Andrés Iniesta

Cầu thủ bóng đá người Tây Ban Nha

Andrés Iniesta Luján (phát âm tiếng Tây Ban Nha[anˈdɾes iˈnjesta luˈxan]; sinh ngày 11 thâng 5 năm 1984) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Tây Ban Nha thi đấu ở vị trí tiền vệ trung tâm và là đội trưởng của câu lạc bộ J1 League Vissel Kobe. Thường được coi là một trong những tiền vệ xuất sắc nhất trong lịch sử bóng đá[2][3][4] và được biết đến nhiều là một trong những cầu thủ xuất sắc nhất mọi thời đại, Iniesta dành phần lớn sự nghiệp tại Barcelona, nơi anh là đội trưởng trong ba mùa giải.[5][6][7][8][9][10]

Andrés Iniesta
Andrés Iniesta.jpg
Iniesta với Tây Ban Nha năm 2017
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Andrés Iniesta Luján[1]
Ngày sinh 11 tháng 5, 1984 (38 tuổi)[1]
Nơi sinh Fuentealbilla, Tây Ban Nha
Chiều cao 1,70 m (5 ft 7 in)[1]
Vị trí Tiền vệ trung tâm
Thông tin câu lạc bộ
Đội hiện nay
Vissel Kobe
Số áo 8
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
1994–1996 Albacete
1996–2001 Barcelona
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2001–2003 Barcelona B 54 (5)
2002–2018 Barcelona 442 (23)
2018– Vissel Kobe 91 (20)
Đội tuyển quốc gia
2000–2001 U-15 Tây Ban Nha 2 (0)
2000–2001 U-16 Tây Ban Nha 7 (1)
2001–2002 U-17 Tây Ban Nha 4 (0)
2001–2002 U-18 Tây Ban Nha 1 (0)
2001–2002 U-19 Tây Ban Nha 7 (1)
2003–2004 U-20 Tây Ban Nha 7 (3)
2003–2006 U-21 Tây Ban Nha 18 (6)
2004–2005 Catalunya 2 (0)
2006–2018 Tây Ban Nha 131 (13)
* Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ chuyên nghiệp chỉ được tính cho giải quốc gia và chính xác tính đến ngày 3 tháng 11 năm 2021

Trong suốt sự nghiệp cầu thủ, Iniesta được mệnh danh là "El Ilusionista" (Ảo thuật gia), "El Cerebro" (Bộ não), "El Anti-Galáctico" (một cách chơi chữ của các cầu thủ Real Madrid, Los Galácticos)," El Caballero Pálido" (Hiệp Sĩ trắng).[11]

Sự nghiệp câu lạc bộSửa đổi

FC BarcelonaSửa đổi

Sự nghiệp ban đầuSửa đổi

Iniesta đến từ Fuentealbilla, một ngôi làng nhỏ ở tỉnh Albacete, Castile-La Mancha, nơi anh chủ yếu chơi futsal do không có sân bóng trong làng.[12] Năm 12 tuổi, khi thi đấu cho Albacete Balompié ở một giải đấu trẻ đá sân bảy người ở Albacete, anh đã thu hút sự chú ý của các tuyển trạch viên từ các câu lạc bộ trên khắp Tây Ban Nha.[13] Cha mẹ anh biết huấn luyện viên đội trẻ của Barcelona, Enrique Orizaola, và ông đã thuyết phục họ xem xét gửi Iniesta đến học viện đào tạo trẻ của Barcelona. Iniesta đã đến đó cùng cha mẹ và thăm La Masia, lò đào tạo nơi câu lạc bộ nuôi dưỡng các cầu thủ trẻ của mình; chuyến đi đó đã thuyết phục họ ghi danh Iniesta vào hàng ngũ trẻ của Barcelona.[14] Sau khi chứng kiến Andres ghi bàn trong trận chung kết đội trẻ, Pep Guardiola đã nói với tiền vệ đồng hương Xavi rằng: " Cậu sẽ khiến tôi phải giải nghệ. Nhưng cậu nhóc này sẽ khiến tất cả chúng ta về vườn".[15]

2004–08Sửa đổi

 
Iniesta với Barcelona vào năm 2006.

