Lee Ji-ah

nữ diễn viên người Hàn Quốc

Kim Sang-eun (Hangul김상은; sinh ngày 6 tháng 8 năm 1978), thường được biết đến với nghệ danh Lee Ji-ah, là một nữ diễn viên người Hàn Quốc. Sau vai diễn đột phá trong Thái vương tứ thần ký năm 2007, cô đã tham gia phim truyền hình Beethoven Virus (2008), Âm mưu Athena: Nữ thần chiến tranh (2010), Tình cuồng si (2011), Ba đời chồng (2013) và Cuộc chiến thượng lưu (2020–21).

Lee Ji-ah
이지아.jpg
SinhKim Sang-eun
6 tháng 8, 1978 (42 tuổi)[1]
Songpa-gu, Seoul, Hàn Quốc
Tên khácKim Ji-ah
E Ji-ah
Học vịArtCenter College of Design (ngành thiết kế đồ họa)
Nghề nghiệp
Năm hoạt động2007–nay
Đại lý
  • YMC Entertainment
  • KeyEast Entertainment
  • HB Entertainment
  • BH Entertainment
Chiều cao1,68 m (5 ft 6 in)
Phối ngẫu
Seo Taiji (cưới 1997–2006)
Trang webTrang web chính thức
Tên tiếng Triều Tiên
Hangul
이지아
Hanja
Romaja quốc ngữI Ji-a
McCune–ReischauerI Chia
Tên khai sinh
Hangul
김상은
Romaja quốc ngữGim Sang-eun
McCune–ReischauerKim Sangŭn

Tiểu sửSửa đổi

Lee Ji-ah được sinh ra với tên khai sinh là Kim Sang-eun vào ngày 6 tháng 8 năm 1978 tại Songpa-gu, Seoul, Hàn Quốc trong một gia đình giàu có. Ông nội của cô là nhà giáo dục Kim Soon-heung, một trong những người bảo trợ cho việc thành lập trường Trung học Nghệ thuật Seoul và là hiệu trưởng của trường Đại học Kyonggi. Cha cô là một doanh nhân. Khi cô học lớp 6, gia đình cô di cư sang Mỹ và định cư trong 10 năm.

Cô theo học chuyên ngành thiết kế đồ họa tại ArtCenter College of DesignPasadena.[2][3]

Trong một chuyến thăm ngắn ngủi đến Hàn Quốc vào năm 2004, cô đã ra mắt làng giải trí bằng cách xuất hiện trong một quảng cáo cáo trên truyền hình của LG Telecom với nam diễn viên Bae Yong-joon. Cô rời Mỹ và trở về Hàn Quốc vào đầu năm 2005 và đổi tên hợp pháp từ Kim Sang-eun thành Kim Ji-ah và lấy nghệ danh là Lee Ji-ah.

Sự nghiệpSửa đổi

2007–2013Sửa đổi

Năm 2007, Lee Ji-ah bắt đầu sự nghiệp diễn xuất trong bộ phim truyền hình giả tưởng Thái vương tứ thần ký với Bae Yong-joon. Quá trình sản xuất với kinh phí lớn và chất lượng cao đã nhanh chóng đưa Lee Ji-ah trở thành một ngôi sao.[4][5][6][7] Tại lễ trao giải MBC Drama Awards cuối năm, Lee Ji-ah đã giành được giải Nữ diễn viên mới xuất sắc nhất, giải Nữ diễn viên nổi tiếng nhất và giải Cặp đôi đẹp nhất (với Bae Yong-joon).[8] Cô một lần nữa giành giải Nữ diễn viên mới xuất sắc nhất cho mảng truyền hình tại Baeksang Arts Awards một năm sau đó.[9]

Sau đó, cô đóng vai chính trong Beethoven Virus năm 2008, trong đó Lee Ji-ah đóng vai một nghệ sĩ vĩ cầm được chẩn đoán mắc một căn bệnh dẫn đến mất thính giác hoàn toàn.[10]

