Vissel Kobe (ヴィッセル神戸 Visseru Kōbe?) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Nhật Bản, hiện đang thi đấu tại giải J1 League. Đội bóng này nằm ở Kobe, tỉnh Hyōgo. Sân nhà của đội là sân vận động Kobe Wing, ở Hyōgo-ku, đôi khi một số trận đấu của đội được chơi tại sân vận động Kobe Universiade MemorialSuma-ku.

Vissel Kobe
ヴィッセル神戸
Logo
Tên đầy đủVissel Kobe
Biệt danhUshi (cows)
Thành lập, 1995; 25 năm trước
Sân vận độngNoevir Stadium Kobe
Hyōgo-ku, Kōbe, Hyōgo
Sức chứa sân30,132
Chủ sở hữuRakuten
Chủ tịch điều hànhKatsuhiro Shimizu
Người quản lýNelsinho Baptista
Giải đấuJ1 League
2019J1 League, 8th
Trang webTrang web của câu lạc bộ
Màu áo sân khách
Mùa giải hiện nay
Tập tin:VisselKobe.gif
1995–04 crest
first home colours, used from 1995–04
Sân nhà của Kobe


Ver

Lịch sửSửa đổi

Đội bóng được thành lập vào năm 1966 ở hạng bán chuyên nghiệp với cái tên Câu lạc bộ Bóng đá Thép KawasakiKurashiki, Okayama Prefecture.[1] Đội bóng được lên chơi ở hạng 2 giải Japan Soccer League vào năm 1986, và trụ lại tại đây cho đến khi giải này được thay thế bằng JSL vào năm 1992.[1]

Năm 1995, thành phố Kobe đạt được một thỏa thuận với công ty chủ quản của đội bóng Kawasaki Steel, để chuyển đội bóng về Kobe và tranh một suất ở giải J. League với cái tên Vissel Kobe. Vissel là một từ ghép giữa chữ "victory" và "vessel" trong tiếng Anh, nhằm ghi nhận lịch sử của thành phố cảng Kobe.[1] (Do tầm quan trọng của đội bóng đối với thành phố Kobe, Kawasaki Heavy Industries, công ty mẹ của Kawasaki Steel, vẫn là nhà bảo trợ chính cho Vissel Kobe. Kawasaki Steel sau đó được bán và trở thành một phần của JFE Holdings.)

Vissel Kobe bắt đầu chơi ở giải Japan Football League vào năm 1995, một giải hạng dưới J. League, và chuỗi siêu thị Daiei được đề cử làm nhà tài trợ chính cho câu lạc bộ. Tuy nhiên, kinh tế đi xuống sau động đất Great Hanshin buộc Daiei phải rút lui và thành phố Kobe trở thành nhà bảo trợ chính cho đội bóng.

Mặc dù kết thúc mùa giải ở vị trí thứ hai tại JFL vào năm 1996, Vissel vẫn được thăng hạng lên giải J. League (do đội bóng vô địch là Honda FC, từ chối thăng hạng và trở thành đội bóng chuyên nghiệp) và bắt đầu thi đấu ở giải bóng đá cao nhất của Nhật vào năm 1997. Tuy nhiên, do vấn đề quản lý kém vì họ không thể duy trì nguồn tài trợ ổn định, Vissel chưa bao giờ đủ khản năng tranh chức vô địch giải. Đến tháng 12 năm 2003, những thua lỗ tồn đọng khiến câu lạc bộ phải đề đơn xin quy chế bảo vệ phá sản.