mùa giải 2004–05, Iniesta ra sân ở 37 trong số 38 trận đấu tại giải quốc gia - nhiều hơn bất kỳ cầu thủ nào khác - mặc dù 25 trận trong số này là những lần ra sân từ băng ghế dự bị. Anh ấy đã ghi hai bàn khi Barcelona vô địch La Liga.[16] Chấn thương của Xavi ở đầu mùa giải 2005–06 cho phép Iniesta ra sân thường xuyên hơn ở trung tâm hàng tiền vệ, và anh tiếp tục cải thiện và phát triển.[17] Anh đã thi đấu 11 trận UEFA Champions League, bao gồm cả lần ra sân ở hiệp hai trong trận chung kết năm 2006, để thay thế Edmílson.[18] Những đóng góp của anh cho đội bóng đã được huấn luyện viên Frank Rijkaard ca ngợi khi Barcelona giành cú đúp vô địch quốc gia và Champions League.[19]

Trong trận đấu loại trực tiếp đầu tiên của cùng một giải đấu, anh đã chơi ở vị trí tiền vệ trung tâm trong trận gặp Liverpool. Mặc dù đã được huấn luyện viên Rijkaard di chuyển khắp sân, mùa giải 2006–07 vẫn là điểm số cao nhất của Iniesta cho đến nay. Mùa giải 2006–07 chứng kiến sự vươn lên của Iniesta và anh nhận được nhiều lời khen ngợi vì sẵn sàng chơi ở bất kỳ vị trí nào cho đội của mình. Iniesta lần đầu tiên thi đấu ở vị trí tiền đạo cánh trái cho Barça trong hai trận đấu với Levski SofiaChampions League, ghi hai bàn. Ở vòng đấu loại trực tiếp đầu tiên của giải đấu đó, anh đã thi đấu ở vị trí tiền vệ trung tâm trong trận gặp Liverpool. Mặc dù được huấn luyện viên Rijkaard thay đổi vị trí khắp sân, mùa giải 2006–07 vẫn là mùa giải ghi bàn nhiều nhất của Iniesta cho đến nay.

Với sự ra đi của Ludovic Giuly trước mùa giải 2007–08, Iniesta đã có thể chuyển chiếc áo số 24 sang số 8 ưa thích của anh.[20] Bất chấp những tin đồn về khả năng chuyển nhượng trước mùa giải,[21] anh đã gia hạn hợp đồng đến năm 2014 vào ngày 25 tháng 1 năm 2008,[22] với điều khoản mua đứt được nâng lên 150 triệu euro.[23] Don Balón, một thành viên của Tạp chí Thể thao châu Âu, đã chọn Iniesta là một trong những cầu thủ có phong độ ổn định nhất trong hai mùa giải trước của La Liga; anh đứng thứ năm ở mùa giải 2006–07 và thứ tư ở mùa giải 2007–08.[24][25] Anh cũng đứng thứ chín trong cuộc bầu chọn Cầu thủ xuất sắc nhất năm 2008 của FIFA, giành được tổng cộng 37 điểm.[26]

2008–09Sửa đổi

Ở đầu mùa giải 2008–09, vào tháng 9 năm 2008, Iniesta được bầu làm đội trưởng thứ tư sau Carles Puyol, Xavi và Víctor Valdés, theo thứ tự ưu tiên; cả bốn đều là sản phẩm của hệ thống trẻ Barcelona.[27] Màn trình diễn của anh trong suốt mùa giải đã được đánh giá cao, và anh đã nhận được sự tán dương ở cả Barcelona tại Camp Nou, cũng như từ những cổ động viên của đối thủ ở các trận đấu sân khách.[28] Một chấn thương ở chân vào giữa tháng 11 năm 2008 khiến Iniesta phải ngồi ngoài cho đến ngày 3 tháng 1; ban đầu dự kiến ​​sẽ trở lại trong sáu tuần, anh không muốn quay lại cho đến khi đạt thể trạng 100%. Khi trở lại thi đấu vào ngày 3 tháng 1, với tư cách vào sân thay người ở phút 65 trong trận gặp Mallorca, anh đã ghi một bàn thắng quan trọng chỉ sau mười phút trên sân và hoàn tất màn lội ngược dòng của Barcelona trước Camp Nou.[29] 3 ngày sau, anh làm đội trưởng Barcelona lần đầu tiên trong một trận đấu chính thức, chiến thắng 3-1 trước Atlético Madrid tại Vicente Calderón trong trận lượt đi vòng 16 đội Copa del Rey.

