Hoa mại nương (chữ Hán: 花賣娘) là dụng ngữ xuất hiện khoảng thời Lê ở Việt Nam để mô tả phường gái hành nghề bán dâm và đôi khi xướng ca.

Một số bức họa cổ khắc họa tầng lớp Hoa nương ở Việt Nam

Lịch sửSửa đổi

Hoa mại nương còn có nhiều cách gọi tương đương như Hoa nương (花娘), Nàng hoaẢ hoaGái bán hoaGái hoaCái hoaCô hoaCon hoa... hoặc gọn nhất là Đĩ (妓/𡚦). Thời hiện đại, giới đĩ thường bị đồng nhất ả đào, nhưng trong thực tế là hai nghề riêng, có giới luật khắt khe và rất khác biệt.

Gái đĩ thời Lý-Trần, hiện chưa có tư liệu đề cập. Riêng thời Lê, theo khảo cứu của tác giả Trần Quang Đức, đĩ thường tập trung ở kinh thành, "chỗ nào cũng có", đặc biệt quanh quân doanh. Riêng giai đoạn Lê mạt do có quá nhiều binh sĩ mắc bệnh giang mai nên triều đình buộc phải "lùng bắt đĩ khắp các phố phường, cạo đầu, phạt trượng rồi đuổi đi". Theo mô tả của hoàng đế Lê Thánh Tông (?), đĩ tức là phường gái giọng ẽo ợt, ra vẻ thanh tao, khi gặp tình nhân thì như "mèo thấy mỡ", "sụt sịt rằng tôi thương tôi nhớ", "bẻo lẻo chào anh ngược anh xuôi"... Vào năm 1501, hoàng đế Lê Hiến Tông từng ban lệnh cấm các quan theo hầu không được mang đĩ đi cùng rồi bừa bãi tình dục.

Theo Sơn cư tạp thuật, "tục nước ta (xứ Bắc Hà) đối với việc phòng thân của đàn bà rất là sơ lược, đã hở người lộ mặt, lại còn cùng con trai chung đường chung giếng, giẫm cỏ xem trò, lại còn cùng con trai kề vai chạm lưng, đến khi có người mai mối thì phần nhiều đã mất trinh rồi".[1] Trong cuốn Histoire naturelle, civile et politique du Tonquin (Lịch sử tự nhiên, dân sự và chính trị xứ Đông Kinh), tác giả Richard cho biết "những người đàn bà bình dân có quyền tự do đi chơi và chăm lo những công việc bên ngoài, còn những người vợ của các viên quan lại và những người đàn bà đặc biệt khác thì bị quản lý chặt chẽ gần giống như những người đàn bà Trung Hoa. Nhiều người phụ nữ này được coi như vô cùng dễ dãi. Họ buông thả mình cho những người ngoại quốc với một cái giá rất xoàng và sau đó kịp thời kết hôn với người ngoại quốc kia. Người ta đã tìm kiếm họ cho những chuyện đó. Họ được chọn chồng theo ý muốn, quyền hạn mà những người phụ nữ Trung Hoa không có được".

Nước ta trước đây đĩ phần nhiều tụ tập ở kinh thành và quân doanh, chỗ nào cũng có, riêng phố Hàng Chĩnh, Hàng Cau đông nhất. Đĩ phần nhiều bị giang mai, tục gọi là mụn Tiêm La. Tương truyền khi chinh phạt Tiêm La, tướng sĩ mắc chứng này, về lây cho nhau, đứa phóng đãng trăng hoa hay mắc phải, có khi chết người. Sau năm Mậu Thân (1788), tướng sĩ trấn Bắc Thành phần đông lây bệnh này, nguy cấp khôn cứu, cấm cũng không dứt được. Bèn lùng bắt đĩ khắp các phố phường, cạo đầu, phạt trượng rồi đuổi đi. Đó cũng là một cách làm hay !


我國從前娼妓多聚京師軍房,在在有之,唯㽀(直徑切,音鄭,釜別名)肆、榔肆尤盛。妓多楊梅瘡,俗言暹羅瘡。相傳征暹羅時,將士得此癥,還相傳染,浪夫蕩子多得之,有至卒死者。戊申以後,鎮北城將士多染是瘡,危殆不救,禁之不能止,遂索諸坊庯娼妓,髡其頭,杖而逐之。是亦一快擧。

Còn với đàn bà Nam Hà, nhà du hành John Barrow đã mô tả từ những năm 1792-1793 rằng, họ được phép tự do luyến ái, ngay cả con gái quan lại cũng từng có nhiều cô quan hệ tình dục với Tây lang để kiếm ít lợi lạc. Vài chục năm sau đó, hoàng đế Nguyễn Thánh Tổ nhận xét, "dân phong tập thói kiêu sa, dâm đãng", "đám đàn bà Gia Định rất dâm đãng", "bọn đàn bà dâm đãng, phóng túng, cư xử của chúng thật quá kinh tởm. Bọn đàn ông vốn đã chơi bời phóng đãng thì sao có thể đòi hỏi tiết hạnh của đám vợ?".[2]