Tiếp theo, cô được chọn tham gia Tạp chí thời trang, một bộ phim truyền hình dựa trên cuốn tiểu thuyết cùng tên năm 2008. Lấy cảm hứng từ The Devil Wears Prada, Lee Ji-ah đóng vai một trợ lý chăm chỉ cho một biên tập viên tạp chí thời trang theo chủ nghĩa hoàn hảo do Kim Hye-soo thủ vai.[11][12][13] Tiếp theo, cô đóng vai chính trong bộ phim lãng mạn Hàn-Nhật The Relation of Face, Mind and Love cùng với Kang Ji-hwan, bộ phim đánh dấu lần ra mắt màn ảnh rộng của cô.[14]

Cuối năm 2009, cô tham gia bộ phim "Telecinema" gồm 7 phần, quy tụ các ngôi sao, đạo diễn Hàn Quốc và biên kịch Nhật Bản. Mỗi phần của "Telecinema" được phát hành tại các rạp chiếu phim và cũng được phát sóng trên kênh truyền hình SBS.[15]

Lee Ji-ah sau đó đóng chung với Jung Woo-sung, Cha Seung-wonSoo Ae trong bộ phim về điệp viên Âm mưu Athena: Nữ thần chiến tranh năm 2010, phần ngoại truyện của bộ phim Mật danh Iris năm 2009.[16][17][18]

Năm 2011, cô đóng vai chính trong bộ phim truyền hình Tình cuồng si, đóng vai một cảnh sát xấu tính đem lòng yêu một triệu phú trẻ giả làm nhân viên giữ xe.[19][20][21][22][23][24]

Khi hợp đồng 5 năm của Lee Ji-ah với KeyEast Entertainment của Bae Yong-joon hết hạn vào ngày 31 tháng 12 năm 2011, cô đã ký hợp đồng với Will Entertainment vào tháng 3 năm 2012.[25][26][27] Năm 2013, cô đảm nhận vai chính trong bộ phim Ba đời chồng.[28]

2014–naySửa đổi

Vào tháng 4 năm 2014, Lee Ji-ah ký hợp đồng với HB Entertainment.[29] Tiếp theo là hợp đồng với Maybach Film Productions của Hollywood với tư cách là nhà biên kịch.[30][31]

Năm 2015, Lee Ji-ah đóng vai chính trong bộ phim giả tưởng Snow Lotus Flower dài 2 tập.[32]

Năm 2016, Lee Ji-ah đã trở lại màn ảnh rộng trong bộ phim hành động kinh dị Musudan.[33] Vào tháng 5 năm 2016, Lee Ji-ah rời HB Entertainment và ký hợp đồng với BH Entertainment.[34]

Năm 2018, sau ba năm gián đoạn, Lee Ji-ah đã quay trở lại màn ảnh nhỏ trong bộ phim truyền hình Ông chú của tôi của tvN.[35] Cùng năm, cô tham gia bộ phim truyền hình kinh dị thần bí Thám tử ma.[36]

Năm 2020, cô xuất hiện trong phim truyền hình Cuộc chiến thượng lưu được phát sóng trên kênh truyền hình SBS từ ngày 26 tháng 10.[37]

Đời tưSửa đổi

Vào tháng 3 năm 2011, những bức ảnh được chụp bởi một khách du lịch bắt gặp Lee Ji-ah và bạn diễn Jung Woo-sung của cô trong bộ phim Âm mưu Athena: Nữ thần chiến tranh bí mật hẹn hò ở Paris đã nhanh chóng lan truyền trên mạng xã hội và cả hai đã xác nhận rằng họ đang hẹn hò.[38][39][40]