Iniesta dính chấn thương khác trong trận đấu trên sân nhà với Málaga, nhưng đã trở lại thi đấu cho trận lượt đi tứ kết Champions League trước Bayern München vào ngày 8 tháng 4, mà Barcelona thắng 4–0.[30] Anh đã ghi bàn gỡ hòa quan trọng ở phút bù giờ cuối cùng trong trận lượt về bán kết Champions League trước Chelsea, với một cú vẩy má ngoài bằng chân phải cách khung thành 23 mét, giành chiến thắng cặp đấu nhờ bàn thắng sân khách khi trận đấu kết thúc với tỷ số 1-1 tại Stamford Bridge.[31]

Bàn thắng của Iniesta vào lưới Chelsea đã đưa Barcelona vào chung kết ở Rome gặp đương kim vô địch Manchester United. Trước trận chung kết, huấn luyện viên Alex Ferguson của United đã xác định Iniesta là mối đe dọa lớn nhất của Barça: "Anh ấy thật tuyệt vời. Anh ấy khiến đội bóng vận hành. Cách anh ấy tìm thấy những đường chuyền, cách di chuyển và khả năng tạo khoảng trống của anh ấy thật đáng kinh ngạc. Anh ấy rất quan trọng đối với Barcelona."[32] Mặc dù bị chấn thương đùi, Iniesta đã ra sân và có ảnh hưởng trong trận đấu, cung cấp đường kiến tạo cho bàn thắng đầu tiên do Samuel Eto'o ghi bàn khi đội của anh sau đó giành chiến thắng 2–0.[33] Trong bài phân tích của mình, David Pleat viết: "Cuối cùng thì nghệ thuật tiền vệ của Iniesta và Xavi, được hỗ trợ bởi [Lionel] Messi, là nhân tố quan trọng."[34] Sau trận đấu, tiền đạo Wayne Rooney của United đã mô tả Iniesta là cầu thủ xuất sắc nhất trên thế giới.[35]

Iniesta đã nhận được những lời khen ngợi cho màn trình diễn của anh trong mùa giải đó; Don Balón đánh giá anh là cầu thủ có phong độ ổn định nhất của giải đấu.[36] Cuối năm đó, anh đứng thứ năm cho danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất năm 2009 của FIFA với 134 phiếu bầu,[37] và đứng thứ tư cho giải thưởng Quả bóng vàng, nhận được 149 điểm.[38] Barcelona đã gia hạn hợp đồng của anh thêm một năm, cho đến năm 2015 và nâng điều khoản mua đứt của anh lên 200 triệu euro.[39]

2009-12Sửa đổi

Barcelona đã giành chức vô địch giải đấu thứ hai liên tiếp trong mùa giải 2009–10, với kỷ lục 99 điểm. Tuy nhiên, về mặt cá nhân, Iniesta đã phải trải qua một giải đấu phần lớn bị gián đoạn do chấn thương tái phát. Anh đã bỏ lỡ buổi tập thể lực trước mùa giải vì vết rách ở đùi trong trận chung kết Champions League 2009[40]. Mặc dù góp mặt trong hầu hết các trận đấu so với mùa giải trước, anh ngồi ở ghế dự bị, chỉ với 20 trận trong suốt mùa. Mùa giải của Iniesta kết thúc sớm vào tháng 4 sau khi anh ấy bị chấn thương bắp chân trầm trọng hơn trong quá trình tập luyện.[41]

Iniesta bắt đầu mùa giải 2011–12 bằng việc ghi bàn mở tỷ số trong trận lượt về Supercopa de España trước đối thủ Real Madrid.Barcelona tiếp tục giành chiến thắng với tỷ số 3–2 và cúp quốc gia với tổng tỷ số 5–4. Một trong những bàn thắng đẹp nhất của anh ấy là vào tháng 10 vào lưới Viktoria Plzeň ở vòng bảng Champions League sau một đường chuyền của Messi. Iniesta đã chơi kỷ lục 51 trận bất bại ở La Liga, kết thúc bằng trận thua 2–0 của Barcelona trước Mallorca vào ngày 24 tháng 3[42].  Tại Champions League, anh ghi một bàn thắng quan trọng vào lưới Milan ở tứ kết. Từ đó, anh tiếp tục ghi bàn trong trận bán kết với Chelsea để nâng tỷ số lên 2–0, nhưng trận đấu kết thúc với tỷ số 2–2, loại đội của anh với tổng tỷ số 3–2. Vào cuối năm đó, vào ngày 25 tháng 11, Iniesta được mệnh danh là cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu sau khi ghi một bàn và cung cấp ba đường kiến ​​tạo trong chiến thắng 4–0 trước Levante[43]. Màn trình diễn của Iniesta đã mang về cho anh ấy vị trí thứ ba trong cuộc bầu chọn Quả bóng vàng FIFA 2012.[44]