Bước sang thời Nguyễn, cũng như Trung Hoa và Triều Tiên, triều đình An Nam áp dụng luật triều Minh, phạt 60 trượng đối với quan lại và con em nhà quan qua đêm với đĩ.[3] Tuy nhiên, luật này chỉ áp dụng với quan và con quan hưởng tập ấm, không có hình phạt nào áp dụng lên những kẻ mua dâm, bán dâm, mà trái lại, luật ấn định các thứ thuế thành thị được phép thu trong phạm vi Hà Nội ban hành ngày 15 tháng 3 năm 1892, có quy định "bán thẻ cho gái mại dâm". Như vậy, rõ ràng nghề đĩ đã được công khai và hợp pháp hóa từ thời Lê-Nguyễn.[4]

Văn hóaSửa đổi

Địa danhSửa đổi

Thời Lê trung hưng, các phường Bích Câu và Quảng An nức danh chốn kinh kỳ vì là tụ điểm ăn chơi có đông gái đĩ với đủ ngón hảo hạng. Sang thời Nguyễn, do thành quách đã điêu tàn và thần kinh chuyển đàng Huế, nên phường đĩ dạt dần xuống xóm Khâm Thiên, thói xa hoa cũng nhiều phần bạc hơn trước.

Tục ngữSửa đổi

  • Gái đĩ già mồm.
  • Thằng Ngô con Đĩ.
  • Dạy Đĩ vén xống; Dạy ông Cống vào tràng; Dạy bà Lang bốc thuốc.
  • Vừa khôn mà lại vừa ngoan; Đã vừa làm đĩ lại toan cáo làng.
  • Chưa đi anh đã vội về; Đã đi đừng vội, vội về đừng đi.
  • Chưa đi anh đã vội về; Hay là xuân giục, vội về với xuân?
  • Đùng đùng ngựa chạy qua truông; Mảng mê con đĩ buông tuồng bỏ em.
  • Đĩ dại làm hại thằng tù; Nó cho miếng bánh, nó cù cả đêm.
  • Chết thời làm kiếp mẹ ranh; Sống thời đánh đĩ thập thành tứ phương.

Văn chươngSửa đổi

Phần Hoa giới[5] trong thi phẩm

Thập giới cô hồn quốc ngữ văn (十戒孤魂國語文)
được cho là của Lê Thánh Tông

Trích thi phẩm

Văn tế thập loại chúng sinh (文祭十類眾生)
của Nguyễn Du

Biếng việc nữ công,

Muốn bề nhan sắc.
Rồi rẽ mi quang mặt phấn,
Sắm lo bên lục má hồng.
Răng đen cười hé nguyệt nga, lác ngờ hột đỗ,
Trán rộng vạch ngang vân trận, mẽ tựa hoa mai.
Nụ vàng giắt pha ngữ hạt trai,
Quạt ngọc điểm đồi mồi xương vích,
Biếc búp rong, tía rọc ráy, yếm chéo cánh, cạnh thêu,
Lục cổ vẹt, đỏ tiết dê, xống giang chân, thắt đáy,
Tiếng thót ẻo à ẽo ợt,
Nết làm chuộng quý chuộng thanh.
Say mây mưa bàn tán mấy cơn, đón nhân tình bằng mèo thấy mỡ,
Đắm trăng gió lân la đòi đoạn, mệt thế sự tựa kiến sa dầu.
Chốc mòng quán Sở lầu Tần,
Chấp chới ả Diêu nàng Ngụy.
Quấn quýt sự anh sự ả.
Dập dìu tin bướm tin ong.
Làm bạn gửi, lấy chồng quyền, sụt sịt rằng tôi thương tôi thảm,
Đưa người lâu, rước khách mới, bẻo lẻo chào anh ngược anh xuôi.

Cũng có kẻ nhỡ nhàng một kiếp,

Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa,

Ngẩn ngơ khi trở về già,

Đâu chồng con tá biết là cậy ai?

Sống đã chịu một đời phiền não

Thác lại nhờ hớp cháo lá đa,

Đau đớn thay phận đàn bà,

Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Đan Sơn. “Nữ đương cẩn nghiêm”. Sơn cư tạp thuật. 
  2. ^ Minh Mệnh chánh biên toát yếu.
  3. ^ Nguyễn Văn Thành (1815). “Hình luật tạp ký”. Hoàng Việt luật lệ. 
  4. ^ Ganter, D (1895). Recueil de la législation en vigueur en Annam et au Tonkin [Vựng tập văn bản pháp quy hiện hành ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ]. 
  5. ^ Lê Quang Thái (tháng 9 năm 2017). “Từ ‘Thập giới cô hồn quốc ngữ văn’ đến ‘Văn tế thập loại chúng sinh’”. Tạp chí Sông Hương 343. 

Liên kết ngoàiSửa đổi