Vào ngày 21 tháng 4 năm 2011, Sports Seoul đã tung tin (sau đó được xác nhận bởi nhiều phương tiện truyền thông) rằng cô và biểu tượng nhạc pop/rock Hàn Quốc Seo Taiji đã bí mật kết hôn từ năm 1997, trước khi chia tay vào năm 2006. Tin tức bị rò rỉ sau hai phiên điều trần được tổ chức tại tòa án gia đình Seoul (tòa án sử dụng các giấy tờ có ghi tên khai sinh của Seo Taiji và Lee Ji-ah lần lượt là Jeong Hyeon-cheol và Kim Sang-eun) kể từ khi Lee Ji-ah đệ đơn kiện trị giá 5,5 tỷ KRW chống lại Seo Taiji về tiền cấp dưỡng và phân chia tài sản. Cả hai được cho là đã độc thân.[41][42][43][44][45][46]

Lee Ji-ah sang Mỹ du học vào năm 1993 và gặp gỡ Seo Taiji thông qua một người quen tại một buổi hòa nhạc ở Los Angeles trong cùng năm. Họ đã phát triển một mối quan hệ lâu dài thông qua những bức thư và cuộc gọi điện thoại trong thời gian Lee Ji-ah sống tại Mỹ và Seo Taiji đã trở về Hàn Quốc để tiếp tục các hoạt động trong ngành giải trí cùng nhóm nhạc Seo Taiji and Boys của anh. Năm 1996, Seo Taiji tuyên bố giải nghệ, sau đó anh chuyển đến Mỹ, nơi anh và Lee Ji-ah bí mật kết hôn vào ngày 12 tháng 10 năm 1997. Cặp đôi sống ở Mỹ, chuyển đến Atlanta và sau đó là Arizona.[3][47][48][49]

Họ chia tay nhau khi Seo Taiji trở về Hàn Quốc vào tháng 6 năm 2000 để trở lại ngành âm nhạc Hàn Quốc với tư cách là một nghệ sĩ solo. Lee Ji-ah, người ở lại Mỹ, đã bắt đầu thủ tục ly hôn vào năm 2006 tại tòa án gia đình Santa Monica với lý do có những khác biệt không thể hòa giải do lối sống và tính cách không hợp nhau.[50]

Lee Ji-ah tuyên bố trong vụ kiện năm 2011 rằng cô đã đệ đơn ly hôn vào năm 2006 và quyết định của tòa án có hiệu lực vào năm 2009, do đó, cô có quyền yêu cầu Seo Taiji cấp dưỡng trong giai đoạn 3 năm theo luật Hàn Quốc. Nhưng Seo Taiji khẳng định rằng cuộc ly hôn chính thức có hiệu lực vào ngày 9 tháng 8 năm 2006 và đã hết thời hiệu.[51] Lee Ji-ah đã nộp đơn kiện vào tháng 1 và rút lại vào ngày 30 tháng 4, với lý do khủng hoảng tâm lý sau khi cuộc sống riêng tư của cô bị công khai.[52][53][54][55][56] Luật sư của Seo Taiji phản đối đề nghị này,[57][58] và Lee Ji-ah tiếp tục hồ sơ của cô, với luật sư của cô lập luận rằng phán quyết của tòa án California là không hợp lệ và cả hai vẫn kết hôn hợp pháp.[59][60] Thông qua hòa giải, cặp vợ chồng cũ đã đạt được thỏa thuận ngoài tòa án vào tháng 7 năm 2011, trong đó có thỏa thuận không được tiết lộ.[61][62][63][64]

Danh sách phimSửa đổi

Phim truyền hìnhSửa đổi

Năm Tên Vai Kênh
2007 Thái vương tứ thần ký Sujini/Saeoh MBC
2008 Beethoven Virus Du Ru-mi
2009 Tạp chí thời trang Lee Seo-jung SBS
2010 Âm mưu Athena: Nữ thần chiến tranh Han Jae-hee
2011 Tình cuồng si Cha Bong-sun MBC
2013 Ba đời chồng Oh Eun-soo SBS
2015 Drama Special: Snow Lotus Flower Han Yeon-woo
2018 Ông chú của tôi Kang Yoon-hee tvN
Thám tử ma Sun Woo-hye KBS2
2020–21 Cuộc chiến thượng lưu Shim Su-ryeon/Na Ae-kyo SBS
2021 Cuộc chiến thượng lưu 2