2013-18Sửa đổi

Iniesta tiếp tục kí hợp đồng với Barcelona đến năm 2018.[45] Với tư cách là đội phó, anh thường xuyên dẫn dắt Barça trong suốt chiến dịch giành cú ăn ba thứ hai của câu lạc bộ trong mùa giải 2014–15, và chính thức trở thành đội trưởng sau sự ra đi của Xavi. Iniesta ghi ba bàn trong chiến dịch Copa del Rey của đội[46], và là cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu trong trận Chung kết UEFA Champions League 2015, sau khi kiến ​​tạo bàn mở tỷ số của Ivan Rakitić trong trận thắng 3-1 trước nhà vô địch Ý Juventus tại Berlin[47]. Chiến thắng tại châu Âu của họ khiến Barcelona trở thành câu lạc bộ đầu tiên trong lịch sử giành được hai lần cú ăn ba vô địch quốc nội, Iniesta nằm trong số bảy cầu thủ góp mặt trong cả hai lần đội giành cú ăn ba.[48]

Sự nghiệp quốc tếSửa đổi

2001-08Sửa đổi

Iniesta bùng nổ trên đấu trường quốc tế vào năm 2001, giúp Tây Ban Nha giành chức vô địch UEFA châu Âu dưới 16 tuổi. Sau khi đại diện cho đất nước của mình tại Giải vô địch thế giới FIFA U-17 năm 2001 được tổ chức ở Trinidad và Tobago[49], anh đã có mặt trong đội hình giành chức vô địch UEFA châu Âu dưới 19 tuổi vào năm sau. Kể từ đó, anh trở thành sự lựa chọn thường xuyên của huấn luyện viên đội trẻ Juan Santisteban. Năm 2003, anh là một phần của đội lọt vào trận chung kết Giải vô địch trẻ thế giới của FIFA tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, và có tên trong đội toàn sao của FIFA[50]. Bên phía U21 Tây Ban Nha, Iniesta được bầu làm đội trưởng nhiều lần.

FIFA World Cup 2006 là lần đầu tiên Iniesta được triệu tập cho Đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha. Trong trận giao hữu với Nga ngày 27 tháng 5, anh lần đầu được góp mặt trên sân.[51] Bàn thắng đầu tiên của Iniesta sau trận giao hữu với Anh vào ngày 7 tháng 2 năm 2007. Nỗ lực sút xa của anh ấy, chạm vào mặt dưới của xà ngang trên đường vào, giúp Tây Ban Nha dẫn trước ở phút 63. Iniesta đóng vai trò quan trọng trong việc Tây Ban Nha tham dự VCK Euro 2008 bằng cách ghi bàn vào lưới Thụy Điển và hỗ trợ các tiền đạo.

2008-2018Sửa đổi

Năm 2010, Iniesta cùng các đồng đội của mình lần đầu tiên có mặt tại chung kết World Cup 2010 tại Nam Phi. Bàn thắng của anh ở phút bù giờ 116[52] đã giúp Tây Ban Nha lần đầu tiên vô địch World Cup và đồng thời lần đầu tiên một nước ở châu Âu vô địch World Cup nằm ngoài châu Âu[53]. "116" sau đó đã được anh đặt tên cho cho loại rượu vang của mình.[54] Iniesta đã bị một thẻ vàng vì cởi áo đấu trong lễ ăn mừng bàn thắng xuất thần của mình để tiết lộ thông điệp của anh với người bạn quá cố Daniel Jarque.[55]

Tại Euro 2012, anh được bầu chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu nhờ đóng góp giúp Tây Ban Nha vô địch.[56] Trong trận chung kết thắng 4-0 với Ý, anh được nhận giải Man of the Match.[57]

Sau kì World Cup 2018 không thành công của đội tuyển Tây Ban Nha (thất bại trước chủ nhà Nga với tỉ số 3-4 ở loạt sút luân lưu 11m sau khi hai đội hòa 1-1 suốt 120 phút thi đấu chính thức), Iniesta tuyên bố giã từ đội tuyển quốc gia sau 14 năm gắn bó, tổng cộng anh đã thi đấu 131 trận và ghi được 13 bàn thắng.

