Mở trình đơn chính

Câu lạc bộ bóng đá Matsumoto Yamaga (松本山雅フットボールクラブ Matsumoto Yamaga Futtobōru Kurabu?) là một câu lạc bộ bóng đá Nhật Bản có trụ sở tại Matsumoto, Nagano. Họ hiện đang thi đấu tại J. League Hạng 1, sau lần đầu thăng hạng đấu cao nhất năm 2014 khi kết thúc ở vị trí á quân J. League Hạng 2. Trước đó họ lần đầu lên hạng J. League Hạng 2năm 2011.

Matsumoto Yamaga F.C.
松本山雅FC
Logo
Tên đầy đủMatsumoto Yamaga Football Club
Biệt danhPtarmigans, Gans
Thành lập, 1965; 54 năm trước
Sân vận độngSân vận động Matsumoto
(Alwin)
Matsumoto, Nagano
Sức chứa sân20,396
Chủ tịch điều hànhNhật Bản Hiroshi Otsuki
Người quản lýNhật Bản Yasuharu Sorimachi
Giải đấuJ1 League
201516th (xuống hạng)
Trang webTrang web của câu lạc bộ
Màu áo sân khách

Biệt danh của họ Ptarmigans (ターミガンズ Tāmiganzu?) (hay ngắn gọn là Gans (ガンズ ganzu?)), loài chim biểu tượng của Nagano.

Lịch sửSửa đổi

Câu lạc bộ thành lập năm 1965 bởi những cầu thủ đại diện cho tỉnh Nagano. Các cầu thủ hay tới quán cà phê có tên Yamaga ở trước ga đường sắt Matsumoto và ban đầu họ được gọi đơn giản là Câu lạc bộ Yamaga. Năm 2004, họ đổi tên thành Matsumoto Yamaga FC khi tổ chức phi lợi nhận Alwin Sports Project hỗ trợ câu lạc bộ trong việc lên chơi tại J. League.

Mùa giải 20072008 họ lần lượt xếp thứ nhất và thứ tư tại Giải Hokushin'etsu Hạng Nhất, nhưng không thể giành quyền lên Japan Football League sau khi bị loại từ vòng bảng của VCK Giải các khu vực. Cũng trong năm 2008 họ tham Cúp Hoàng đế, họ đánh bại cựu vô địch Nhật Bản Shonan Bellmare ở vòng 3 trên chấm luân lưu, và sau đó bị loại sau khi thua 8–0 trước Vissel Kobe.

Mùa 2009 mang đến những cảm xúc trái chiều, họ chỉ kết thúc ở vị trí thứ tư tại giải khu vực nhưng đã loại Urawa Red Diamonds khỏi Cúp Hoàng đế ở vòng hai, đó là chiến thắng lớn nhất của họ từ trước tới nay.

Với việc giành chức vô địch Shakaijin Cup, họ giành quyền thi đấu tại VCK các khu vực toàn quốc và giành quyền lên chơi tại Japan Football League. Năm 2010, họ giành vị trí thứ 7 ở mùa giải hạng ba đầu tiên.

Năm 2011, dù gặp khó khăn do động đất và sóng thần Tōhoku và kết quả bất lợi trước Sony Sendai, Yamaga vẫn giành được vị trí thứ 4 và lên J. League Hạng 2.

Sau ba mùa giải họ lên J1 League, nhưng xuống hạng chỉ sau một mùa.

Sân vận độngSửa đổi

Sân nhà của Matsumoto Yamaga là Sân vận động Matsumoto (còn biết đến là Alwin) nằm tại Kambayashithành phố Matsumoto. Sân có sức chứa 20,000 chỗ (16,000 chỗ ngồi và 4,000 chỗ đứng).[1] Đây là địa điểm thể thao lớn thứ ba tại Nagano.

Kết quảSửa đổi

Danh hiệuSửa đổi

Đội hình hiện tạiSửa đổi

Tính tới 9 tháng 9 năm 2015

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
1   TM Tomohiko Murayama
2   HV Yuki Okubo
3   HV Hayuma Tanaka
4   HV Masaki Iida
5   TV Yudai Iwama
6   HV Shunsuke Iwanuma
7   TV Eric
8   TV Yuzo Iwakami
9   Obina
10   Shogo Shiozawa
11   TV Kohei Kiyama
13   HV Keita Goto
14   Tomoki Ikemoto
15   Willians
16   HV Hiroshi Tetsuto
17   TV Ryutaro Iio
18   Yuki Natsume
Số áo Vị trí Cầu thủ
20   TV Takayoshi Ishihara
21   TM Tomoyuki Suzuki
22   TV Naoki Maeda (mượn từ Tokyo Verdy)
23   TV Kohei Kudo
24   HV Masahiro Nasukawa
25   TM Yuto Shirai
26   TV Kim Bo-Kyung
27   TV Ryutaro Shibata
28   HV Kenshiro Tanioku
30   HV Ryusuke Sakai
32   Tomoyuki Arata
35   TM Niall Killoran
36   HV Jun Ando
38   TV Tatsuya Wada
39   Yoshiro Abe
41   Daiki Yagishita

Số áo treoSửa đổi

Cho mượnSửa đổi

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
  TM Kengo Nagai (tại Kataller Toyama)
  HV Shusaku Tokita (tại Azul Claro Numazu)
  TV Ryota Iwabuchi (tại FC Ryūkyū)
  TV Shuho Miyashita (tại Saurcos Fukui)
  TV Kohei Kurata (tại Azul Claro Numazu)
  TV Junto Matsushita (tại FC Machida Zelvia)
Số áo Vị trí Cầu thủ
  TV Park Kwang-Il (tại Mito Hollyhock)
  TV Hayato Michiue (tại Azul Claro Numazu)
  TV Nobuyuki Shiina (tại Kataller Toyama)
  Ryota Nakamura (tại FC Osaka)
  Yuki Kitai (tại Kataller Toyama)

Huán luyện viênSửa đổi

Huán luyện viên Quốc tịch Giai đoạn dẫn dắt
Keiju Karashima   Nhật Bản 2005–07
Hideo Yoshizawa   Nhật Bản 2008– 6/2011
Yoshiyuki Kato   Nhật Bản 6/2011 – 12/2011
Yasuharu Sorimachi   Nhật Bản 2012–

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ 【松本平広域公園】 信州スカイパーク アルウィン (bằng tiếng Nhật). TOYBOX. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2011. 

Liên kết ngoàiSửa đổi