Phim điện ảnhSửa đổi

Năm Tên Vai
2009 The Relation of Face, Mind and Love Wang So-jung
2011 Athena: The Movie Han Jae-hee
2016 Musudan Shin Yoo-hwa

Video âm nhạcSửa đổi

Năm Tên Nghệ sĩ
2010 Please Come Back to Me Vibe

Danh sách đĩa nhạcSửa đổi

Năm Tên Nghệ sĩ
2008 Love Virus Lee Ji-ah
So Much Super Sta hợp tác với Baby Boy's Soul và Lee Ji-ah
2009 Cupcake and Alien Lee Ji-ah
2010 Vampire Romance

Giải thưởng và đề cửSửa đổi

Năm Giải thưởng Hạng mục Đề cử Kết quả
2007 MBC Drama Awards Nữ diễn viên mới xuất sắc nhất Thái vương tứ thần ký Đoạt giải
Nữ diễn viên nổi tiếng nhất Đoạt giải
Cặp đôi xuất sắc nhất (với Bae Yong-joon) Đoạt giải
2008 Baeksang Arts Awards lần thứ 44 Nữ diễn viên mới xuất sắc nhất thể loại phim truyền hình Đoạt giải
MBC Drama Awards Nữ diễn viên xuất sắc nhất Beethoven Virus Đề cử
2009 SBS Drama Awards Nữ diễn viên xuất sắc nhất thể loại phim truyền hình đặc biệt Tạp chí thời trang Đề cử
2011 Nữ diễn viên xuất sắc nhất thể loại phim truyền hình kế hoạch đặc biệt Âm mưu Athena: Nữ thần chiến tranh Đề cử
2014 Korea Drama Awards lần thứ 7 Nữ diễn viên xuất sắc nhất Ba đời chồng Đề cử
APAN Star Awards lần thứ 3 Nữ diễn viên xuất sắc nhất thể loại phim truyền hình dài tập Đề cử
SBS Drama Awards Đề cử
2020 Nữ diễn viên xuất sắc nhất thể loại phim truyền hình nhiều tập Cuộc chiến thượng lưu Đoạt giải