Đời tưSửa đổi

Iniesta kết hôn với Anna Ortiz; cặp đôi bắt đầu hẹn hò vào năm 2008 và kết hôn vào ngày 8 tháng 7 năm 2012.[58] Họ có hai con gái, Valeria (sinh tháng 11 năm 2011) và Siena (sinh tháng 5 năm 2017), và hai con trai, Paolo Andrea (sinh tháng 5 năm 2015)[59] và Romeo (sinh tháng 6 năm 2019)[60] Họ mất một đứa con chưa sinh, con trai Andrés Jr., do sẩy thai vào tháng 3 năm 2014.[61]

Vào năm 2011, Iniesta đầu tư 420.000 Euro vào câu lạc bộ thời thơ ấu của anh, Albacete, qua đó trở thành cổ đông lớn của câu lạc bộ.[62] Hai năm sau, với việc câu lạc bộ đối mặt với việc bị đẩy xuống hạng tư của bóng đá Tây Ban Nha, anh cho họ mượn thêm 240.000 Euro để lo việc trả lương.[63]

Vào tháng 5 năm 2018, Iniesta tiết lộ với Risto Mejide rằng anh phải chịu đựng sự trầm cảm trước khi tham dự FIFA World Cup 2010 do chấn thương và cái chết của Daniel Jarque.[64][65]

Thống kê sự nghiệpSửa đổi

Tính đến ngày 20 tháng 5 năm 2018[66]

Câu lạc bộ Mùa giải Giải Cúp Châu Âu Khác[67] Tổng cộng
Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Barcelona B 2000–01 10 0 10 0
2001–02 30 2 30 2
2002–03 14 3 14 3
Tổng cộng 54 5 54 5
Barcelona 2002–03 6 0 0 0 3 0 9 0
2003–04 11 1 3 1 3 0 17 2
2004–05 37 2 1 0 8 0 46 2
2005–06 33 0 4 0 11 1 1 0 49 1
2006–07 37 6 6 1 8 2 5 0 56 9
2007–08 31 3 7 0 11 1 49 4
2008–09 26 4 6 0 11 1 43 5
2009–10 29 1 3 0 9 0 1 0 42 1
2010–11 20 7 4 0 5 0 1 0 30 7
2011–12 27 2 6 2 9 3 4 1 46 8
2012–13 31 3 5 2 10 1 2 0 48 6
2013–14 35 3 6 0 9 0 2 0 52 3
2014–15 24 0 7 3 11 0 42 3
2015–16 28 1 4 0 8 0 44 1
2016–17 23 0 5 0 8 1 1 0 37 1
2017–18 30 1 5 1 8 0 1 0 44 2
Tổng cộng 442 35 73 10 135 11 24 1 674 57
Tổng cộng sự nghiệp 496 40 73 10 135 11 24 1 728 62

Đội tuyển quốc giaSửa đổi

Tính đến 1 tháng 7 năm 2018.[68]
Đội tuyển quốc gia Năm Trận Bàn
Tây Ban Nha 2006 8 0
2007 12 5
2008 14 1
2009 5 0
2010 15 3
2011 9 1
2012 14 1
2013 17 0
2014 8 1
2015 5 1
2016 8 0
2017 8 1
2018 8 0
Tổng cộng 131 13

Bàn thắng quốc tếSửa đổi

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 7 tháng 2 năm 2007 Old Trafford, Manchester, Anh   Anh 1–0 1–0 Giao hữu quốc tế
2. 28 tháng 3 năm 2007 Sân vận động ONO, Palma de Mallorca, Tây Ban Nha   Iceland 1–0 1–0 Vòng loại Euro 2008
3. 8 tháng 9 năm 2007 Laugardalsvöllur, Reykjavík, Iceland   Iceland 1–0 1–0
4. 17 tháng 11 năm 2007 Sân vận động Santiago Bernabéu, Madrid, Tây Ban Nha   Thụy Điển 2–0 3–0
5. 15 tháng 10 năm 2008 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ   Bỉ 1–1 2–1 Vòng loại World Cup 2010
6. 25 tháng 6 năm 2010 Sân vận động Loftus Versfeld, Pretoria, Nam Phi   Chile 2–0 2–1 World Cup 2010
7. 11 tháng 7 năm 2010 Soccer City, Johannesburg, Nam Phi   Hà Lan 1–0 1–0
8. 12 tháng 10 năm 2010 Hampden Park, Glasgow, Scotland   Scotland 2–0 3–2 Vòng loại Euro 2012
9. 2 tháng 9 năm 2011 AFG Arena, St. Gallen, Thụy Sĩ   Chile 1–2 3–2 Giao hữu
10. 29 tháng 2 năm 2012 Sân vận động La Rosaleda, Málaga, Tây Ban Nha   Venezuela 1–0 5–0
11. 30 tháng 5 năm 2014 Sân vận động Ramón Sánchez Pizjuán, Sevilla, Tây Ban Nha   Bolivia 2–0 2–0
12. 5 tháng 9 năm 2015 Sân vận động Carlos Tartiere, Oviedo, Tây Ban Nha   Slovakia 2–0 2–0 Vòng loại Euro 2016
13. 11 tháng 11 năm 2017 Sân vận động La Rosedela, Málaga, Tây Ban Nha   Costa Rica 5–0 5–0 Giao hữu