Thánh 1 năm 2004, Vissel được bán cho Crimson Group, công ty mẹ của công ty thương mại trực tuyến Rakuten, với chủ sở hữu là người Kobe Hiroshi Mikitani. Cho đến thời điểm hiện tại, những nỗ lực của Mikitani nhằm tăng cường sức mạnh cho đội bóng đạt được ít kết quả. Hợp đồng đầu tiên của Vissel dưới thời ông Mikitani là İlhan Mansız, nhờ vào màn trình diễn của anh ở giải 2002 FIFA World Cup tổ chức ở Hàn Quốc và Nhật Bản, là một thất bại hoàn toàn – tiền đạo người Thổ Nhĩ Kỳ chỉ chơi có ba trận trước khi rời đội bóng vì chấn thương đầu gối. Mikitani cũng khiến cho ông không được người hâm mộ ưa thích vì quyết định đổi đồng phục đội bóng từ màu sọc đen trắng sang crimson, nhằm quảng cáo cho tập đoàn Crimson Group và giống với màu của trường ông đã tốt nghiệp, Harvard Business School. (Đội bóng chày Tohoku Rakuten Golden Eagles, cùng thuộc quyền sở hữu Rakuten nhưng đặt tại Sendai, có đồng phục cùng màu)

Vissel kết thúc giải đấu ở vị trí 11 vào năm 2004, cùng hạng với năm trước đó. Năm 2005, họ kết thúc giải ở vị trí thứ 18 và cũng là vị trí bét bảng, dẫn đến việc xuống chơi ở giải J2. Tron khoảng thời gian 2 năm, Vissel đã thay 5 vị huấn luyện viên khác nhau. 2006 là mùa gải đầu tiên Vissel chơi ở J2 sau 9 năm chơi ở giải bóng đá cao nhất Nhật Bản. Đội kết thúc mùa giải 2006 ở vị trí thứ 3 và được thăng hạng J1 sau khi đánh bại Avispa Fukuoka trong trận play-off giành quyền thăng hạng.

Trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến năm 2011 Vissel đều kết thúc mùa giải ở nửa dưới bảng xếp hạng. Vào năm 2012 họ kết thúc ở vị trí 16 và là thứ 3 từ dưới bảng xếp hạng tính lên. Kết quả là đội bóng bị xuống hạng thi đấu ở giải J2.

Năm 2013 Vissel kết thúc mùa giải ở vị trí thứ hai, thua 4 điểm so với đội Gamba Osaka, và giành quyền thăng hạng J1 cho mùa bóng 2014.

Ngày 6 tháng 12 năm 2014, Rakuten Inc. mua lại câu lạc bộ từ Crimson Group.[2]

Thành tích tại giải J. LeaguerSửa đổi

Mùa Giải Đội Vị trí Khán giả J. League Cup Emperor's Cup
1997 J1 17 16 6,567 Vòng bảng Vòng 4
1998 J1 18 17 7,686 Vòng bảng Vòng 3
1999 J1 16 10 7,691 Vòng 1 Vòng 3
2000 J1 16 13 7,512 Vòng 2 Bán kết
2001 J1 16 12 13,872 Vòng 2 Vòng 4
2002 J1 16 14 10,467 Vòng bảng Vòng 3
2003 J1 16 13 11,195 Vòng bảng Tứ kết
2004 J1 16 11 15,735 Vòng bảng Vòng 4
2005 J1 18 18 14,913 Vòng bảng Vòng 4
2006 J2 13 3 6,910 Vòng 3
2007 J1 18 10 12,460 Vòng bảng Vòng 5
2008 J1 18 10 12,981 Vòng bảng Vòng 5
2009 J1 18 14 13,068 Vòng bảng Vòng 4
2010 J1 18 15 12,824 Vòng bảng Vòng 3
2011 J1 18 9 13,233 Vòng 1 Vòng 3
2012 J1 18 16 14,638 Vòng bảng Vòng 2
2013 J2 22 2 11,516 Vòng 3
2014 J1 18 11 15,010 Tứ kết Vòng 2
2015 J1 18 12 16,265 Bán kết Tứ kết
2016 J1 18 7 17,018 Tứ kết Vòng 16 đội

Lịch sử thi đấuSửa đổi

Total (as of 2014): 16 seasons in the top tier, 11 seasons in the second tier, 2 seasons in the third tier and 8 seasons in the Regional Leagues.