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “Lee Ji-ah (이지아)”. HanCinema. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2018.
  2. ^ “Profile”. Ejiah.com. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  3. ^ a ă “Mystery Deepens Over Seo Tai-ji's Secret Marriage to Lee Ji-ah”. The Chosun Ilbo. ngày 22 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  4. ^ Garcia, Cathy Rose A. (ngày 8 tháng 5 năm 2007). “Newcomer Lee Ji-ah to Play Bae Yong-joon's Love Interest”. The Korea Times. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  5. ^ Kim, Rahn (ngày 21 tháng 10 năm 2007). “Star Couple's Divorce Most Searched”. The Korea Times. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  6. ^ Kwon, Mee-yoo (ngày 12 tháng 12 năm 2007). “E Ji-ah Surges as New Inspiring Actress”. The Korea Times. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  7. ^ “Culture Trends 2008”. The Korea Times. ngày 26 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  8. ^ “2007 Year-end Korean drama awards round-up”. Hancinema. ngày 7 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2014.
  9. ^ “The 44th PaekSang Arts Awards Sparkles with Stars”. KBS World. ngày 24 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2013.
  10. ^ Han, Sang-hee (ngày 9 tháng 9 năm 2008). “Dramas Bring Hero, Gamblers and Orchestra”. The Korea Times. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  11. ^ Han, Sang-hee (ngày 21 tháng 7 năm 2009). “Style to Bring Fashion, Love and Career”. The Korea Times. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  12. ^ Oh, Jean (ngày 27 tháng 7 năm 2009). “Fighters, fashionistas spice up small screen”. The Korea Herald. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  13. ^ Park, So-yeon (ngày 5 tháng 11 năm 2011). “E Ji-ah says is receiving treatment for paralyzed heel”. 10Asia. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  14. ^ “[REVIEW] Film "My Love, Ugly Duckling". 10Asia. ngày 6 tháng 11 năm 2009.
  15. ^ Lee, Hyo-won (ngày 5 tháng 11 năm 2009). “Relation Trips Over Own Subject Matter”. The Korea Times. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  16. ^ Hong, Lucia (ngày 20 tháng 4 năm 2010). “E Ji-ah locked in as female lead for IRIS spin-off”. 10Asia. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  17. ^ Ko, Jae-wan (ngày 30 tháng 11 năm 2010). “E Ji-ah says did not use double for action sequences”. 10Asia. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  18. ^ Han, Sang-hee (ngày 30 tháng 11 năm 2010). “Athena to sneak into homes this month”. The Korea Times. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  19. ^ Kim, Jessica (ngày 20 tháng 9 năm 2011). “E Ji-ah confirmed for November TV series role”. 10Asia. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  20. ^ Lee, Sun-min (ngày 22 tháng 9 năm 2011). “E Jiah returns to TV in new series”. Korea JoongAng Daily. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  21. ^ Kim, Yoon-mi (ngày 22 tháng 9 năm 2011). “E Ji-ah to come back in TV drama”. The Korea Herald. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  22. ^ “Lee Ji-ah to Return to TV Screens”. The Chosun Ilbo. ngày 21 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  23. ^ Hong, Lucia (ngày 31 tháng 10 năm 2011). “E Ji-ah: I want to repay those around me by returning to acting”. 10Asia. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  24. ^ “Lee Ji-ah Resurfaces After Divorce Scandal”. The Chosun Ilbo. ngày 1 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  25. ^ “Will Entertainment”.
  26. ^ Sunwoo, Carla (ngày 22 tháng 1 năm 2013). “E Jiah wants a name for herself”. Korea JoongAng Daily. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  27. ^ Sunwoo, Carla (ngày 12 tháng 1 năm 2012). “Actress E Jiah parts ways with her agency”. Korea JoongAng Daily. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  28. ^ Kang, Jung-yeon (ngày 30 tháng 9 năm 2013). “E Ji-ah to Be Back on Small Screen After 2 Years”. 10Asia. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2013.
  29. ^ Lim, Ju-hui (ngày 5 tháng 4 năm 2014). “Lee Ji Ah signing a new contract with HB Entertainment”. StarN News. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014.
  30. ^ Kim, Erika (ngày 11 tháng 7 năm 2014). “E Jiah to Debut in Hollywood as Screenwriter”. enewsWorld. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2014.
  31. ^ Kim, June (ngày 16 tháng 7 năm 2014). “LEE Ji-ah to Pen Hollywood Screenplay”. Korean Film Biz Zone. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2014.
  32. ^ “Lee Ji-ah in "Seol-ryeon's Story", disguised as a male”. Hancinema. Nate. ngày 11 tháng 11 năm 2015.
  33. ^ “Actress makes a thrilling comeback”. Korea JoongAng Daily. ngày 11 tháng 3 năm 2016.