Danh hiệuSửa đổi

Câu lạc bộSửa đổi

BarcelonaSửa đổi

Vissel KobeSửa đổi

Quốc tếSửa đổi

U-16 Tây Ban NhaSửa đổi

U-19 Tây Ban NhaSửa đổi

Tây Ban NhaSửa đổi

Cá NhânSửa đổi

  • UEFA Euro Team of the Tournament: 2008, 2012
  • La Liga Best Spanish Player: 2009
  • La Liga Best Midfielder: 2009, 2011, 2012, 2013, 2014
  • FIFA FIFPro World11: 2009, 2010, 2011, 2012, 2013, 2014, 2015, 2016, 2017
  • UEFA Team of the Year: 2009, 2010, 2011, 2012, 2015, 2016
  • Onze de Bronze: 2009
  • FIFA World Cup Dream Team: 2010
  • UEFA Champions League top assist provider: 2010–11
  • ESM Team of the Year: 2010–11, 2017–18
  • Onze d'Argent: 2011
  • Marca Legend Award: 2011
  • UEFA Best Player in Europe Award: 2012
  • UEFA Euro Player of the Tournament: 2012
  • IFFHS World's Best Playmaker: 2012, 2013
  • IFFHS World Team of the Decade 2011–2020
  • IFFHS UEFA Team of the decade 2011–2020
  • FIFA Confederations Cup Silver Ball: 2013
  • La Liga top assist provider: 2012–13
  • Golden Foot: 2014
  • UEFA Champions League Squad of the Season: 2014–15, 2015–16
  • UEFA Ultimate Team of the Year (published 2015)
  • FIFA Club World Cup Bronze Ball: 2015
  • France Football World XI: 2015
  • La Liga Team of the Season: 2015–16
  • UEFA Euro All-time XI (published 2016)
  • J.League Best XI: 2019, 2021
  • Ballon d'Or Dream Team (Bronze): 2020

Khác

  • Prince of Asturias Awards: 2010
  • Gold Medal of the Royal Order of Sporting Merit: 2011
  • Queen Sofia Award: 2017
  • Grand Cross of the Royal Order of Sports Merit: 2018

