Lê Hy Tông (chữ Hán: 黎熙宗 16631716) tên húyLê Duy Cáp (黎維祫)[1] hay Lê Duy Hiệp[2] là vị vua thứ 10 của nhà Lê Trung hưng và thứ 21 của nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam.

Lê Hy Tông
黎熙宗
Vua Việt Nam (chi tiết...)
MS 828 10.jpg
Lễ thiết triều của vua Lê Hy Tông trong sách của Samuel Baron.
Hoàng đế Đại Việt
Tại vị16751705
Nhiếp chinhTrịnh Tạc (1675-1682)
Trịnh Căn (1682-1705)
Tiền nhiệmLê Gia Tông
Kế nhiệmLê Dụ Tông
Thái thượng hoàng Đại Việt
Tại vị17051716
Tiền nhiệmLê Thần Tông
Kế nhiệmLê Dụ Tông
Thông tin chung
Tên thật
  • Lê Duy Cáp (黎維祫)
  • Lê Duy Hiệp
Niên hiệu
Thụy hiệu
Chương Hoàng đế (章皇帝)
Miếu hiệu
Hy Tông (僖宗)
Triều đạiNhà Lê Trung hưng
Thân phụLê Thần Tông
Thân mẫuNguyễn Thị Ngọc Trúc hay Nguyễn Thị Ngọc Tấn
Sinh1663
Mất1716
Đông Kinh, Đại Việt
An tángPhú Lăng, Thanh Hóa, Việt Nam

Thân thếSửa đổi

Lê Duy Hiệp là con thứ tư của Lê Thần Tông với cung nhân Nguyễn Thị Ngọc Trúc[1] hay Nguyễn Thị Ngọc Tấn[2], sinh ra sau khi vua cha đã mất (9/1662) khoảng 5 tháng.

Theo ghi chép của Khâm định Việt sử thông giám cương mục, mẹ ông người xã Đông Khối, huyện Gia Định (tức huyện Gia Bình sau này), không phải tộc thuộc của họ Trịnh ở Sóc Sơn.[2] Trước khi qua đời, Lê Thần Tông dặn Tây vương Trịnh Tạc trông nom giúp đỡ người con sắp ra đời.

Tháng 4 năm 1675, anh Duy Hiệp là Lê Gia Tông qua đời khi mới 14 tuổi không có con nối. Trịnh Tạc lập Duy Hiệp lên làm vua, hiệu là Lê Hy Tông, rồi sắc phong Trịnh Thị - con gái chúa làm hoàng hậu. Ông được người đời ca ngợi là vị vua anh minh đức độ bậc nhất thời Lê Trung hưng.

Làm vuaSửa đổi

Lê Hy Tông lên ngôi từ tháng 6 năm 1675. Lúc này chiến tranh với họ Nguyễn ở miền nam đã chấm dứt, cả hai miền lo củng cố nội trị.

Công việc chính sự triều đình đều do các chúa Trịnh đảm nhận. Chúa Trịnh Tạc và người kế nghiệp sau đó là Trịnh Căn tập trung xây dựng Bắc Hà, dùng nhiều tướng văn võ có năng lực nên tình hình Đàng Ngoài khá ổn định, đời sống xã hội được chấn hưng sau nhiều năm chiến tranh. Thời kỳ Lê Hy Tông làm vua được đánh giá là thịnh trị nhất thời Lê trung hưng.[3] Sử gia gọi là Chính Hòa chi trị (正和之治)

Bộ Đại Việt sử ký toàn thư, công trình sử học của sử gia nhiều đời nhà Hậu Lê, được khắc mộc bản ban hành năm Chính Hòa thứ 18 (1697).

Sau 30 năm làm vua, tháng 3 năm 1705[4], Lê Hy Tông nhường ngôi cho Thái tử Lê Duy Đường (tức Lê Dụ Tông), rồi lên làm Thái thượng hoàng.

Ông qua đời tháng 4 năm 1716, hưởng thọ 54 tuổi, được an táng tại Phú Lăng, xã Phú Lâm, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa.

Gia quyếnSửa đổi

Phụ thân: Lê Thần Tông

Thân mẫu: Cung nhân Nguyễn Thị Ngọc Tấn

Hậu phiSửa đổi

Phi tần
STT Danh hiệu Tên Sinh mất Cha Ghi chú
1 Cung Nghi Chương Hoàng hậu Nguyễn Thị Ngọc Đệ

(阮氏玉第)

?-? Bà là sinh mẫu của vua Lê Dụ Tông.

Sau này được truy tôn làm Ôn Từ Hoàng Thái Hậu.

Hậu duệSửa đổi

Hoàng tử
STT Danh hiệu Tên Sinh mất Mẹ Ghi chú
1 Lê Dụ Tông

(黎裕宗)

Lê Duy Đường

(黎维禟)

1679-1731 Nguyễn Thị Ngọc Đệ

(阮氏玉第)

2 Lê Duy Chúc

(黎维祝)

?-?

Niên hiệuSửa đổi

Đời Hy Tông đặt hai niên hiệu là:

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

Ghi chúSửa đổi