Cầu thủSửa đổi

Đội hình hiện tạiSửa đổi

Cập nhật vào thời điểm 8 tháng 2 năm 2017.[3] Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
1   TM Daiki Maekawa
3   HV Hirofumi Watanabe
4   HV Thomas Vermaelen
5   HV Takuya Iwanami
6   HV Shunki Takahashi
7   TV Nílton
8   TV Andrés Iniesta
11   Leandro
13   Keijiro Ogawa
14   TV Naoyuki Fujita
15   TV Seigo Kobayashi
16   TV Hideto Takahashi
17   Hideo Tanaka
18   TM Kim Seung-gyu
19   Kazuma Watanabe
21   Junya Tanaka
Số áo Vị trí Cầu thủ
22   HV Wataru Hashimoto
23   TV Yoshiki Matsushita
24   TV Masatoshi Mihara
25   HV Junya Higashi
26   HV Shinji Yamaguchi
28   TM Kenshin Yoshimaru
29   TV Kotaro Omori
30   TM Kenta Tokushige
31   TV Yuya Nakasaka
33   Shuhei Otsuki
34   HV So Fujitani
35   TV Takuya Yasui
36   TV Tatsuki Noda
37   Akito Mukai
39   HV Masahiko Inoha

Cho mượnSửa đổi

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
  TV Ryosuke Maeda (at Oita Trinita)
  TV Asahi Masuyama (at Yokohama FC)
Số áo Vị trí Cầu thủ
  Ryo Matsumura (at Tokushima Vortis)

Quản lýSửa đổi

Quản lý Quốc tịch. Thời gian làm việc
Stuart Baxter   Scotland 1997
Hiroshi Kato   Nhật Bản 1997
Benito Floro   Tây Ban Nha 1998
Harumi Kori   Nhật Bản 1998
Ryoichi Kawakatsu   Nhật Bản 1999–02
Hiroshi Matsuda   Nhật Bản tháng 1 năm 2002–tháng 12, 02
Hiroshi Soejima   Nhật Bản 2003
Ivan Hašek   Cộng hòa Séc tháng 1 năm 2003–tháng 12, 04
Hiroshi Kato   Nhật Bản 2004
Hideki Matsunaga   Nhật Bản tháng 1 năm 2005–tháng 4, 05
Émerson Leão   Brasil tháng 5 năm 2005–tháng 6, 05
Pavel Řehák   Cộng hòa Séc 2005
Stuart Baxter   Scotland tháng 1 năm 2006–tháng 12, 06
Hiroshi Matsuda   Nhật Bản tháng 1 năm 2007–tháng 12, 08
Caio Júnior   Brasil tháng 12 năm 2008–tháng 1, 09
Masahiro Wada (interim)   Nhật Bản tháng 7 năm 2009–tháng 8, 09
Toshiya Miura   Nhật Bản tháng 3 năm 2009–tháng 9, 10
Masahiro Wada   Nhật Bản tháng 9 năm 2010–tháng 4, 12
Ryo Adachi (interim)   Nhật Bản tháng 4 năm 2012–tháng 5, 12
Akira Nishino   Nhật Bản 22 tháng 5 năm 2012 – 8 tháng 11 năm 2012
Ryo Adachi (interim)   Nhật Bản 9 tháng 11 năm 2012 – 31 tháng 12 năm 2012
Ryo Adachi   Nhật Bản 1 tháng 1 năm 2013 – 11 tháng 12 năm 2014
Nelsinho Baptista   Brasil 12 tháng 12 năm 2014–

Câu lạc bộ liên kếtSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a ă â Jリーグ – ヴィッセル神戸 [J. League – Vissel Kobe] (bằng tiếng Japanese). J. League. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2013. 
  2. ^ “Rakuten Acquires Football Club Vissel Kobe and Joins the J-League”. Rakuten Official Website. 
  3. ^ “VISSEL KOBE: Squad details”. Truy cập 11 tháng 5 năm 2017. 
  4. ^ “J-League's Vissel Kobe announces business partnership with Thailand's Chonburi FC”. goal.com. 30 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2013. 

Liên kết ngoàiSửa đổi

Bản mẫu:Vissel Kobe

Bản mẫu:Rakuten