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a b c “FIFA World Cup South Africa 2010: List of Players: Spain” (PDF). FIFA. ngày 4 tháng 6 năm 2010. tr. 29. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2013.
  2. ^ “The 10 Greatest Midfielders In Football History Have Been Named And Ranked”. www.sportbible.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2021.
  3. ^ HS, Shreyas (ngày 12 tháng 2 năm 2021). “10 greatest midfielders of all time”. www.sportskeeda.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2021.
  4. ^ Rogers, Joshua (ngày 21 tháng 5 năm 2018). “Vote on where Iniesta ranks among the greatest midfielders of all time”. mirror (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2021.
  5. ^ "Iniesta Profile" Lưu trữ 2021-01-02 tại Wayback Machine. ESPN. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2014
  6. ^ “Iniesta pips Messi and Ronaldo to UEFA Best Player in Europe award – CNN.com”. CNN. ngày 31 tháng 8 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2013.
  7. ^ Rice, Simon (ngày 9 tháng 1 năm 2013). “Fifa Ballon d'Or: Andres Iniesta and the best players never to win the award”. The Independent. London. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2017.
  8. ^ “Guillem Balague debates whether Barcelona star Andres Iniesta is better than former Real Madrid man Zinedine Zidane”. Sky Sports. ngày 18 tháng 2 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2013.
  9. ^ Omnisport (ngày 11 tháng 5 năm 2020). “Happy birthday, Andres Iniesta – The greatest player in Spain's history”. www.sportskeeda.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2021.
  10. ^ Ajith, Shambhu (ngày 6 tháng 6 năm 2021). “5 greatest Spanish players of all time”. www.sportskeeda.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2021.
  11. ^ “El caballero pálido de Fuentealbilla ". Elperiodico.com. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2012”.
  12. ^ Futsalfeed.com (ngày 14 tháng 3 năm 2020). "Top 10 Footballers Who Played Futsal! Lưu trữ 2020-11-06 tại Wayback Machine", "futsalfeed.com". Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2020.
  13. ^ "Iniesta: the Spanish matador Lưu trữ 2015-01-20 tại Wayback Machine", ngày 28 tháng 10 năm 2003, FIFA.com.
  14. ^ Brown, Lucas (ngày 27 tháng 10 năm 2008). "Madrid Red Light Let Iniesta Leave For Barça Lưu trữ 2014-08-24 tại Wayback Machine", goal.com. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2010.
  15. ^ “Iniesta Profile" Archived ngày 2 tháng 1 năm 2021 at the Wayback Machine. ESPN. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2014”.
  16. ^ “Andrés Iniesta”. Soccernet.espn.go.com. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2012.
  17. ^ "Iniesta, Barcelona's quiet man Lưu trữ 2013-12-07 tại Wayback Machine", ngày 7 tháng 11 năm 2006, FIFA.com. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2010.
  18. ^ "Barcelona 2–1 Arsenal" Lưu trữ 2017-09-02 tại Wayback Machine, ngày 17 tháng 5 năm 2006, BBC Sport. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2010.
  19. ^ “Andres Iniesta”. Fc.barcelona.com. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2012.
  20. ^ "Iniesta is Barça's new number 8", ngày 19 tháng 7 năm 2007, fcbarcelona.cat. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2010. (tiếng Tây Ban Nha)
  21. ^ JOSÉ VICENTE HERNÁEZ (ngày 19 tháng 7 năm 2007). "El Real Madrid va a por Iniesta Lưu trữ 2011-07-14 tại Wayback Machine", Marca. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2010. (tiếng Tây Ban Nha)
  22. ^ “Pre-Madrid renewal nothing new to Iniesta”. Fcbarcelona.com. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2012.
  23. ^ Leong, KS (ngày 5 tháng 6 năm 2009). "Barcelona Set To Extend Puyol's Stay & Improve Iniesta's Contract Lưu trữ 2012-10-16 tại Wayback Machine", goal.com . Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2010.
  24. ^ donbalon.com. “Ranking db 2006–2007”. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2007.
  25. ^ www.donbalon.com. “Ranking DB 07-08”. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2008.
  26. ^ fifa.com. “FIFA World Player Gala 2008” (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2009.
  27. ^ “Four home-grown captains”. Fcbarcelona.com. ngày 23 tháng 9 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2012.
  28. ^ Goal.com. “Player Ratings: Almeria 0–2 Barcelona”. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2009.
  29. ^ Goal.com. “Iniesta Enjoys Barcelona Return Against Mallorca”. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2008.
  30. ^ Cheese, Caroline (ngày 8 tháng 4 năm 2009). “Barcelona 4-0 Bayern Munich”. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2020.
  31. ^ McNulty, Phil (ngày 6 tháng 5 năm 2009). "Chelsea 1–1 Barcelona (agg 1–1) Lưu trữ 2009-05-05 tại Wayback Machine", BBC Sport. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2010.
  32. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Lowe
  33. ^ McCarra, Kevin (ngày 27 tháng 5 năm 2009). "Manchester United fold without a fight as Barcelona claim Champions League Lưu trữ 2013-01-26 tại Wayback Machine", The Guardian. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2010.
  34. ^ Pleat, David (ngày 28 tháng 5 năm 2009). "Middle men to the fore in dictating the rhythm with care Lưu trữ 2017-01-18 tại Wayback Machine", The Guardian. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2010.