  34. ^ “Actress Lee Ji-ah joins BH Entertainment”. Korea JoongAng Daily. ngày 14 tháng 5 năm 2016.
  35. ^ “Lee Ji-ah to Star in TvN "My Mister" as Lee Sun-kyun's Wife”. Hancinema. Nate. ngày 10 tháng 12 năm 2017.
  36. ^ “Lee Ji-ah Becomes a Mysterious Woman for "Today's Detective". Hancinema. Osen. ngày 21 tháng 6 năm 2018.
  37. ^ “Lee Ji-ah, Kim So-yeon and Eugene to Star in "Penthouse: War In Life". HanCinema.
  38. ^ Kwon, Mee-yoo (ngày 21 tháng 3 năm 2011). “Jung admits dating E Ji-ah”. The Korea Times. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  39. ^ “Jung Woo-sung Admits Romance with Lee Ji-ah”. The Chosun Ilbo. ngày 21 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  40. ^ Kim, Jessica (ngày 21 tháng 3 năm 2011). “Jung Woo-sung admits to dating E Ji-ah”. 10Asia. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  41. ^ “Seo Taiji's secret marriage (and divorce) exposed”. Korea JoongAng Daily. ngày 21 tháng 4 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  42. ^ Kim, Jessica (ngày 21 tháng 4 năm 2011). “E Ji-ah and Seo Taiji said to be married, filing for divorce”. 10Asia. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  43. ^ Kim, Yoon-mi (ngày 22 tháng 4 năm 2011). “Former idol's secret marriage creates stir”. The Korea Herald. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  44. ^ Choi, Shin-ae (ngày 12 tháng 8 năm 2014). “E Jiah Told Jung Woo Sung About Her Marriage with Seo Taiji When They Were Dating”. enewsWorld. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2014.
  45. ^ Noh, Hyun-gi (ngày 28 tháng 12 năm 2011). “Secret marriage, lawsuits, rumors: stars make headlines”. The Korea Times. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  46. ^ Lee, Sun-min (ngày 29 tháng 12 năm 2011). “2011 Top 10 stories: 14-year marriage laid bare”. Korea JoongAng Daily. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  47. ^ Kim, Rahn (ngày 22 tháng 4 năm 2011). “Mass public deception vs. private life”. The Korea Times. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  48. ^ Kim, Jessica (ngày 22 tháng 4 năm 2011). “E Ji-ah says married and divorced Seo Taiji”. 10Asia. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  49. ^ Lee, Hyo-won (ngày 24 tháng 4 năm 2011). “Cyber mobs hunt for truth about Seo-E scandal”. The Korea Times. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  50. ^ “Actress E gave up spousal support in 2006”. The Korea Times. ngày 25 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  51. ^ Cho, Ji-hyun (ngày 30 tháng 4 năm 2011). “Taiji speaks up about divorce for first time”. The Korea Herald. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  52. ^ “Star Korean actress drops alimony lawsuit against ex-singer husband”. The Korea Herald. ngày 1 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  53. ^ “Lee Ji-ah Withdraws Alimony Suit Against Seo Tai-ji”. The Chosun Ilbo. ngày 2 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  54. ^ Park, Min-young (ngày 1 tháng 5 năm 2011). “E Ji-ah drops suit, Seo Tai-ji speaks up”. The Korea Herald. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  55. ^ “No dealing made about dropping of suit: Seo's side”. The Korea Times. ngày 1 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  56. ^ Kim, Tae-jong (ngày 2 tháng 5 năm 2011). “Actress E denies behind-the-scene deal”. The Korea Times. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  57. ^ Kim, Rahn (ngày 18 tháng 5 năm 2011). “Seo-E battle enters season 2”. The Korea Times. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  58. ^ “Seo Tai-ji to Fight Ex-Wife's Claims”. The Chosun Ilbo. ngày 18 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  59. ^ Lee, Hyo-won (ngày 5 tháng 7 năm 2011). “Seo-E lawsuit postponed”. The Korea Times. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  60. ^ Holley, Robert (ngày 17 tháng 6 năm 2011). “E Jiah to resume lawsuit against ex-husband Seo Taiji”. Korea JoongAng Daily. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  61. ^ Yun, Suh-young (ngày 29 tháng 7 năm 2011). “Seo Tae-ji, E Ji-ah settle marriage dispute”. The Korea Times. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  62. ^ Jung, Eun-jung (ngày 29 tháng 7 năm 2011). “Seo Tai-ji, E Ji-ah agree to end alimony suit”. The Korea Herald. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  63. ^ Sung, So-young (ngày 30 tháng 7 năm 2011). “Seo, ex-wife finish their legal dispute”. Korea JoongAng Daily. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  64. ^ “Seo Tai-ji, Ex-Wife Settle Dispute”. The Chosun Ilbo. ngày 1 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.

Liên kết ngoàiSửa đổi