tương Bình; Tư Mã Ý giả ốm, lừa được Tào Sảng.