  35. ^ Mole, Giles (ngày 28 tháng 5 năm 2009). ""Manchester United v Barcelona: Wayne Rooney backs Andres Iniesta for Ballon d'Or" Lưu trữ 2018-02-12 tại Wayback Machine, The Daily Telegraph. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2010.
  36. ^ “La Liga 2008-09 season”. Don Balon. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009.[liên kết hỏng]
  37. ^ “Lionel Messi Wins FIFA World Player of the Year Award”. Goal.com. ngày 22 tháng 12 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2009.
  38. ^ “Classement 2009”. France Football (bằng tiếng Pháp). Groupe Amaury. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2013.
  39. ^ “FCBarcelona.cat”. ngày 29 tháng 7 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2012.
  40. ^ "Iniesta: "No me veo para jugar 90 minutos"". RTVE.es. ngày 10 tháng 9 năm 2009. Archived from the original on ngày 1 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2010”.
  41. ^ "FCBarcelona.cat". Fcbarcelona.com. ngày 13 tháng 4 năm 2010. Archived from the original on ngày 16 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2010”.
  42. ^ “Philip Mboya (ngày 18 tháng 3 năm 2012). "Iniesta Equals Butragueno's 50 Match Unbeaten Streak". Soccerticketsonline.com. Archived from the original on ngày 2 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2012”.
  43. ^ ["Levante 0–4 Barcelona Match Report". Goal. (ngày 25 tháng 11 năm 2012). Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2012. “"Levante 0–4 Barcelona Match Report". Goal. (ngày 25 tháng 11 năm 2012). Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2012”] Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp).
  44. ^ "Messi, Ronaldo and Iniesta named on 2012 FIFA Ballon d'Or shortlist" Archived ngày 2 tháng 1 năm 2021 at the Wayback Machine, [1] Archived 12 January”.
  45. ^ "Rosell announces new Iniesta contract until 2018". FC Barcelona. ngày 19 tháng 12 năm 2013. Archived from the original on ngày 2 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2013”.
  46. ^ "8 Andrés Iniesta". Fox Sports. Archived from the original on ngày 2 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2015”.
  47. ^ "Barcelona see off Juventus to claim fifth title". UEFA. ngày 6 tháng 6 năm 2015. Archived from the original on ngày 31 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2015”.
  48. ^ "Barça make history with second treble!". FC Barcelona. ngày 6 tháng 6 năm 2015. Archived from the original on ngày 7 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2015”.
  49. ^ "FIFA U-17 World Championship Trinidad and Tobago 2001". FIFA.com. Archived from the original on ngày 16 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2015”.
  50. ^ "Andres INIESTA". FIFA. Bảngốclưu trữngày 12 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2014”. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2021.
  51. ^ "Andres INIESTA". FIFA. Bảngốclưu trữngày 12 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2014”. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2021.
  52. ^ “Theo The Guardian”.
  53. ^ “Iniesta sinks Dutch with late strike”. ESPN Soccernet. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2011.
  54. ^ "116".
  55. ^ "Chung kết World Cup: Cầu thủ ghi bàn thắng cho Tây Ban Nha Andres Iniesta dành sự tôn vinh cho Dani Jarque với áo phông". The Daily Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 201”.
  56. ^ http://www.uefa.com/uefa/mediaservices/mediareleases/newsid=1838241.html. |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  57. ^ http://sportsillustrated.cnn.com/2012/writers/ben_lyttleton/07/01/euro-2012-awards-spain-iniesta-italy-mario-balotelli/index.html#ixzz1zR4cbZ13. |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  58. ^ “Iniesta caps Euro 2012 winning week with wedding”. San Francisco Chronicle. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2012.
  59. ^ “Happy times: Andres Iniesta and Anna Ortiz have a second child!”. Sport. ngày 1 tháng 6 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2016.
  60. ^ “Nace Romeo Iniesta, el cuarto hijo de Andrés Iniesta”. Culé Manía. ngày 21 tháng 6 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2021.
  61. ^ Cabezas, Francisco (ngày 23 tháng 9 năm 2016). “El sueño de Iniesta”. El Mundo (bằng tiếng Tây Ban Nha). Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2016.
  62. ^ Ciriza, A. (ngày 6 tháng 12 năm 2011). “Iniesta throws 420,000-euro lifeline to indebted Albacete”. El País. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2014.
  63. ^ “Iniesta loans Albacete 240,000 euros to prevent relegation”. as.com. EFE. ngày 28 tháng 6 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2014.
  64. ^ “Andrés Iniesta conmueve a todos hablando de cómo salió de "pozo" en el que cayó”. Lecturas (bằng tiếng Tây Ban Nha). RBA. ngày 28 tháng 5 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2018.
  65. ^ “Andrés Iniesta confiesa a Risto Mejide que sufrió una depresión antes de ir al Mundial”. Hola! (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 28 tháng 5 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2018.
  66. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên espnstats
  67. ^ Bao gồm các giải đấu Siêu cúp bóng đá Tây Ban Nha, Siêu cúp bóng đá châu Âu, FIFA Club World Cup
  68. ^ “A. Iniesta matches and goals (SEFutbol.com)”. http://www.sefutbol.com/. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2014. Liên kết ngoài trong |publisher= (trợ giúp)

Liên kết ngoàiSửa đổi